1
LÝ THUYẾT GIÁ TRỊ - LAO ĐỘNG
CỦA TRƯỜNG PHÁI KINH TẾ CỔ ĐIỂN ANH
Lịch sử tư tưởng kinh tế là một môn khoa học nghiên cứu sự phát
triển của tư tưởng kinh tế. Các tư tưởng kinh tế xuất hiện rất sớm từ thời
cổ đại. Đó là các nhận thức, quan niệm, quan điểm của giai cấp, tập đoàn
xã hội về kinh tế và lợi ích kinh tế, các quan niệm đó ban đầu thường
được lồng trong các quan niệm triết học. Nhìn chung các tư tưởng kinh
tế thời cổ đại (Ấn Độ, Trung Quốc, Hy Lạp và La Mã cổ đại) còn rất
nghèo nàn và thô sơ. Đến chế độ phong kiến tư tưởng kinh tế đã có bước
phát triển quan trọng. Song nhìn chung nó vẫn mang tính rời rạc, giản
đơn chưa thể trở thành học thuyết phần lớn ở dạng chính sách, kiến nghị,
giải pháp thực tiễn lợi ích giai cấp thống trị.
Sự phát triển chủ nghĩa tư bản ở Châu Âu (Tây Âu) đã kéo theo sự
ra đời của kinh tế chính trị tư sản cổ điển. Theo Mác, kinh tế chính trị tư
sản cổ điển ở Anh bắt đầu từ WPetti và kết thúc ở ĐavitRicácđô, còn ở
Pháp bắt đầu từ Beaghinbe kết thúc ở SiSmôđi. Qua học phần kinh tế cổ
điển với nhiều đại biểu tiêu biểu và với nhiều lý thuyết kinh tế quan
trọng: Lý thuyết giá trị - lao động; lý thuyết phân công lao động; lý
thuyết tiền tệ, lý thuyết tư bản; lý thuyết về tiền công, lợi nhuận địa tô;
học thuyết tái sản xuất v.v...Chứa đứng những nhân tố khoa học, mà sau
này được C. Mác và Ăngghen kế thừa, phát triển lên đỉnh cao mới của
khoa học kinh tế chính trị. Đồng thời cũng chứa đựng những yếu tố
không khoa học do hạn chế của thời điểm lịch sử lúc đó cũng như lập
trường giai cấp tư sản và phương pháp nghiên cứu đem lại. Qua học tập
các lý thuyết kinh tế cổ điển, không những giúp cho bản thân tôi hiểu
2
soi đường. Học thuyết kinh tế cổ điển Anh xuất hiện với 3 đại biểu tiêu
biểu:
Wpetti, AĐamSmíth; Đavít Ricácđô.
Cũng như lịch sử các lý thuyết kinh tế khác. Lịch sử lý thuyết giá trị
- lao động là lịch sử của quá trình nhận thức từ thấp đến cao, từ đơn giản
đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn. Lý thuyết giá trị lao động là một trong những lý thuyết kinh tế cơ bản nhất của khoa học
kinh tế - chính trị. Vì rằng lý thuyết giá trị - lao động là cơ sở, tiền đề để
nghiên cứu các lý thuyết, khái niệm phạm trù của kinh tế chính trị. Vì
thế nghiên cứu sâu sắc lý thuyết giá trị - lao động không những để hiểu
sâu hơn học thuyết giá trị Mác xít mà còn thấy rõ bước ngoặt cách mạng
trong học thuyết giá trị do C. Mác và Ăngghen tiến hành.
Đối với Wpetti: cống hiến to lớn của ông là ở chỗ, ông là người đầu
tiên nêu ra nguyên lý giá trị - lao động, nghĩa là, lao động là cơ sở,
nguồn gốc của giá trị hàng hoá. Trong tác phẩm “bàn về thuế khoá và lệ
phí”, ông nêu lên 3 luận điểm về giá cả hàng hoá, đó là: Giá cả tự nhiên;
giá cả nhân tạo; giá cả chính trị.
Về giá cả tự nhiên ông viết: “Một người nào đó, trong thời gian lao
động khai thác được 1ounce bạc và cũng thời gian đó sản xuất được 1
barrel lúa mì, thì 1 ounce bạc là giá cả tự nhiên của barrel lúa mì. Nếu
nhờ những mỏ mới giàu quặng hơn, nên cùng một thời gian lao động đó,
bây giờ khai thác được 2 ounce bạc, thì 2 ounce bạc, là giá cả tự nhiên
của 1 barrel lúa mì”.
