TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ “ĐẢNG PHẢI ĐƯỢC THƯỜNG XUYÊN
CHỈNH ĐỐN”, VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI XÂY DỰNG
VÀ CHỈNH ĐỐN ĐẢNG TA HIỆN NAY
Chủ tịch Hồ Chí Minh là người sáng lập và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt
Nam thành một Đảng cách mạng chân chính, đội tiên phong của giai cấp công
nhân và dân tộc Việt Nam, để lãnh đạo nhân dân tiến hành thắng lợi cách mạng
giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã
hội. Trong di sản tư tưởng của Người để lại, những luận điểm của Người về xây
dựng và chỉnh đốn Đảng là một bộ phận cực kỳ quan trọng. Những luận điểm đó
được hình thành và phát triển cùng với cuộc đời hoạt động cách mạng của Người
và sự nghiệp cách mạng của dân tộc Việt Nam. Đó là sự sự vận dụng sáng tạo
học thuyết Mác - Lênin về Đảng Cộng sản vào điều kiện cụ thể của cách mạng
Việt Nam và sự kết hợp nhuần nhuyễn học thuyết đó với truyền thống bản sắc
văn hoá cuả dân tộc Việt Nam. Nghiên cứu, quán triệt và vận dụng sáng tạo tư
tưởng của Người để xây dựng, đổi mới và chỉnh đốn Đảng nhằm nâng cao năng
lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng trong thời kỳ mới là một trong những
nhiệm vụ then chốt của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta, có ý nghĩa quyết
định thắng lợi của sự nghiệp đổi mới đất nước vì mục tiêu: Dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Vấn đề thường xuyên đổi mới và chỉnh đốn Đảng được chính C.Mác,
Ph.Ăngghen và V.I.Lênin đề ra từ khi ra đời các đảng vô sản. C.Mác,
Ph.Ăngghen cho rằng, phong trào vô sản nhất thiết phải trải qua các bước phát
triển khác nhau, trong mỗi bước phát triển đó đều có một số người dừng lại, họ
không thể đi xa hơn nữa; vì thế, một trong những nhiệm vụ hàng đầu của đảng
vô sản là phải loại trừ những con người đó. V.I.Lênin đã kiên quyết đấu tranh và
2
đưa ra khỏi Đảng (thanh đảng) những phần tử cơ hội, những đảng viên thoái hoá,
biến chất, đi ngược lại mục đích của Đảng, lợi ích của giai cấp công nhân để bảo
Quốc đã nhiều lần khẳng định: Đảng Xã hội Pháp phải đứng vững trên lập
trường của giai cấp vô sản để lãnh đạo xã hội đấu tranh chống áp bức giai cấp,
áp bức dân tộc, đồng thời đảng phải tự phê phán, tự chỉnh đốn bản thân mình.
Nhiều lần, Nguyến Ai Quốc đã phê phán bệnh cơ hội hữu khuynh và thói “cách
mạng đầu lưỡi”, nói mà không làm của phái hữu trong Đảng Xã hội Pháp.
Nguyễn Ái Quốc đòi hỏi Đảng phải tự chỉnh đốn, phải thực sự sửa chữa sai lầm.
Ngay trong cuốn Đường cách mệnh năm 1925, thời kỳ dựng Đảng, Chủ
tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: Đảng “phải thường xuyên cả quyết sửa lỗi mình”.
Sau cách mạng Tháng Tám năm 1945, Đảng ta đã trở thành đảng cầm quyền,
việc xây dựng Đảng, chỉnh đốn Đảng lại được Người coi là công việc thường
xuyên của Đảng. Người nhìn thấy rất rõ hai mặt của quyền lực: một mặt, quyền
lực có sức mạnh rất to lớn để cải tạo cái cũ và xây dựng cái mới trong tất cả các
lĩnh vực của đời sống xã hội, nếu biết sử dụng đúng quyền lực; mặt khác, nó
cũng có sức phá hoại rất ghê gớm, vì con người nắm quyền lực có thể thoái hoá
biến chất rất nhanh chóng, nếu đi vào con đường tham muốn quyền lực, chạy
theo quyền lực, tranh giành quyền lực; và khi có quyền lực thì lợi dụng quyền
lực, lạm quyền, lộng quyền, đặc quyền đặc lợi, v.v.. Vì vậy Đảng phải đặc biệt
quan tâm đến việc chỉnh đốn và đổi mới Đảng để hạn chế, ngăn chặn, đẩy lùi và
tẩy trừ mọi tệ nạn do thoái hoá biến chất gây ra, trong điều kiện Đảng lãnh đạo
chính quyền. Trong thư Người gửi cho Uỷ ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện năm
1946; thư gửi các đồng chí Bác Bộ và Trung Bộ năm 1947; tháng 10 măn 1947,
Người đã viết tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” là những chỉ dẫn sâu sắc về xây
dựng và chỉnh đốn Đảng trong điều kiện đã có chính quyền.
