VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN
VỀ QUYỀN DÂN TỘC TỰ QUYẾT TRONG GIẢI QUYẾT CÁC
MỐI QUAN HỆ DÂN TỘC Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
Trên thế giới hiện nay vấn đề dân tộc đang hết sức nóng bỏng và diễn biến
phức tạp, mang tính thời sự sâu sắc, là nguyên nhân chủ yếu gây ra tình trạng bất
ổn ở một số nước và khu vực. Các thế lực phản động quốc tế đã và đang triệt để lợi
dụng sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa tộc người kích động chia rẽ, ly
khai dẫn tới nhiều cuộc xung đột đẫm máu mang màu sắc dân tộc cực đoan ở một
số quốc gia trên thế giới. Quán triệt những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin về vấn đề dân tộc và quyền dân tộc tự quyết; ngay từ đầu, Đảng ta và Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã đề ra những nguyên tắc và định hướng chiến lược về giải
quyết mối quan hệ dân tộc ở Việt Nam, đó là đoàn kết, bình đẳng, tương trợ giữa các
dân tộc. Có thể khẳng định chính sách giải quyết các mối quan hệ dân tộc của Đảng
ta luôn được quán triệt và triển khai thực hiện nhất quán trong mọi thời kỳ. Tuy
nhiên, trong mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể, vấn đề dân tộc của Đảng luôn được bổ
sung, hoàn thiện đáp ứng yêu cầu thực tiễn và sự phát triển của đất nước.
1. Quan điểm Mác - Lênin về quyền dân tộc tự quyết
Ngay từ những tác phẩm đầu tay “Những nguyên lý của chủ nghĩa cộng sản” và
“Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản" các nhà kinh điển C.Mác và Ph.Ănghen đã khẳng
định nguyên lý về vấn đề dân tộc. Các ông cho rằng các dân tộc gắn chặt với nhau
theo nguyên tắc liên minh sẽ nhất thiết phải hòa hợp với nhau và do đó sẽ mất đi bởi
sự gắn bó đó, cũng giống như các đẳng cấp và giai cấp khác nhau bị mất đi bởi việc
xóa bỏ nền tảng của nó là chế độ sở hữu tư nhân. Trên cơ sở đó, các ông đã khẳng
định: “Hãy xóa bỏ nạn người bóc lột người thì nạn dân tộc này bóc lột dân tộc khác
cũng sẽ bị xóa bỏ. Khi mà sự đối kháng giữa các giai cấp trong nội bộ dân tộc không
còn nữa thì sự thù địch giữa các dân tộc cũng đồng thời mất theo.”[7, tr.592-593]
1
Kế thừa quan điểm của C.Mác, Ph.Ănghen, tổng kết thực tiễn chủ nghĩa tư
bản giai đoạn cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, trong xây dựng Cương lĩnh dân tộc
cho giai cấp công nhân quốc tế, V.I.Lênin đã nhấn mạnh rằng: “Các dân tộc hoàn
nhau về tốc độ của sự phát triển dân tộc về thành phần dân tộc trong dân cư; về sự
phân bố dân cư... Trong điều kiện ấy, không thể nói đến việc khởi thảo Cương lĩnh
dân tộc của những người mácxít ở một nước nhất định nếu không tính đến tất cả
những điều kiện lịch sử chung và những điều kiện quốc gia cụ thể. Trong khi thừa
nhận sự bình đẳng về quyền lợi và quyền bình đẳng trong việc thành lập các quốc
gia dân tộc, giai cấp vô sản coi trọng và đặt sự liên hợp của những người vô sản tất
cả các dân tộc lên trên hết, phải đứng trên phương diện đấu tranh giai cấp của công
nhân mà đánh giá mọi yêu sách dân tộc, mọi sự phân lập có tính dân tộc.
Trong vấn đề thực hiện quyền dân tộc tự quyết khi mà chủ nghĩa đế quốc
đang áp đặt sự nô dịch của nó đối với các dân tộc thuộc địa, theo Lênin về nguyên
tắc phải phân biệt hai xu hướng:
- Xu hướng thứ nhất là: chừng nào mà giai cấp tư sản của dân tộc bị áp bức
đấu tranh chống lại dân tộc đi áp bức, thì chừng ấy chúng ta luôn ủng hộ họ trong
mọi trường hợp mà ủng hộ cương quyết hơn ai hết, vì chúng ta là kẻ thù dũng cảm
nhất và triệt để nhất của sự áp bức.