Như vậy về thực chất Pétti khẳng định rằng giá cả tự nhiên chính là
giá trị hàng hoá - giá trị hàng hoá là do thời gian lao động hao phí để sản
4
xuất ra hàng hoá quyết định và cũng chính lượng thời gian hao phí để
sản xuất hàng hoá là cơ sở của sự trao đổi hàng hoá. Pétti đã phân tích sự
nhiên trong điều kiện bình thường. Đối với Wpetti, Người đương thời
của cách mạng tư sản và chiến tranh vệ quốc, thì việc phân biệt giá cả tự
nhiên, tức là chi phí lao động trong điều kiện bình thường, với giá cả
chính trị - là chi phí lao động trong điều kiện chính trị không thuận lợi,
là điều có ý nghĩa to lớn Wpetti đã phần nào thấy được mối liên hệ giữa
giá trị với quan hệ chính trị, giữa kinh tế và chính trị, nếu chính trị
không ổn định sẽ tác động ảnh hưởng tới kinh tế. Nghiên cứu giá trị - lao
động,Wpetti cũng đã đặt ra vấn đề nghiên cứu lao động giản đơn và lao
động phức tạp, so sánh lao động trong thời gian dài, lấy năng suất lao
động trung bình trong nhiều năm để loại trừ tình trạng ngẫu nhiên, song
ông chỉ dừng lại ở đấy, không phân tích gì thêm.
Wpetti còn có một luận điểm nổi tiếng là “lao động là cha còn đất
đai là mẹ của mọi của cải”. Luận điểm này, về phương diện của cải vật
chất, đó là công lao lớn của ông. Nhưng về phương diện giá trị - lao
động thì ông lại xa rời khi kết luận rằng đất đai là cơ sở nguồn gốc của
giá trị. Điều này là mầm mống của lý thuyết các nhân tố sản xuất tạo ra
giá trị mà sau này một số chính trị gia tư sản áp dụng. Mặc dù Wpetti đã
cố gắng tập trung vào nghiên cứu giá trị với một bên là hàng hoá và một
bên là tiền tệ, nhưng ông chưa phân biệt được giá trị với hình thái tiền tệ
của nó là giá cả, khi ông cho rằng lao động khai thác bạc mới là lao động
sáng tạo ra giá trị, còn các loại lao động khác chỉ tạo ra của cải vật chất ở
mức độ so sánh với lao động tạo ra tiền tệ, tức là lao động khai thác bạc.
6
Ông đã không gắn cái đặc tính sáng tạo cho mọi lao động của con người.
Do đó ông đi đến một mơ tưởng cho rằng, giá trị hàng hoá chính là sự
phản ánh giá trị của tiền tệ, giống như ánh sáng của mặt trăng là sự phản
chiếu của ánh sáng mặt trời vậy. Đây rõ ràng là kết quả được tạo ra từ
quan hệ số lượng với hàng hoá khác, còn trong nền sản xuất hàng hoá
phát triển, nó được biểu hiện ở tiền. Ông chỉ ra lượng giá trị hàng hoá là
do hao phí lao động trung bình cần thiết quyết định lao động giản đơn và
lao động phức tạp ảnh hưởng khác nhau đến lượng giá trị hàng hoá.
Trong cùng một thời gian, lao động chuyên môn, phức tạp sẽ tạo ra một
lượng giá trị nhiều hơn lao động không có chuyên sâu hay lao động giản
đơn.