Người đặc biệt quan tâm đến vấn đề này trước những bước chuyển của
cách mạng, vì đây là thời điểm thường có những bất cập, bên cạnh đó là những
chao đảo, suy thoái có thể xảy ra.
Ngày 18-1-1949, nói chuyện với Hội nghị cán bộ của Đảng lần thứ sáu,
Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu lên nhiệm vụ: phải “chấn chỉnh” bộ máy chính quyền,
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, Hà nội, 2000, Tập 5, tr. 551.
5
hưởng lạc, từ đó mà đi đến tham ô, truỵ lạc, thậm chí sa vào tội lỗi” 3. Phải chỉnh
đốn để tẩy rửa những lỗi lầm, sai trái ấy.
Đối với toàn Đảng, Người cũng chỉ ra là Đảng sống trong xã hội, mỗi cán
bộ, đảng viên đều chịu ảnh hưởng của xã hội, cả cái tốt và cái xấu, cái hay và cái
dở. Chỉ có thể phát huy được cái tốt, cái hay, lọc bỏ cái xấu, cái dở bằng việc rèn
luyện thường xuyên nâng cao đạo đức cách mạng, cần kiệm, liêm chính, chí
công vô tư của mỗi cán bộ, đảng viên, thường xuyên chú ý đến việc chỉnh đốn
Đảng. Trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành những dòng trân trọng và
đầy tâm huyết để dặn lại toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta những công việc
phải làm sau khi Tổ quốc thống nhất, trong đó có nhiệm vụ xây dựng và chỉnh
đốn Đảng. Người viết: “Theo ý tôi, việc cần phải làm trước tiên là phải chỉnh
đốn lại Đảng, làm cho mỗi đảng viên, mỗi đoàn viên, mỗi chi bộ đều ra sức làm
tròn nhiệm vụ Đảng giao phó cho mình, toàn tâm, toàn ý phục vụ nhân dân. Làm
được như vậy, thì dù công việc to lớn mấy, khó khăn mấy chúng ta cũng nhất
định thắng lợi”4.
Quá trình nghiên cứu tư tưởng về “Đảng phải được thường xuyên chỉnh
đốn” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng ta thấy rằng, đây vừa là sự trung thành,
vừa là sự phát triển sáng tạo tư tưởng “thanh đảng” của V.I.Lênin vào điều kiện
cụ thể xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam. Hồ Chí Minh chưa bao giờ dùng từ
“thanh đảng” mà người dùng từ “chỉnh đảng”. Tuy, việc sử dụng từ để trình bày
có khác nhau, song cùng có chung một ý nghĩa là nhằm xây dựng Đảng vững
mạnh chính trị, tư tưởng và tổ chức, đảm bảo cho Đảng luôn có đủ năng lực lãnh
đạo và sức chiến đấu đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ cách mạng, đặc biệt là trước
những bước ngoặt của nhiệm vụ cách mạng. Đồng thời, để không bị hiểu lầm là
sự “thanh trừng lẫn nhau” trong nội bộ Đảng. Người chỉ rõ: “Chỉnh Đảng là việc
chúng ta phải làm ngay.
liêu, mệnh lệnh đối với dân; điều gì có lợi cho dân, dù nhỏ, thì vẫn cố gắng làm,
điều gì có hại cho dân thì có tránh; Đảng phải dể cho dân kiểm tra, vv..
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng được Hồ Chí Minh coi là điều kiện cần và
đủ, là công việc thiết thực và thường xuyên. Khi cách mạng gặp khó khăn, việc
xây dựng Đảng được Người đề cập với thái độ bình tĩnh, sáng suốt, giúp cho
Đảng không rơi vào bị động, bi quan, dao động. Khi cách mạng đang trên đà
5
S.đ.d, Tập 6, tr. 465.
