NHÓM 6
THÀNH VIÊN:
1-Hoàng Tuấn Việt(NT).
2-Nguyễn Đình Trường
3-Nguyễn thị Hồng Uyên
4-Nguyễn Thị Trang
5-Nguyễn thị Như Trang
6-Dương thị Yến
7-Nguyễn Đức Việt
8- Lê Văn Tùng
9- Phạm Thế Anh.
Câu hỏi: Hãy trình bày sự
phát triển lý luận giá trị lao
động của trường phái kinh tế
chính trị học tư sản cổ điển
Trả lời:
Trường phái kinh tế chính trị học tư sản cổ điển tồn tại từ TK
XV – TK XIX được coi là trường phái kinh tế chủ đạo của chủ
nghĩa tư bản. Nó được cấu thành bởi 3 học thuyết kinh tế là
chủ nghĩa trọng thương, chủ nghĩa trọng nông và kinh tế
chính trị học tư sản cổ điển Anh
Tuy nhiên, lý luận về giá trị lao động chỉ được bắt đầu ở kinh
tế chính trị tư sản cổ điển Anh mà cụ thể được phát sinh từ
William Petty. Vì vậy, khi nói về sự phát triển lý luận giá trị
lao động của trường phái kinh tế chính trị học tư sản cổ điển
Đặc điểm:
_Trọng tâm lĩnh vực nghiên cứu được chuyển từ lưu
thông sang SX->các nhà kinh tế đi sâu vào nghiên
cứu giải thích nguồn gốc của cải
-Lấy lí luận giá trị lao động làm trọng tâm, dựa trên
nguyên lí giá trị lao động để xem xét các phạm trù
KT tư sản với phương pháp luận là trừu tượng hóa.
-Các quan điểm KT thể hiện rõ khuynh hướng tự do
KT.
1, William Petty ( 1623 – 1687)
•
Công lao lớn nhất của
W. Petty đó là ông chính
là người đầu tiên xây dựng
lý luận về giá trị lao động
(điều mà các nhà kinh tế
của chủ nghĩa trọng thương
và trọng nông trước
đó không làm được)
* Ưu điểm trong lý luận giá trị lao động của W. Petty
• Ông là người đầu tiên vạch rõ vai trò của lao động trong
việc tạo ra giá trị, tức là nguồn gốc thực sự của của cải.
thể tránh khỏi những sai lầm thiếu xót. Cụ thể như:
• W. Petty chưa phân biệt được các phạm trù giá trị, giá trị
trao đổi với giá cả. Ông tập trung nghiên cứu về giá cả
một bên là hàng hóa, một bên là tiền, tức là ông chỉ
nghiên cứu về nặt lượng
• Hạn chế tiếp theo của Petty là ông chưa phân biệt được
lao động giản đơn và lao động phức tạp (điều này về
sau được chứng minh trong lý luận của A. Smith)
• Mặt khác, ông còn cho rằng chỉ có lao động khai thác
vàng bạc mới tạo ra giá trị, các lao động khác ( công
nghiệp, nông nghiệp) chỉ tạo ra của cải. Theo ông, giá
trị của hàng hóa là sự phản ánh giá trị của tiền=> Ông
nhấn mạnh thương nghiệp có năng suất cao hơn các
ngành khác và là ngành kinh tế có lợi nhất=> đây là
quan điểm sai lầm của Petty khi ông còn chịu ảnh hưởng
mạnh của chủ nghĩa trọng thương
• Petty cũng sai lầm khi ông đồng nhất lao động cụ thể với
lao động trừu tượng, ông có ý định đo lường giá trị
bằng đất đai và lao động. Thực ra, đây là một ý định sai
lầm
• Lý luận giá trị của Petty chưa trở thành một hệ thống
chung nhất, nó đơn thuần chỉ là các quan điểm liên kết
với nhau
• Hạn chế cuối cùng là Petty chưa tìm được qui luật và tác
dụng của giá trị
=> Tóm lại, lý luận của Petty tuy có nhiều hạn chế nhưng
nó đã đặt nền móng cho các học thuyết sau này, nó trở