Thực tiễn của sản xuất tư bản chủ nghĩa, mà trực tiếp là ở nước Anh
đã chuyển hoá vào đầu óc ông một định nghĩa thứ hai trái ngược với
định nghĩa trên là: Giá trị là do lao động mà người ta có thể mua được
bằng hàng hoá này quyết định. Từ định nghĩa này, ông suy ra giá trị do
lao động tạo ra chỉ đúng trong nền kinh tế hàng hoá giản đơn. Còn trong
nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, giá trị do các nguồn thu nhập tạo thành, nó
bằng tiền lương cộng với lợi nhuận và địa tô. Ông viết “tiền lương, lợi
nhuận, địa tô là 3 nguồn gốc đầu tiên của mọi thu nhập, cũng như của
mọi giá trị trao đổi. Bất cứ thu nhập nào khác cuối cùng cũng do một
trong những nguồn ấy mà ra”. Theo ý kiến của Smit, trong một nước văn
minh chỉ có một số ít hàng hoá là có giá trị trao đổi do một mình lao
động tạo ra, còn giá trị của đại đa số hàng hoá thì còn chứa đựng cả địa
tô và lợi nhuận nữa. Ông đã nhận thấy giá cả trong chủ nghĩa tư bản
8
được đặt ra khác với trước đây, nhưng không thấy được trong chủ nghĩa
tư bản quá trình thực hiện giá trị gắn liền với việc phân phối lại giá trị
dưới hình thái tiền công, lợi nhuận, địa tô. Vì thế ông xác định cơ cấu
giá trị hàng hoá bằng các thu nhập (tiền công + lợi nhuận+ địa tô), bỏ
qua, không tính đến giá trị tư liệu sản xuất (tư bản bất biến) vào giá trị
hàng hoá là một sự thiếu sót, nhầm lẫn đáng tiếc.
thực tế ông lại xa rời lý thuyết giá trị lao động việc đồng nhất giá trị trao
đổi với các quyền lực đối với lao động đã mua được, việc đồng nhất đặc
trưng ấy của Smít đã có một tác hại. Chính điều đó đã dẫn tới kết luận
sai lầm: Giá trị bằng lao động được trả công tức là bằng tiền công.
Tóm lại: Lý thuyết giá trị - lao động của Smít rất mâu thuẫn vừa có
tính khoa học vừa không khoa học. Từ những mâu thuẫn trong đó các lý
thuyết của Smít nói chung, lý thuyết giá trị- lao động nói riêng đã dẫn tới
một học thuyết mới ra đời. Đó là học thuyết giá trị của ĐavitRcácđô.
ĐavitRcácđô là một nhà kinh tế học kiệt xuất của kinh tế tư sản cổ
điển, ông cũng là người kết thúc kinh tế chính trị cổ điển Anh. Học
thuyết giá trị trước Mác được phát triển cao nhất ở Ricácđô. Học thuyết
giá trị của Ricácđô mang tính khoa học và khá hoàn chỉnh, nó chiếm một
vị trí trung tâm trong lý luận kinh tế của ông. Ricácđô đã có ý thức xem
xét tất cả các phạm trù kinh tế khác trên cơ sở lý luận giá trị - lao động.
Đ. Ricácđô, định nghĩa giá trị hàng hoá như sau: “Giá trị của hàng
hoá hay số lượng của một hàng hoá nào khác mà hàng hoá đó trao đổi, là
do số lượng lao động tương đối, cần thiết để sản xuất ra hàng hoá quyết
10
định chứ không phải do khoản thưởng lớn hay nhỏ trả cho lao động đó
quyết định”.
Cũng như AđamSmit, ĐavitRcácđô đã phân biệt rõ 2 thuộc tính của
hàng hoá là giá trị sử dụng và giá trị trao đổi. Ông bác bỏ lý luận giá trị
sử dụng quyết định giá trị hàng hoá, ông đã chứng minh rằng các nhân tố
tự nhiên giúp con người tạo nên giá trị sử dụng. Nhưng không thêm một
phân tử gì vào giá trị hàng hoá cả. Ông khẳng định: Tính hữu ích không
phải là thước đo giá trị trao đổi, mặc dù hàng hoá rất cần thiết giá trị này.
Giá trị khác xa với của cải, giá trị không tuỳ thuộc vào việc có nhiều hay
Smít cho rằng: “Giá trị do lao động mà người ta có thể mua được bằng
hàng hoá này quyết định” là không đúng. Theo ĐavitRcácđô, không phải
chỉ trong nền sản xuất hàng hoá giản đơn, mà ngay cả trong nền sản xuất
lớn tư bản chủ nghĩa, giá trị vẫn do lao động quyết định, lao động vẫn là
cơ sở của mọi giá trị. Ông cảm thấy mâu thuẫn trong những định nghĩa
giá trị của Smít và ông gạt bỏ định nghĩa thứ hai đi.