7
thắng lợi, Người vẫn nêu vấn đề “trước hết phải chỉnh đốn Đảng” để ngăn ngừa
bệnh “kiêu ngạo cộng sản”, choáng ngợp trước những chiến công vĩ đại mà chủ
quan, tự mãn. Khi Đảng trở thành Đảng cầm quyền, cán bộ, đảng viên của Đảng
dễ dàng “đánh mất mình”, “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm
qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn
được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa
vào chủ nghĩa cá nhân”6.
Chủ tịch Hồ Chí Minh còn chỉ ra rất cụ thể: “Có những người trong lúc
đấu tranh thì hăng hái, trung thành, không sợ nguy hiểm, không sợ cực khổ,
không sợ quân địch, nghĩa là có công với cách mạng. Song, đến khi có ít nhiều
quyền hạn trong tay thì đâm ra kiêu ngạo, xa xỉ, phạm vào tham ô, lãng phí, quan
liêu, không tự giác, mà biến thành người có tội với cách mạng” 7. Chính vì thế,
chỉnh đốn Đảng là khôi phục đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên và giáo
dục, đưa họ vào con đường cách mạng, là khôi phục uy tín chính trị của Đảng
đối với nhân dân - vấn đề cốt tử của đảng cầm quyền.
Những luận điểm trên đây thực sự là một chân lý phản ánh đúng thực tiễn
và đã được thực tiễn kiểm nghiệm, không phải chỉ thực tiễn nước ta, mà còn
nhiều nơi trên thế giới. Nó mãi mãi là lời cảnh tỉnh có ý nghĩa rất sâu xa đối với
nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật, dám công khai thừa
nhận khuyết điểm sai lầm trong công tác lãnh đạo, công khai vạch rõ những tệ
nạn đã có ở một bộ phận cán bộ, đảng viên, từ đó đề ra những biện pháp cần
thiết đẻ sửa chữa, khắc phục. Đó là thái độ của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh
đối với những sai lầm trong cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức vào nửa sau
những năm 50 của thế kỷ XX, cũng như đối với những suy thoái của cán bộ,
đảng viên ở những thời kỳ khác nhau. Đó là thái độ của Đảng ta đối với những
sai lầm về chủ trương chính sách lớn, về chỉ đạo chiến lựơc và tổ chức thực hiện
trong công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa trên phạm vi cả nước vào cuối những
năm 70, để từ đó Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (năm 1986) xác
định đường lối đổi mới toàn diện, mở ra một bước ngoặt cho sự phát triển của
đất nước ta.
Qua 5 năm thực hiên đường lối của Đại hội VI, Đảng ta đã kịp thời kiểm
định, đồng thời bổ sung và phát triển đường lối đó bằng việc thông qua các văn
9
kiện Đại hội VII (năm 1991). Đại hội xác định rằng: “Đảng phải vững mạnh về
chính trị, tư tưởng và tỏ chức, phải thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn” 8.
Như vậy, một vấn đề đặt ra là: muốn đổi mới toàn diện đất nước, Đảng phải tự
đổi mới, tự chỉnh đốn bản thân mình. Đảng ta là người khởi xướng và lãnh đạo
công cuộc đổi mới. Nhưng sẽ thất bại, nếu Đảng bị trì trệ tren nhiều mặt, không
ngang tầm với nhiệm vụ mới. Nếu không đổi mới và chỉnh đốn bản thân mình thì
đổi mới đất nước sẽ trở thành là khẩu hiệu suông. Đổi mới và chỉnh đốn Đảng,
do đó, trở thành một vấn đề cốt tử của cách mạng nước ta và là tư tưởng xuyên
suốt các văn kiện của Đại hội VII.
Cần khẳng định rằng, trong những năm đầu tiến hành công cuộc đổi mới,
Đảng ta đã cố gắng vươn lên để thực hiện sứ mệnh lãnh đạo nhân dân tiến hành
sự nghiệp xây dựng đất nước theo con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Chình
vì vậy, tại Đại hội VII, Đảng ta khẳng định: “công cuộc đổi mới đã đạt được
Đáng chú ý là tệ tham nhũng, buôn lậu, quan liêu và các tệ nạn khác đang diễn ra
mà chưa được ngăn chặn một cách hữu hiệu. Đó là sự vô trách nhiệm đối với đời
sống của nhân dân. những tệ nạn đó làm rạn nứt mối quan hệ giữa Đảng với dân.