- Xu hướng thứ hai: chừng nào mà giai cấp tư sản của dân tộc bị áp bức ủng
hộ chủ nghĩa dân tộc tư sản của riêng họ, thì chừng ấy chúng ta phản đối. Đấu
tranh chống những đặc quyền và những hành vi bạo lực của dân tộc đi áp bức;
không mảy may dung thứ dân tộc bị áp bức mưu tìm những đặc quyền.
Trong vấn đề dân tộc, đó là chính sách thực tiễn duy nhất, chính sách nguyên
tắc, chính sách thật sự tạo điều kiện thuận lợi cho dân chủ, cho sự liên hợp những
người vô sản. Phải đứng trên quan điểm gạt bỏ mọi bất bình đẳng, mọi đặc quyền,
mọi tính bản vị mà đánh giá mỗi vấn đề cụ thể có liên quan đến sự phân lập. Chỉ
khi nào các dân tộc bị áp bức đấu tranh tự thoát khỏi sự nô dịch dân tộc do chủ
3
nghĩa đế quốc áp đặt, khi ấy họ mới giành được quyền tự do, có được quyền tự
Quyền tự do phân lập là tiền đề để thực hiện quyền tự do liên minh. Chỉ khi nào
các dân tộc bị áp bức đấu tranh tự giải phóng mình khỏi sự áp bức, nô dịch của chủ
nghĩa để quốc, thoát khỏi tình trạng thuộc địa, bị chủ nghĩa đế quốc thống trị, khi
ấy, các dân tộc mới có thể thực hiện được quyền tự do liên minh. Chỉ khi nào các
dân tộc thuộc địa giành được quyền độc lập dân tộc, khi ấy mới có quyền liên minh
tự nguyện với các dân tộc khác trên cơ sở hoàn toàn bình đẳng giữa các dân tộc;
giữa các quốc gia dân tộc, loại trừ mọi đặc quyền và khắc phục được chủ nghĩa Sô
vanh dân tộc (dân tộc lớn) và chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi - những đặc trưng của
chính sách dân tộc tư sản - Lập trường dân tộc tư sản.
Sau cách mạng Tháng Mười Nga (1917), giai cấp công nhân Nga đã giành
được chính quyền, một bộ phận giai cấp công nhân quốc tế đã trở thành giai cấp
lãnh đạo sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện thực ở một nước là nước Nga
xô viết, Lênin đặt vấn đề về quyền dân tộc tự quyết trong điều kiện đó một cách cụ
thể và đi vào những vấn đề chi tiết về thái độ cũng như cương lĩnh của những
người cộng sản Nga và quốc tế. Cách mạng đã mở ra một kỷ nguyên phát triển
mới, kỷ nguyên quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn
thế giới. Trong cả tiến trình lịch sử quá độ đó, giai cấp công nhân luôn luôn đứng ở
vị trí trung tâm, là giai cấp tiên phong lãnh đạo cách mạng, là chủ thể thực hiện
cương lĩnh cách mạng, cương lĩnh dân tộc; đồng thời là lực lượng cách mạng mạnh
mẽ nhất, được coi là động lực cơ bản và chủ yếu nhất của cách mạng và là lực
lượng nòng cốt của phong trào cộng sản trong các dân tộc. Thực hiện gắn kết cách
mạng xã hội chủ nghĩa với sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc trong kỷ
nguyên mới, vấn đề dân tộc tự quyết trên nguyên tắc cơ bản các dân tộc hoàn toàn
bình đẳng được Lênin nhấn mạnh rõ ràng hơn. Trong điều kiện chủ nghĩa đế quốc
tiếp tục áp đặt sự nô dịch dân tộc đối với toàn bộ hệ thống thuộc địa của nó, Cương
lĩnh dân tộc của giai cấp công nhân quốc tế đòi hỏi phải tiếp tục ủng hộ phong trào
giải phóng dân tộc của các dân tộc bị áp bức - các dân tộc thuộc địa. Đối với Đảng
Cộng sản Nga (B) và những người cộng sản Nga, cùng với việc thừa nhận quyền
5
chủ trương xây dựng Liên bang các nước cộng hòa xô viết Châu Á và Châu Âu
bình đẳng; để không một dân tộc nào tham gia Liên bang cảm thấy bất bình đẳng
thì cần thiết phải xây dựng cơ cấu cán bộ dân tộc hợp lý trong hệ thống chính trị
của Liên bang.