thành tiền đề đầu tiên để phát triển lý luận về giá trị lao
dùng của từ giá trị. Ông phân giá trị thành 2
loại là giá trị trao đổi và giá trị sử dụng
•
• Đồng thời, ông cũng nêu lên mối quan hệ giữa 2 loại giá
trị này. Ông kết kuận giá trị sử dụng không quyết định
giá trị trao đổi. Bằng chứng là một vật có giá trị sử dụng
lớn nhưng giá trị trao đổi lại nhỏ và ngược lại
• Để giải quyết vấn đề đầu tiên, A. Smith cho rằng trao đổi
hàng hóa chẳng qua là trao đổi lượng giá trị lao động
=> Giá trị trao đổi của hàng hóa là do lao động quyết định
(Đây là một khái niệm đúng đắn)
• Ngoài ra, ông còn phân biệt được giữa lao động giản đơn
và lao động phức tạp (điều mà trước đây Petty không
giải quyết được ). Ông cho rằng lao động phức tạp tạo ra
nhiều giá trị hơn lao động đơn giản trong cùng 1 đơn vị
thời gian
• Về vấn đề thứ hai, ông cho rằng có 3 nguồn gốc cấu
thành nên giá trị hàng hóa. Đó là:
Tiền lương
Lợi nhuận
Địa tô
Giá trị = Tiền công (V) + Lợi nhuận (P) + Địa tô (r) = V +
m.
Petty ở chỗ ông cũng không hiểu được mối liên hệ giữa giá
trị và giá cả => ông không giải thích được sự xa rời giá
cả khỏi giá trị chính là hình thức tác động của qui luật
giá trị
Tóm lại, do hạn chế về lập trường, quan điểm,
phương pháp nên lý luận giá trị của ông vừa
có tính tầm thường, vừa có tính khoa học.
Nhưng lý luận của ông không kể chiều rộng
hay chiều sâu đã vượt mặt tất cả những
người đi trước, nhất là ông lại là người đầu
tiên trình bày 1 cách có hệ thống, chưa kể
công lao của ông trong việc phân biệt giá trị
trao đổi và sử dụng. Đó là đống góp chủ yếu
của ông về mặt khoa học.
3, David Ricardo ( 1772 – 1823
)
Nếu như W.Petty là người đặt nền móng, A.Smith
có công phát triển đến một tầm cao hơn thì
D.Ricardo được coi là người hoàn thiện lý luận
giá trị lao động của CNTB mặc dù vẫn còn 1 số
hạn chế không đáng kể
*Ưu điểm của học thuyết D.Ricardo về lý luận giá
với của cải tăng lên
• Lý luận của D.Ricardo được trình bày từ việc phê phán
A.Smith. Ông gạt bỏ tính không triệt để và không nhất
quán của Smith trong cách xác định giá trị
• Ricardo kiên định với quan điểm lao động là nguồn gốc
của giá trị và xây dựng lý luận của mình trên quan điểm
đó
• Đồng thời, Ricardo cũng phê phán A.Smith khi cho rằng
giá trị do các nguồn thu nhập hợp thành. Theo ông, giá
trị hàng hóa phân ra các nguồn thu nhập
• Về cơ cấu giá trị hàng hóa, ông đề cập một công thức
hoàn chỉnh. Giá trị hàng hóa=C+V+m. Trước đó,
A.Smith đã sai khi bỏ C ra khỏi giá trị hàng hóa
• Khác với A.Smith, Ricardo cho rằng vẫn hoạt động trong
chủ nghĩa tư bản. Đây là 1 quan điểm đúng đắn
* Hạn chế của D.Ricardo:
Tuy lý thuyết của Ricardo khá hoàn thiện nhưng vẫn không
tránh khỏi những sai lầm thiếu xót
• Sai lầm đầu tiên của ông là cho rằng giá trị hàng hòa
được điều tiết bởi lượng lao động lớn nhất hao phí trong
điều kiện xấu ( sau này, Marx xác định đó phải là điều