Điều đáng chú ý là, ngay cả tổ chức cơ sở đảng, lẽ ra là gần dân nhất, vẫn mắc
bệnh quan liêu xa rời quần chúng, có nơi khá nghiêm trọng.
Đội ngũ cán bộ, đảng viên vẫn còn nhiều yếu kém, mặc dù đã có nhiều
thay đổi nhưng chưa tạo ra được chất lượng mới. Cơ chế tuyển chọn, bố trí, và
sử dụng cán bộ chưa chú ý đúng mức. Do vậy, số cán bộ có đủ phẩm chất và
năng lực đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới chưa nhiều. Đảng chưa thu hút
được tất cả nhân tài để bố trí vào những công việc quan trọng. Trong đội ngũ
đảng viên, bộ phận thật sự tiền phong, gương mẫu chưa cao. Trình độ, năng lực
của nhiều đảng viên còn hạn chế. Sự giác ngộ về lý tưởng của một bộ phận đảng
viên giảm sút đáng lo ngại. Tư tưởng hoài nghi, dao động trước tình hình chính
trị phức tạp trên thế giới không phải là ít. Một số đảng viên thoái hoá, biến chất.
Trước thực trạng đó, khi nêu lên yêu cầu đổi mới và chỉnh đốn Đảng,
chúng ta thấy rõ vấn đề then chốt là nâng cao vai trò lãnh đạo cũng như năng lực
và sức chiến đấu của Đảng, bảo đảm cho Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng
và tổ chức để có thể đưa đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội giành thắng lợi. Đổi
mới và chỉnh đốn bản thân mình, tức là Đảng phải phát huy ưu điểm, khắc phục
khuyết điểm, giữ vững và tăng cường mối quan hệ máu thịt với nhân dân, vững
11
vàng trước mọi thử thách, tiếp tục đưa công cuộc đổi mới đến thắng lợi. Đây là
vấn đề sống còn, có quan hệ ổn định và phát triển lâu dài của đất nước và vận
mệnh của bản thân Đảng ta. Đại hội VII của Đảng đã đề ra những nhiệm vụ mới
về chỉnh đốn Đảng được thể hiện rõ nhất trong Báo cáo xây dựng Đảng và sửa
đổi điều lệ Đảng. Các nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng sau
Đại hội VII cũng đã cố gắng cụ thể hoá và bổ sung, hoàn chỉnh đường lối, quan
điểm của Đảng ta, đặc biệt là Hội nghị lần thứ ba, chuyên bàn về một số vấn đề
tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng. Ở những bước ngoặt của cách
mạng, trước những diễn biến phức tạp của tình hình, Đảng đã kịp thời có điịnh
hướng tư tưởng chính trị đúng đắn, uốn nắn những nhận thức lệch lạc, chống
những luận điệu thù địch, tạo cơ sở cho sự thống nhất tư tưởng trong toàn Đảng
và trong nhân dân.
- Giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ
trách. Có tiến bộ về thực hiện dân chủ trong Đảng vaf lãnh đạo thực hiện dân
chủ trong xã hội, phát huy dược trí tuệ tập thể, sức mạnh tổng hợp của khối đại
đoàn kết toàn dân.
-Đã có chủ trương và biện pháp đổi mới, chỉnh đốn Đảng gắn với nhiệm
vụ phát triển kinh tế - xã hội, kiện toàn hệ thống chính trị. Đổi mới một bước tổ
chức cán bộ, nâng cao trình đọ và sức chiến đấu của đội ngũ đảng viên; ngăn
chặn được sự sa sút, yéu kém của nhiều tổ chức cơ sở đảng; bước đầu cải tiến
phương thức lãnh đạo và phông cách công tác. Công tác kiểm tra việc chấp hành
nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng, kiểm tra việc giữ gìn phảm chất đạo đức
lối sống của cán bộ, đảng viên và việc xử lý kỷ luật đangnr có tiến bộ.
