Đề tài: Làm rõ nguồn gốc lợi nhuận thương nghiệp, góp phần phát triển lý luận giá trị thặng dư của Các Mác doc - Pdf 19

1
BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
Đề tài:
Làm rõ nguồn gốc lợi nhuận thương
nghiệp, góp phần phát triển lý luận giá trị
thặng dư của Các Mác
2
MỤC LỤC
Trang
Phần mở đầu 2
1 Hàng hóa vô hình 7
2 Dịch vụ thương nghiệp trong nền sản xuất hàng
hóa giản đơn
8
3 Dịch vụ thương nghiệp dưới chủ nghĩa tư bản,
nguồn gốc, bản chất của lợi nhuận thương nghiệp
11
4 Kết luận 16
Danh mục tài liệu tham khảo 19
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
3
Những năm gần đây, phong trào nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn nói
chung, phong trào nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn của Học viện Chính trị
Quân sự - Trường Sĩ quan Chính trị nói riêng, được tổ chức sôi nổi và đã đạt những
thành tựu quan trọng. Tuy nhiên, hầu hết các đề tài đều đi vào nghiên cứu ứng dụng,
mảng nghiên cứu cơ bản gần như còn bỏ trống. Trong khi đó, có nhiều vấn đề lý
luận cần được làm sáng tỏ trong điều kiện nước ta vừa tiến hành, vừa hoàn thiện
đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa.
Tác giả nhận thấy trong quá trình xây dựng chiến lược phát triển kinh tế nước
ta, lĩnh vực lưu thông, hay nói cụ thể hơn là việc xây dựng hệ thống thương nghiệp,

chế khi tuyệt đối hóa thương nghiệp, coi tiền là nội dung căn bản của của cải.
Sau sự tan rã của học thuyết kinh tế Trọng Thương, Các nhà Kinh tế chính
trị tư sản cổ điển Anh lại từng bước phủ nhận vai trò của lưu thông trong việc tạo
ra giá trị. Các Mác kế thừa tư tưởng đó và hoàn thiện lý luận giá trị - lao động của
mình, Ông khẳng định chỉ có lao động trong lĩnh vực sản xuất mới tạo ra giá trị,
lưu thông thuần túy không trực tiếp tạo ra giá trị mà chỉ thực hiện những giá trị đã
được tạo ra từ trước.
Sau Các Mác, các nhà kinh tế học hoặc thừa nhận tuyệt đối lý luận giá trị -
lao động của Ông, hoặc không trực tiếp bàn tới nó. Gần đây, trên các tạp chí
nghiên cứu lý luận, tác giả thấy có một số nhà khoa học bàn tới và giải quyết vấn
đề này ở mức độ nhất định, trong đó có hai tác giả tiêu biểu. Một là tác giả Lâm Cần
5
Thanh
1
với bài “Kinh tế tri thức và lý luận giá trị thặng dư của Các Mác”, Ông cho
rằng chi phí lưu thông thuần túy trực tiếp cấu thành giá thành hàng hóa, trực tiếp
được bù đắp trong giá cả hàng hóa … Hai là tác giả Đỗ Thế Tùng với bài “Phải
chăng khiếm khuyết của C.Mác là chưa nói rõ lao động thể lực và lao động trí lực
của nhân viên bán hàng đã làm tăng thêm giá trị của hàng hóa”, Ông cho rằng lao
động dịch vụ (của nhân viên bán hàng thuần túy) cũng tạo ra giá trị mới, nhưng
không trực tiếp tạo ra giá trị thặng dư vì lao động thặng dư ở đây không tính được.
Như vậy, các tác giả đã đề cập tới lưu thông (mà trực tiếp là lao động của
nhân viên bán hàng) có tạo ra giá trị, nhưng chưa luận giải thật rõ ràng và đặc biệt
chưa thừa nhận lao động của họ tạo ra giá trị thặng dư.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích
Kế thừa lý luận kinh tế chính trị của Các Mác và kết quả nghiên cứu của các
nhà nhà khoa học đi trước, tập trung nghiên cứu lĩnh vực lưu thông, chứng minh
hoạt động thương nghiệp trực tiếp tạo ra giá trị, thương nghiệp tư bản chủ nghĩa
trực tiếp tạo ra giá trị và giá trị thặng dư, từ đó góp phần bổ sung lý luận giá trị

thông hàng hoá trong việc tạo ra giá trị mới và cung cấp cơ sở lý luận để phát triển
hệ thống thương nghiệp ở nước ta hiện nay.
7
Đề tài góp phần bổ sung lý luận giá trị thặng dư của Các Mác và có thể sử
dụng làm tài liệu tham khảo để nghiên cứu, giảng dạy Kinh tế Chính trị Mác - Lênin.
7. Kết cấu
Là một đề tài nghiên cứu lý luận cơ bản, nội dung đề tài là các phần lý luận
nối tiếp nhau theo một lôgic chặt chẽ, phần trước là tiền đề trực tiếp của phần sau,
vì vậy tác giả không kết cấu thành các chương độc lập. Ngoài phần mở đầu và
danh mục tài liệu tham khảo, đề tài được kết cấu thành 4 mục, đánh số từ 1-4.
NỘI DUNG
1. Hàng hóa vô hình.
8
C. Mác có đề cập tới hàng hóa vô hình, tồn tại song song với hàng hóa hữu
hình. Tuy nhiên, khi phân tích quá trình lao động sản xuất hàng hóa, đặc biệt là quá
trình sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa, Ông chỉ tập trung phân tích quá trình sản
xuất ra hàng hóa hiện vật, mà trên thực tế, đôi khi việc phân chia ranh giới giữa
hàng hóa hiện vật và hàng hóa vô hình gặp rất nhiều khó khăn. Chính điều này đã
dẫn tới việc tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau về một loại hàng hóa vô hình cụ thể:
dịch vụ thương nghiệp. Nhưng trước khi phân tích loại hàng hóa cụ thể này, chúng
ta cần thống nhất một số điểm chung về hàng hóa vô hình.
Khác với hàng hóa hữu hình, hàng hóa vô hình không tồn tại dưới dạng hiện
vật mà tồn tại dưới dạng các loại hình dịch vụ: Y tế, giáo dục, tư vấn, vận tải, giải
trí, thương mại, … Vì không tồn tại dưới dạng hiện vật nên hàng hóa vô hình
không dự trữ được, quá trình sản xuất ra nó và quá trình tiêu dùng nó không tách
rời nhau.
Giống như các hàng hóa hữu hình, để tạo ra hàng hóa vô hình, xã hội cũng
cần tiêu tốn lao động quá khứ và lao động sống. Nếu như việc tạo ra hàng hóa vô
hình được tổ chức theo phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, nhà tư bản hoạt
động trong lĩnh vực này cũng thu được lợi nhuận, mà nguồn gốc của nó không ở

động cụ thể mới, lao động thực hiện quá trình trao đổi sản phẩm của người sản
xuất này với sản phẩm của người sản xuất khác, sau này ta gọi nó là dịch vụ
thương nghiệp. Cũng giống như tất cả những lao động cụ thể khác, người tiến hành
10
loại lao động thực hiện quá trình trao đổi sản phẩm cũng phải tiêu tốn sức lao
động, tức là tiêu hao thần kinh và sức bắp của mình.
Khi mỗi người sản xuất tự mang hàng hóa của mình trao đổi lấy hàng hóa
của người khác thì chưa có dịch vụ thương nghiệp. Khi hoạt động mua bán, trao
đổi hàng hóa được tách rời ra, do thương nhân đảm nhiệm thì xuất hiện dịch vụ
thương nghiệp.
Thương nghiệp – hoạt động chuyên phục vụ việc trao đổi sản phẩm giữa
những người sản xuất – ngay từ khi xuất hiện, đã là một hàng hóa. Thương nhân
trong quá trình hoạt động phải hao phí lao động, nhưng kết quả lao động của anh ta
không thoả mãn nhu cầu tiêu dùng trực tiếp của anh ta mà thoả mãn nhu cầu trao
đổi sản phẩm giữa những người sản xuất khác … Đối với mỗi người sản xuất trong
nền sản xuất hàng hóa, sản phẩm trong tay họ là những vật mang giá trị trao đổi, họ
muốn biến nó thành những vật ngang giá có giá trị sử dụng phù hợp với nhu cầu
tiêu dùng của họ, dịch vụ thương nghiệp thoả mãn nhu cầu này.
Giá trị dịch vụ thương nghiệp cũng bao gồm cả lao động quá khứ và lao
động sống đã hao phí để thực hiện công việc mua bán, trao đổi hàng hóa, giá cả
của nó là phần chênh lệch giữa giá bán và giá mua hàng hóa. Tuy nhiên, cũng
giống như việc sản xuất ra hàng hóa hữu hình, xã hội chỉ chấp nhận những hoạt
động thương nghiệp có mức hao phí lao động trung bình, tức là lao động thương
nghiệp cũng phải phù hợp với hao phí lao động xã hội cần thiết theo yêu cầu của
quy luật giá trị. Từ đây trở đi, để tiện cho việc phân tích, tôi giả định những hao
phí lao động được nhắc tới đều phù hợp với mức hao phí lao động xã hội cần thiết
và mọi sự trao đổi đều tuân thủ nguyên tắc ngang giá.
Như vậy, thương nghiệp là hoạt động có mục đích của con người, đáp ứng
nhu cầu của con người và xã hội, hoạt động thương nghiệp đòi hỏi phải tiêu tốn
11

mua, điều đó không có nghĩa anh ta bán hàng với giá cả cao hơn giá trị mà phần
cao hơn ở đây là giá cả của hàng hóa dịch vụ thương nghiệp. Người tiêu dùng đã
thực hiện cả giá trị của hàng hóa hiện vật và giá trị của hàng hóa dịch vụ thương
nghiệp, vì anh ta tiêu dùng cả hai loại hàng hóa này.
Còn đối với thương nhân, anh ta phải ứng trước tư liệu sản xuất và sức lao
động của mình để tạo ra hàng hóa dịch vụ thương nghiệp, và chỉ nhận được giá cả
của hàng hóa này sau khi anh ta đã hoàn tất việc tạo ra nó, tức là sau khi anh ta đưa
được hàng hóa hiện vật tới tay người tiêu dùng. Điều này hoàn toàn hợp lý, nó
cũng giống như việc người sản xuất hàng hóa hiện vật phải ứng trước tư liệu sản
xuất và sức lao động để tạo ra hàng hóa hiện vật trước khi nhận lại giá cả của nó từ
tay thương nhân.
3. Dịch vụ thương nghiệp dưới chủ nghĩa tư bản, nguồn gốc, bản chất
của lợi nhuận thương nghiệp.
Khi sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa đã thay thế nền sản xuất hàng hóa giản
đơn, khi quy mô sản xuất đã trở nên rất lớn thì hoạt động thương nghiệp cũng cần
thay đổi để thích ứng với tính chất và trình độ của nền sản xuất. Tư bản thương nhân
xuất hiện, tồn tại song hành với tư bản sản xuất, và cạnh tranh với tư bản sản xuất.
Đứng từ góc độ sản xuất hàng hóa hiện vật, C. Mác không coi dịch vụ thương
nghiệp là một hàng hóa có giá trị và giá trị sử dụng, do đó, Ông chia chi phí lưu
13
thông tư bản chủ nghĩa thành chi phí lưu thông thuần túy và chi phí tiếp tục quá trình
sản xuất trong lưu thông. Đối với khoản chi phí tiếp tục quá trình sản xuất trong lưu
thông, nó giống như quá trình sản xuất hàng hóa hiện vật tư bản chủ nghĩa được kéo
dài ra, cho nên mọi sự phân tích về nó bây giờ giống như lĩnh vực sản xuất hàng hóa
hữu hình và chúng ta không cần bàn thêm gì cả.
Đối với khoản chi phí lưu thông thuần túy, C. Mác cho rằng khoản chi này
không làm thay đổi giá trị sử dụng của hàng hóa hiện vật, mà chỉ chuyển hình thái
giá trị của hàng hóa thành tiền và ngược lại, do đó nó không làm cho giá trị hàng hóa
(hiện vật) tăng lên chút nào: “Lẽ dĩ nhiên là quy mô của chu chuyển hàng hóa ở
trong tay nhà tư bản không thể nào biến lao động đó - lao động không sáng tạo ra

Thanh tự nó đã chứa đựng mâu thuẫn.
Giáo sư Đỗ Thế Tùng tiến xa hơn tác giả Lâm Cần Thanh khi khẳng định lao
động của người bán hàng tồn tại nhưng không kết tinh trong sản phẩm hàng hóa hữu
hình, Ông cho rằng: “Nhân viên làm dịch vụ thương nghiệp cũng chi phí lao động
tất yếu và lao động thặng dư, các chi phí đó đều không kết tinh trong sản phẩm hữu
hình, nhưng thời gian lao động tất yếu được bù lại bằng tư liệu sinh hoạt theo
nguyên tắc ngang giá, nên có thể thống kê được và được cộng vào giá trị của tổng
sản phẩm xã hội, bao gồm cả hàng hóa hữu hình và dịch vụ, còn thời gian lao động
thặng dư thì góp phần giảm chi phí lưu thông thuần túy, nhưng không được trao đổi
lấy hiện vật nên không thống kê được. Như vậy lao động dịch vụ cũng tạo ra giá trị
mới nhưng không trực tiếp tạo ra giá trị thặng dư vì lao động thặng dư ở đây không
tính được”
[3]
.
15
Ở đây, Giáo sư Tùng đã nhận thấy có một lượng giá trị được tạo ra do lao
động của nhân viên bán hàng, khẳng định nó tồn tại độc lập với hàng hóa hữu hình,
nhưng Ông cũng chưa chỉ ra được lượng giá trị này kết tinh trong hàng hóa vô hình
– dịch vụ thương nghiệp thuần túy. Chính vì hạn chế này mà Ông chỉ nhận thấy
phần lao động tất yếu thống kê được nhờ nó được bù lại bằng tư liệu sinh hoạt nuôi
sống những người công nhân, mà không nhận thấy phần lao động thặng dư kết tinh
thành giá trị thặng dư trong hàng hóa vô hình – dịch vụ thương nghiệp thuần túy, nó
biểu hiện thành một bộ phận của lợi nhuận thương nghiệp, và nó hoặc biến thành tư
liệu sinh hoạt của tư bản thương nhân, hoặc biến thành tư bản phụ thêm của hắn để
mở rộng kinh doanh. Phần này cũng hoàn toàn có thể thống kê được.
Nếu phần giá trị thặng dư kết tinh trong dịch vụ thương nghiệp thuần túy chỉ
là một bộ phận của lợi nhuận thương nghiệp, thì bộ phận còn lại là gì? Chúng ta sẽ
phân tích khoản lợi nhuận này một cách toàn diện hơn.
Khi chúng ta đã chứng minh được dịch vụ thương nghiệp là một hàng hóa
vô hình, có đầy đủ giá trị và giá trị sử dụng. Việc tạo ra thứ hàng hóa này dưới chủ

bảo toàn nguyên vẹn và chuyển hoá nó sang sản phẩm hàng hoá hiện vật (lao động
gia công, đóng gói) hoặc chuyển hoá nó sang hàng hoá vô hình - dịch vụ thương
nghiệp (lao động bán hàng thuần tuý). Đồng thời, lao động trừu tượng của công
nhân thương nghiệp bây giờ kết tinh cả trong hàng hoá hiện vật (lao động gia công,
đóng gói) và kết tinh cả trong hàng hoá vô hình (lao động bán hàng thuần tuý) tạo
17
ra một lượng giá trị mới. Theo tính chất đặc biệt của giá trị sử dụng của hàng hoá
sức lao động, lượng giá trị mới nói trên sẽ lớn hơn bản thân giá trị sức lao động của
công nhân thương nghiệp, phần lớn hơn đó chính là giá trị thặng dư được tạo ra
trong lĩnh vực lưu thông, đó là nguồn gốc của lợi nhuận thương nghiệp.
Như vậy, nguồn gốc của lợi nhuận thương nghiệp là do công nhân thương
nghiệp tạo ra. Bản chất của nó là giá trị thặng dư, là phần lao động không được trả
công của công nhân thương nghiệp bị tư bản thương nhân tước đoạt. Lợi nhuận
thương nghiệp phản ánh mối quan hệ bóc lột trực tiếp của tư bản thương nhân đối
với lao động làm thuê trong lĩnh vực lưu thông.
Trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh, tư bản thương nhân cạnh
tranh với tư bản sản xuất hàng hoá hiện vật và lợi nhuận thương nghiệp cũng tham
gia vào quá trình bình quân hoá lợi nhuận. Khi nói toàn bộ giai cấp tư sản bóc lột
toàn bộ giai cấp vô sản thì đã bao hàm cả nhà tư bản hoạt động trong lĩnh vực sản
xuất hàng hoá hiện vật và nhà tư bản thương nhân, bao hàm cả công nhân công
nghiệp và công nhân thương nghiệp.
4. Kết luận
Việc khẳng định thương nghiệp là hàng hóa vô hình, chỉ ra lĩnh vực lưu
thông cũng tạo ra giá trị và trình bày nguồn gốc, bản chất của lợi nhuận thương
nghiệp như trên đã giúp bác bỏ mọi quan niệm thần bí hóa khoản thu nhập này của
các nhà tư bản. Bây giờ sự vận động T – H – T’ trong lưu thông không có nghĩa
tiền tự nó đẻ ra tiền, mà đằng sau đó là một quá trình sản xuất, sản xuất ra thứ hàng
hóa vô hình – dịch vụ thương nghiệp.
Kết luận trên hoàn toàn không trái với lý luận giá trị - lao động của C. Mác,
trái lại việc khẳng định rõ nguồn gốc, bản chất của lợi nhuận thương nghiệp càng

biết có hạn. Tôi mong muốn nhận được ý kiến phản biện của những người nghiên
cứu đang quan tâm đến vấn đề này với một tinh thần cầu thị.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] C.Mác và Ph. Ăngghen toàn tập, Nxb CTQG Sự thật, H-1994, tập 24, tr 199
20
[2] Lâm Cần Thanh: “Kinh tế tri thức và lý luận giá trị thặng dư cảu Mác”, Thông
tin những vấn đề lý luận, phục vụ lãnh đạo, số 8, tháng 4/2000.
[3] Đỗ Thế Tùng: “Phải chăng khiếm khuyết của C.Mác là chưa nói rõ lao động
thể lực và trí lực của nhân viên bán hàng đã làm tăng thêm giá trị của hàng hóa?”


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status