Thực tiễn cho thấy, những nội dung về quyền dân tộc tự quyết được Lênin cụ
6
thể hóa trên đây đã được Đảng Cộng sản Liên xô thực hiện cơ bản thành công
trong gần một thế kỷ xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên xô, một số thành
tựu của nó đến nay đã trở thành di sản vô giá đối với dân tộc Nga cũng như các
nước trong cộng đồng các quốc gia độc lập (SNG). Tuy nhiên cũng có một số nội
dung chưa được thực hiện nhất quán trên một số địa bàn cụ thể, đến nay bị các thế
lực đối lập với chủ nghĩa xã hội lợi dụng để phát động xuyên tạc thành những
phong trào cực đoan, ly khai.
2. Sự vận dụng đúng đắn, sáng tạo của Đảng ta trong giải quyết các quan
hệ dân tộc ở Việt Nam hiện nay
* Những vấn đề có tính nguyên tắc vận dụng quan điểm của chủ nghĩa
Mác - Lênin về quyền dân tộc tự quyết trong giải quyết các quan hệ dân tộc ở
nước ta hiện nay
Nhận thức đúng quan điểm Mác - Lênin về quyền dân tộc tự quyết, vận dụng
sáng tạo và phát triển trong điều kiện cụ thể cách mạng Việt Nam, ngay từ những
ngày đầu đi tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã
khẳng định: Cách mạng Việt Nam nhất định phải thực hiện trong quỹ đạo cách
mạng vô sản. Trong kỷ nguyên cách mạng vô sản, con đường cách mạng Việt Nam
tất yếu phải thực hiện cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân dưới sự lãnh đạo của
Đảng Cộng sản, phát triển lên cách mạng xã hội chủ nghĩa; độc lập dân tộc gắn liền
với chủ nghĩa xã hội.
Với tư tưởng đó, vấn đề quyền dân tộc tự quyết đã được chủ tịch Hồ Chí Minh
vận dụng sáng tạo vào thực tiễn Việt Nam để xây dựng cương lĩnh cách mạng cho
lãnh thổ, tôn giáo, chủng tộc rất nhạy cảm nên dễ bị lợi dụng và dễ dẫn đến những
mâu thuẫn, xung đột giữa các tộc người, các quốc gia. Vì thế, giải quyết quan hệ
dân tộc là yêu cầu chung để ổn định, hoà bình, hợp tác, phát triển của từng tộc
người, từng quốc gia và của cả nhân loại.
Việt Nam là một quốc gia độc lập, thống nhất, đa dân tộc. Bởi vậy, ngay từ
8
khi mới thành lập Đảng và Nhà nước ta đã xác định giải quyết vấn đề dân tộc là
nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam. Vận dụng sáng tạo quan điểm của
chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc vào hoàn cảnh
cụ thể của nước ta, trong mỗi giai đoạn cách mạng, Đảng và Nhà nước luôn đề ra
chính sách để giải quyết quan hệ dân tộc đúng đắn, phù hợp, thể hiện tập trung
nguyên tắc “bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp nhau cùng phát triển” trong xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Giải quyết quan hệ dân tộc đã được Đảng ta đề ra ngay từ cương lĩnh đầu tiên,
tiếp tục được hoàn thiện và cụ thể hoá trong Nghị quyết của các đại hội Đại biểu
toàn quốc, với những nội dung phong phú phù hợp với từng thời kỳ cách mạng.
Sau khi miền Bắc giải phóng, cách mạng nước ta chuyển sang giai đoạn
mới, cùng một lúc thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: Xây dựng chủ nghĩa xã
hội ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất đất nước ở miền Nam. Trong Báo cáo
sửa đổi Hiến pháp 1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục khẳng định: Nước Việt
Nam là nước thống nhất gồm nhiều dân tộc, các dân tộc trên đất nước Việt
Nam đều bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ. Chính sách dân tộc của chúng ta
nhằm thực hiện sự bình đẳng giữa các dân tộc để cùng nhau tiến lên chủ nghĩa
xã hội.
Sau khi đất nước thống nhất, cả nước bước vào thời kỳ quá độ lên CNXH,
trong báo cáo chính trị Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV Đảng đã chỉ ra một cách
cụ thể hơn về giải quyết quan hệ dân tộc: “Chính sách dân tộc của Đảng là thực
hiện triệt để quyền bình đẳng về mọi mặt giữa các dân tộc, tạo những điều kiện
đổi mới, thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà
nước. Vị thế chính trị, đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các dân tộc thiểu
số từng bước nâng lên. Một số dân tộc đã phát triển ngang bằng với dân tộc Kinh
và hòa nhập với sự phát triển chung của đất nước. Trên một số lĩnh vực khoảng
cách giữa các dân tộc thiểu số, từng bước được thu hẹp.