Tuy nhiên, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng còn nhiều khuyết điểm, nổi
bật là những vấn đề lớn:
-Trong điều kiện cơ chế thị trường, kinh tế nhiều thành phần, mở cửa với
bên ngoài, cán bộ, đảng viên hằng ngày, hằng giờ chịu tác động của nhiều nhân
tố phức tạp, kể cả những hoạt động chống phá Đảng, vấn đề giữ vững bản chất
giai cấp công nhân của Đảng đứng trước những thách thức mới. Song, Đảng
13
thiếu sự chuẩn bị đầy đủ cho bước chuyển này, chưa chú ý đúng mức ván đề
giáo dục, rèn luyện phảm chất chính trị và đạo đức đối với cán bộ, đảng viên.
Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện bản thân,
phai nhạt lý tưởng, mất cảnh giác, giảm sút ý chí chiến đấu, kém ý thức tổ chức
kỷ luật, sa đọa về đạo đức, lối sống. Một số thoái hoá về chính trị, tuy rất ít
quan liêu; là tình trạng thực hiện không nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân
chủ, chế độ tự phê bình và phê bình trong Đảng, v.v.. Trước tình hình đó, Hội
nghị Trung ương 6 (lần 2) khoá VIII, Ban chấp hành Trung ương đã ra nghị
quyết về Một số vấn đề cơ bản và cấp bách trong công tác xây dựng Đảng hiện
nay, quyết định mở Cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, thực hiện tự phê
bình và phê bình từ ngày 19-5-1999 đến ngày 19-5-2001 nhân dịp kỷ niệm 30
năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh và kỷ niệm 70 năm ngày thành
lập Đảng, nhằm nâng cao đạo đức cách mạng, chhóng chủ nghĩa cá nhân trong
cán bộ, đảng viên, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức
Đảng. Đây là sự tiếp nối Nghị quyết Trung ương 3 khoá VII, nhưng có những
yêu cầu cao hơn, nội dung tập trung hơn và chỉ đạo thực hiện với tinh thần quyết
liệt hơn. Với mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ và cách làm thích hợp, cuộc vận động
đã đáp ứng yêu cầu cấp bách của thực tiễn và nguyện vọng của toàn Đảng, toàn
dân, nên đã tạo ra một không khí mới trong công tác xây dựng Đảng.
Sau 2 năm thực hiện cuộc vận động, công tác xây dựng Đảng đạt được
những kết quả quan trọng, song chưa đạt yêu cầu đề ra. Qua kiểm điểm, Đại hội
IX của Đảng đã chỉ ra những ưu điểm là: Đảng đã sớm xác định xây dựng, chỉnh
đốn Đảng là nhiệm vụ then chốt, đã đề ra nhiều chủ trương, biện pháp đúng đắn,
kịp thời về xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Trên thực tế, công tác xây dựng nội bộ
Đảng đã đạt được những kết quả nhất định: Hoạt động lãnh đạo của Đảng - nhất
là về phương thức lãnh đạo của Đảng - đã có những chuyển biến tích cực,rõ nét.
Nhận thức chính trị của cán bộ, đảng viên đựơc nâng lên một bước, nhất là về
đường lối, quan điểm của Đảng; về sự kiên định đối với các nguyên tắc, Cương
15
lĩnh và điều lệ Đảng. Ý thức đề phòng, ngăn ngừa sự suy thoái về đạo đức, lối
sống của cán bộ, đảng viên được nâng cao. Nêu cao hơn tinh thần trách nhiệm,
coi trọng việc mở rông và phát huy dân chủ. Xử lý được nhiều vụ việc nổi cộm,
tồn đọng, thực hiện một bước chỉnh đốn, kiện toàn tổ chức đảng các cấp; thi
hội nghị Trung ương chỉ ra, đã đề ra nhiều biện pháp quan trọng, nhưng đến nay
vẫn chưa khắc phục được, có những mạt diẽn biến phức tạp, trầm trọng hơn. Các
yêu cầu về nâng cao trình độ trí tuệ chung của toàn Đảng, sự thống nhất cao về
tư tưởng chính trị, về sự trong sáng trong phẩm chát đao đức, lối sống, về năng
lực của cán bộ và tạo lập phương thức lãnh đạo có hiệu quả cao đang nổi lên
thành các yêu cầu cấp bách hiện nay.