Khi nghiên cứu về cơ cấu giá trị, ĐavitRcácđô đã phê phán
AđamSmit cho rằng giá trị là do các thu nhập hợp thành (tiền công, lợi
nhuận, địa tô là nguồn gốc đầu tiên của mọi thu nhập cũng như mọi giá
trị trao đổi). ĐavitRcácđô vạch rõ, Smít đã nhầm lẫn giữa quá trình hình
thành giá trị và quá trình phân phối giá trị. Việc phân phối giá trị không
ảnh hưởng đến việc hình thành giá trị. Việc tăng tiền công không làm
cho giá trị hàng hoá tăng lên mà lại làm cho lợi nhuận hoặc địa tô giảm
xuống. Ông cũng hoàn toàn không nhất trí với Smít không tính đến lao
động quá khứ trong giá trị hàng hoá (giá trị hàng hoá = V+m) và ông cho
12
rằng: giá trị hàng hoá không chỉ do lao động trực tiếp để sản xuất hàng
hoá tạo ra, mà còn phải tính đến cả những lao động đã hao phí vào các
công cụ lao động...(lao động quá khứ). Như vậy, theo Đavitricácđô giá
trị hàng hoá = c + v+m. Song ông chưa biết được c chuyển vào giá trị
hàng hoá như thế nào. Chỉ có đến C.Mác sau này mới hoàn chỉnh và giải
thích có cơ sở khoa học công thức giá trị hàng hoá = c + v +m.
ĐaVít Ricácđô đã phân biệt giá trị tự nhiên và giá cả thị trường , giá
cả là biểu hiện bằng tiền của giá trị, giá cả tự nhiên là giá cả cần thiết để
thường xuyên thoả mãn số cầu, cộng với một lợi nhuận thông thường.
Theo C.Mác thì Ricácđô đã nói đến giá cả sản xuất. Ông đã cố gắng tìm
hiểu sự vận động của giá cả. Theo ông, giá cả không phải do cung- cầu
Tóm lại ĐavitRicácđô đã đứng vững trên cơ sở lý luận giá trị - lao
động. C.Mác đánh giá “Nếu AđamSmit đã đưa khoa học kinh tế chính trị
vào hệ thống, thì ĐavitRcácđô đã kết cấu toàn bộ khoa học kinh tế chính
trị bằng một nguyên lý thống nhất nguyên lý chủ yếu quyết định của ông
là thời gian lao động quyết định giá trị” .
Kinh tế chính trị tư sản cổ điển Anh nói chung, lý thuyết giá trị - lao
động của các nhà kinh tế cổ điển Anh nói riêng. Được bắt đầu từ nguyên
lý giá trị - lao động của Wpetti, ông cũng là người đầu tiên trong lịch sử
đặt nền móng cho lý thuyết giá trị - lao động. Hơn một trăm sau,
AđamSmit dựa trên cơ sở lý thuyết giá trị - lao động đã đưa ra và phát
triển những học thuyết của mình đưa kinh tế chính trị vào hệ thống.
ĐavitRicácđô là người đã đứng vững trên cơ sở lý thuyết giá trị - lao
14
động đã kết cấu toàn bộ khoa học kinh tế chính trị bằng một nguyên lý
thống nhất. Thời gian lao động quyết định giá trị hàng hoá. Quá trình
nghiên cứu lý thuyết giá trị lao động, các ông đã có sự kế thừa, phát triển
những nhân tố khoa học, hợp lý, đồng thời phê phán, gạt bỏ những nhân
tố không khoa học, tầm thường. Chính vì thế ĐavitRicácđô đã đạt đến
đỉnh cao lý thuyết giá trị - lao động trong kinh tế chính trị tư sản cổ điển
Anh. Những nhân tố khoa học hợp lý là cơ sở, tiền đề trực tiếp mà C.
Mác và Ăngnghen kế thừa có phê phán và phát triển lên đỉnh cao mới
của lý luận giá trị trong khoa học kinh tế chính trị tiên tiến. Tuy nhiên
bên cạnh những nhân tố khoa học, lý thuyết giá trị - lao động của các
ông cũng còn có nhiều nhân tố không khoa học, tầm thường. Chỉ chú ý
phân tích mặt lượng giá trị, ít chú ý đến mặt chất và hoàn toàn không
phân tích hình thái giá trị. Đây là một nhược điểm chủ yếu của kinh tế cổ
điển, khuyết điểm này là do thiếu quan điểm lịch sử xem xét các hàng