Tuy nhiên, từ thực tế giải quyết vấn đề dân tộc ở nước ta những năm qua còn
bộc lộ những hạn chế bất cập, đặt ra cần tập trung giải quyết sau:
11
Thứ nhất, về các chính sách dân tộc
Chính sách dân tộc trong thời gian qua chủ yếu tập trung vào những vấn đề
đối nội, giải quyết những vấn đề dân tộc trong phạm vi quốc gia, trong khi chưa
quan tâm đúng mức đến vấn đề đối ngoại và hội nhập quốc tế để giải quyết vấn đề
quan hệ dân tộc. Chưa có một cơ chế chính sách đủ mạnh để tuyên truyền chủ
trương đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước ta và những thành
tựu đạt được về công tác dân tộc; chưa chủ động, thiếu đối sách và chậm ứng phó
trong việc chống lại luận điệu tuyên truyền của các thế lực phản động vu cáo,
xuyên tạc các chủ trương đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước
ta về các vấn đề dân tộc, tôn giáo, nhân quyền. Vấn đề tôn giáo ở các địa phương
vùng dân tộc trong thời gian gần đây gia tăng, có nhiều diễn biến phức tạp đã gây
ra những ảnh hưởng tiêu cực đến các mối quan hệ giữa dân tộc, nhưng các chính
sách giải quyết vấn đề dân tộc chưa gắn với chính sách tôn giáo.
Thứ hai, vấn đề giàu, nghèo và đất sản xuất
Những năm qua, Đảng và Nhà nước đã quan tâm đầu tư nhiều vào vùng dân
tộc thiểu số, tuy nhiên đây vẫn là vùng nghèo nhất của cả nước; khoảng cách giàu
nghèo ngày càng lớn, chênh lệch về thu nhập và đời sống của đồng bào dân tộc thiểu
số, miền núi so với vùng đồng bằng ngày càng gia tăng trong những năm gần đây.
Phần lớn đồng bào các dân tộc thiểu số sống tại các vùng khó khăn và đặc biệt khó
khăn. Một số dân tộc, đặc biệt là một số dân tộc ít người cư trú ở vùng cao, vùng sâu
Chất lượng nguồn nhân lực các dân tộc thiểu số nói chung, chất lượng, số
lượng cán bộ là người các dân tộc thiểu số thấp hơn so với mặt bằng chung và so
với người Kinh. Nhiều dân tộc chưa có cán bộ chủ chốt trong các cơ quan quản lý
nhà nước ở các cấp của chính quyền địa phương. Trình độ chuyên môn nhìn chung
còn thấp. Cán bộ là người dân tộc thiểu số chủ yếu công tác trong các cơ quan văn
hóa, thể thao, mặt trận, tổ chức hội. Tỷ lệ cán bộ dân tộc thiểu số giữ các chức vụ,
làm công tác chuyên môn về kế hoạch, tài chính, ngân hàng, công nghệ thông tin
13
còn thấp. Năng lực, hiệu quả thực thi công vụ hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu
quản lý nhà nước và xử lý các tình huống, nhất là các vấn đề phát sinh ở cơ sở.
Thứ năm, vấn đề chia tách, xác định lại thành phần, tên gọi một số dân tộc
Hiện nay, căn cứ pháp lý của Bản danh mục thành phần dân tộc nước ta có 54
dân tộc, trong đó có 53 dân tộc thiểu số. Tuy nhiên, thời gian gần đây nhiều địa
phương, cộng đồng và trí thức người dân tộc thiểu số đề nghị Nhà nước xác định
lại thành phần, tên gọi một số dân tộc. Việc xác định tên gọi, thành phần dân tộc là
một căn cứ quan trọng, để giải quyết quan hệ giữa các dân tộc, từ đó có người đại
diện, có tiếng nói của dân tộc mình trong các tổ chức chính trị, đoàn thể, xã hội và
thực hiện các chính sách bảo tồn văn hóa dân tộc,... Tuy nhiên, việc chia tách các
dân tộc thành quá nhiều dân tộc nếu không nhận thức và giải quyết đúng có thể
biểu hiện chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi và làm phát sinh các vấn đề phức tạp trong
quản lý xã hội đa tộc người như nước ta.
Thứ sáu, vấn đề truyền đạo trái phép, phát triển tôn giáo mới và các tệ nạn xã hội.
Trong bối cảnh quốc tế có nhiều biến động, đời sống đồng bào còn nhiều khó
khăn, lợi dụng chính sách mở cửa, chính sách dân tộc, tự do tôn giáo của Đảng và
Nhà nước ta, các thế lực thù địch tìm cách tranh thủ, lôi kéo đồng bào dân tộc theo
các tôn giáo mới, tập hợp lực lượng, kích động gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn
dân tộc, chống phá chế độ và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta.
Ở một số tỉnh miền núi tỷ lệ người nghiện ma túy khá cao. Tình trạng lây
lực xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; cho nên“hơn bao giờ hết, phải phát huy cao độ
lòng yêu nước, ý thức tự hào, tự tôn dân tộc, nêu cao ý chí và bản lĩnh dân tộc, giữ
vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, đoàn kết toàn Đảng, toàn
dân vì sự phát triển đất nước”[5, tr.222]. Đảng, Nhà nước cần đẩy mạnh phát triển
kinh tế - xã hội ở các vùng dân tộc để giảm sự chênh lệch về đời sống kinh tế, trình
độ văn hóa, đảm bảo bình đẳng giữa các dân tộc. Đồng thời, đề ra những biện pháp
nhằm chặn đứng âm mưu và hành động của các thế lực thù địch, củng cố an ninh,
15
quốc phòng, đưa đất nước tiến nhanh, vững chắc lên chủ nghĩa xã hội.
Hai là, nhận thức và giải quyết quan hệ dân tộc trên quan điểm giai cấp, kiên
trì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, đại đoàn kết dân tộc rộng rãi trên
nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức.
Giải quyết quan hệ dân tộc luôn đảm bảo lợi ích của các dân tộc về mọi mặt
trên cơ sở đẩy mạnh phát triển kinh tế, văn hoá, giáo dục... sao cho dân tộc nào
cũng được ấm no, hạnh phúc, nhất là các dân tộc ở vùng sâu vùng xa, vùng khó
khăn. Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII nêu lên:“đại đoàn kết toàn dân
tộc phải dựa trên cơ sở giải quyết hài hòa quan hệ lợi ích giữa các thành viên
trong xã hội; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân”[6, tr.
159]. Phát huy sức mạnh toàn dân tộc cũng như từng dân tộc theo nguyên tắc "bình
đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp đỡ nhau cùng phát triển”, đồng thời chống kỳ thị
dân tộc, chống tư tưởng dân tộc lớn, dân tộc hẹp hòi, cực đoan dân tộc, khắc phục
tư tưởng tự ti, mặc cảm dân tộc. Giải quyết thoả đáng mối quan hệ giữa các dân tộc
để tránh xung đột, hiềm khích dân tộc.
Để phát huy sức mạnh dân tộc phải đặt đoàn kết dân tộc lên hàng đầu,đoàn kết
dân tộc rộng rãi trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân
và đội ngũ trí thức, coi đó là nhiệm vụ chiến lược sống còn của cách mạng Việt
Nam. Bởi vì, trong giai đoạn cách mạng hiện nay, chỉ có đoàn kết mới có thể đứng
vững, mới tránh được thảm hoạ xung đột dân tộc, sắc tộc, tôn giáo... đó cũng là
riêng Việt Nam trong một quốc gia đa dân tộc, trong quá trình mở rộng và hội
nhập quốc tế nhằm đảm bảo cho sự ổn định và phát triển vững chắc đời sống kinh
tế - xã hội của đồng bào dân tộc và miền núi.
Các dân tộc ở nước ta chủ yếu sống ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo
nên có vô vàn khó khăn trở ngại trong phát triển kinh tế - xã hội. Mặt khác, mỗi
dân tộc ở nước ta đều có những đặc điểm riêng về điều kiện tự nhiên, phong tục
tập quán, tâm lý. do đó cũng có những yêu cầu phát triển khác nhau. Do vậy, giải
17
quyết quan hệ dân tộc phải phù hợp với đặc thù của các vùng và các dân tộc, nhất
là các dân tộc thiểu số. Để các dân tộc có điều kiện phát triển, phải xác định được
những công việc thiết thực phù hợp với đặc điểm và yêu cầu của từng dân tộc,
nhằm tạo bước đột phá nhưng vẫn đảm bảo là nền tảng vững chắc cho sự phát triển
kinh tế xã hội lâu dài, cần tránh những sai lầm rập khuôn và chủ quan áp đặt những
chính sách và hình thức tổ chức không phù hợp. Đồng thời, chính sách dân tộc
không chỉ tập trung vào những vấn đề đối nội, giải quyết những vấn đề dân tộc
trong phạm vi quốc gia mà cần quan tâm đúng mức đến vấn đề đối ngoại và hội
nhập quốc tế để giải quyết vấn đề quan hệ dân tộc. Khi thực hiện những chủ
trương, chính sách phải có sự theo dõi chặt chẽ, thường xuyên để đi đến kết quả
cuối cùng, tránh chung chung, nửa vời, nhưng cũng không nên chủ quan, nôn nóng
mà phải thận trọng, kiên trì.
Năm là, tăng cường hơn nữa khối đoàn kết dân tộc trên nguyên tắc "bình
đẳng, đoàn kết, tượng trợ giúp đỡ nhau cùng phát triển".
Giải quyết quan hệ dân tộc phải luôn luôn thấu triệt quan điểm “bình đẳng,
đoàn kết cùng phát triển” theo tinh thần đổi mới của Đảng và Nhà nước. Tinh thần
đoàn kết là sợi chỉ đỏ xuyên suốt chính sách dân tộc của Đảng. Trong giai đoạn
hiện nay, truyền thống đoàn kết tiếp tục được Đảng và Nhà nước ta nhấn mạnh và
bổ sung thêm những nội dung mới. Đoàn kết ở đây không phải là đoàn kết chung
chung mà là đoàn kết gắn với bình đẳng và phát triển giàu mạnh. Thực hiện chính
Đổi mới nội dung và phương pháp công tác dân vận ở vùng đồng bào dân tộc;
quán triệt phương châm: chân thành, tích cực, thận trọng, kiên trì, tế nhị, vững
chắc; sử dụng nhiều phương thức phù hợp với đặc thù của từng dân tộc, từng địa
phương. Cán bộ công tác ở vùng dân tộc, miền núi, vùng sâu, vùng xa phải quán
triệt và thực hiện thật tốt phong cách công tác dân vận: "Trọng dân, gần dân, hiểu
dân, học dân, có trách nhiệm với dân" luôn gắn chặt không tách rời với cách tiếp
cận dân "nghe dân nói, nói dân hiểu, làm dân tin".
Tóm lại: Hiện nay, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch không ngừng
thông qua cái gọi là “dân chủ”, “nhân quyền”, “quyền dân tộc tự quyết” để thực
19
hiện “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ đối với Việt Nam. Chúng đã dung túng,
tiếp tay cho bọn phản động người Việt ở hải ngoại; hỗ trợ, kích động, chỉ đạo các
phần tử phản động trong các dân tộc thiểu số ở trong nước tổ chức hoạt động
chống phá cách mạng nước ta. Hoạt động phá hoại của chúng đã gây không ít khó
khăn cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của chúng ta. Trong quá trình hội
nhập quốc tế, các thế lực thù địch tiếp tục lợi dụng vấn đề quan hệ dân tộc để
chống phá cách mạng Việt Nam. Lợi dụng những khó khăn về đời sống của đồng
bào dân tộc thiểu số, những thiếu sót trong việc thực hiện chính sách và một số yếu
kém của hệ thống chính trị cơ sở ở một số nơi để chống phá và gây mất ổn định
vùng dân tộc thiểu số. Vì vậy, phải nắm vững và vận dụng sáng tạo quan điểm của
Chủ nghĩa Mác – Lênin về quyền dân tộc tự quyết trong giải quyết các quan hệ dân
tộc ở nước ta; đó là quyền quyết định vận mệnh chính trị, đường hướng phát triển
của các dân tộc anh em và phải đặt vấn đề dân tộc một cách cụ thể về mặt lịch sử
trong thực hiện chiến lược xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Do đó, đòi hỏi toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta, nhất là lực lượng vũ trang cách
mạng phải nắm vững quan điểm, nguyên tắc và thực hiện đồng bộ các giải pháp cơ
bản trong giải quyết các quan hệ dân tộc ở nước ta trong sự nghiệp đổi mới. Không
ngừng nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, tỉnh táo, kịp thời phát hiện và chủ