Trong khi đó, đứng trước những đòi hỏi của thời đại như vấn đề toàn cầu
hoá, nền kinh tế trí thức; những vấn đề thực tiẽn đặt ra như: lý luận về chủ nghĩa
xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay... đang đòi hỏi
đảng phải đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, nghiên cứu và phát triển lý luận nền tảng
tư tưởng của Đảng. Đối tượng lãnh đạo và môi trường hoạt động của Đảng cũng
có nhiều thay đổi, tiếp tục còn diễn biến phức tạp hơn. Nền kinh tế thị nhiều
thành phần, cơ chế thị trường, mở cửa hội nhập với thế giới kéo theo sự đa dạng,
đan xen trong cơ cấu xã hội và sự phân hoá nhất định về thu nhập, mức sống,
quan niệm đối với hệ giá tri xã hội, thậm chí cả lý tưởng, lối sống. Bộ máy nhà
nước - đối tượng lãnh đạo chủ yếu của - đang trong quá trình cải cách, hoàn
thiện theo hướng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì
dân. Các tổ chức còn lại trong hệ thống chính trị đang phải đổi mới mạnh mẽ cả
tổ chức và phương thức hoạt động. Môi trường xã hội tiếp tục được dân chủ hoá,
trình độ dân trí được nâng cao, đời sống của đại bộ phận dân cư được cải thiện rõ
rệt, nhưng đời sống xã hội có nhiều diễn biến phức tạp, nhất là vấn đề dân tộc,
tôn giáo, tình trạng vi phạm pháp luật, các tệ nạn xã hội và sự xuống cấp đạo đức
ở một bộ phận nhân dân... Những thách thức đặt ra cho đất nước cũng là cho
Đảng, trước hết là những thách thức lớn đối với Đảng.
17
Trong khi Đảng tích cực đổi mới và chỉnh đốn, các thế lực thù địch tập
trung mũi nhọn chống phá vào Đảng và sự lãnh đạo của Đảng ta bằng nhiều thủ
đoạn hết sức thâm độc. Chúng ý thức rất rõ rằng, phá được Đảng ta, từ sự phân
nguyên tắc xây dựng Đảng Cộng sản, trung thành với những chỉ dẫn của Hồ
Chí Minh và truyền thống vẻ vang của Đảng ta. Trong điều kiện hiện nay, để
giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng việc đổi mới và chỉnh đốn phải
tuân theo phương hướng chung là: Tiếp tục phát huy truyền thống tốt đẹp, giữ
vững và tăng cường bản chất giai cấp công nhân và tính tiền phong của
Đangnr, xây dựng Đảng thật sự trong sạch và vững mạnh về chính trị, tư
tưởng và tổ chức; đổi mới phương thức lãnh đạo; tăng cường mối liên hệ máu
thịt giữa Đảng với nhân dân, bảo đảm cho Đảng làm tròn trách nhiẹm đội tiên
phong lãnh đạo sự nghiệp cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới.
Theo phương hướng đó, cũng như trước đây, quá trình đổi mới và chỉnh
đốn Đảng trong những năm tới phải quán triệt và tiến hành đúng một số nguyên
tắc cốt yếu sau đây:
-Kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu độc
lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Trong bát kỳ tình huống nào cũng không dao
động, xa rời mục tiêu đó. Đồng thời, phải vận dụng sáng tạo lý luận vào thực
tiễn, góp phần phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh nói
chung - về xây dựng Đảng nói riêng.
- Giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, thường xuyên tự phê bình và phê
bình, giữ gìn sự đoàn kết thống nhất trong Đảng.
- Gắn đổi mới, chỉnh Đốn Đảng với kiện toàn tổ chức, nâng cao chất
lượng hoạt động của Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân.
- Mạnh dạn, quyết tâm đổi mới, từ thí điểm đến thực hiện trên diện rộng
và coi trọng công tác sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm.
Trên cơ sở nắm vững và thực hiện triệt để những vấn đề có tính nguyên
tắc đó, cần tập trung vào một số giải pháp sau đây:
19
-Nâng cao trình độ trí tụê, bản lĩnh chính trị, nâng cao chất lượng, hiệu
quả công tác tư tưởng của Đảng.
người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ trung thành của nhân dân. Đặc biệt là trong
điều kiện Đảng cầm quyền. Cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh về Đảng là di sản phong phú, quý giá, là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam
cho hành động của Đảng, vẫn soi sáng cho công tác xây dựng Đảng ta hôm nay
và mãi mãi về sau. Là cơ sở để Đảng ta luôn xứng đáng là Đảng của Chủ tich Hồ
Chí Minh, Đảng là đạo đức, là văn minh để hoàn thành xuất sắc vai trò lãnh đạo
của mình đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam.