CỐNG HIẾN CỦA PH.ĂNG-GHEN TRONG SỰ PHÁT TRIỂN LÝ
LUẬN VỀ THỜI KỲ QUÁ ĐỘ VÀ CON ĐƯỜNG PHÁT TRIỂN "RÚT
NGẮN" Ở CÁC NƯỚC LẠC HẬU
Nguồn: fpe.hnue.edu.vn
Kỷ niệm 186 năm Ngày sinh của Ph.Ăng-ghen (28-11-1820 - 28-11-2006),
nhắc lại cống hiến lớn lao của ông, nhất là những luận điểm về thời kỳ quá độ
và con đường phát triển "rút ngắn" ở các nước lạc hậu, chậm phát triển là rất
bổ ích và cần thiết. Xuất phát từ luận điểm của Ph.Ăng-ghen chúng ta có thể
khẳng định, Đảng ta đã hoàn toàn đúng đắn, sáng suốt khi chủ trương đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa, gắn với
phát triển kinh tế tri thức.
PGS, TS Đặng Hữu Toàn*Cống hiến lý luận của Ph.Ăng-ghen đối với sự
hình thành và phát triển chủ nghĩa Mác là hết sức lớn lao. Sự lớn lao đó đến mức,
như V.I.Lê-nin khẳng định, "muốn đánh giá đúng đắn những quan điểm của Mác,
tuyệt đối phải đọc những tác phẩm của người cùng tư tưởng và người cộng tác gần
gũi nhất của Mác là
Phri-đrích Ăng-ghen", và hơn thế, chúng ta sẽ "Không thể nào
hiểu được chủ nghĩa Mác và trình bày đầy đủ được chủ nghĩa Mác, nếu không chú
ý đến
toàn bộ những tác phẩm của Ăng-ghen"
(1)
.
Đúng như V.I.Lê-nin khẳng định, trong suốt cuộc đời hoạt động lý luận của
mình, Ph.Ăng-ghen đã cùng với C.Mác tạo nên bước ngoặt cách mạng trong lịch
sử tư tưởng triết học nhân loại bằng việc xây dựng và phát triển một thế giới quan
triết học mới - chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, cơ sở lý
luận cho cuộc đấu tranh giải phóng của giai cấp công nhân.
Đặc biệt, sau khi C.Mác qua đời (ngày 14-3-1883), trong những năm 80 - 90
của thế kỷ XIX, Ph.Ăng-ghen đã đem hết nghị lực sục sôi, trí tuệ sáng suốt và trái
tim nồng cháy của mình để tiếp tục sự nghiệp cách mạng mà ông và C.Mác đã
biến học thuyết đó thành một mớ những công thức cứng đờ, bất biến. Mặt khác,
ông triệt để đấu tranh với bất cứ người nào coi thường sự tiến bộ của khoa học
hiện thực, coi thường những điều kiện lịch sử mới và những nhu cầu xã hội mới
nảy sinh. Trong những trường hợp cần thiết, khi xuất hiện hiện thực lịch sử mới,
khi tình hình thay đổi và cuộc sống hiện thực đặt ra những vấn đề mới, ông dũng
cảm xem xét lại ngay cả những quan điểm lý luận của chính bản thân mình, thẳng
thắn thừa nhận những sai lầm lý luận mà mình đã mắc phải trước đó. Chẳng hạn,
vào năm 1895, sau khi C.Mác qua đời, trong
Lời nói đầu tác phẩm "Đấu tranh giai
cấp ở Pháp 1848 - 1850"
của C.Mác, ông thẳng thắn thừa nhận sai lầm của ông và
C.Mác trong thời kỳ bão táp cách mạng đó. Sai lầm đó, như ông thừa nhận, do
"chịu ảnh hưởng của kinh nghiệm lịch sử đã qua, và nhất là kinh nghiệm lịch sử
của nước Pháp", nên các ông đã "tuyệt đối không thể nghi ngờ gì nữa rằng trận
quyết chiến vĩ đại đã bắt đầu" và nó phải được tiến hành đến cùng; rằng, "trận
chiến đấu ấy chỉ có thể kết thúc bằng thắng lợi cuối cùng của giai cấp vô sản"
trong một thời kỳ cách mạng duy nhất, dẫu cho đó có là "một thời kỳ cách mạng
lâu dài và đầy những chuyển biến"
(2)
. Thế nhưng, cuộc cách mạng đó không diễn
ra như mong muốn của các ông và bởi vậy, khi lịch sử hiện thực có sự thay đổi,
Ph.Ăng-ghen đã thẳng thắn thừa nhận: "lịch sử đã chứng minh rằng chúng tôi cũng
đã phạm sai lầm, lịch sử đã vạch ra rằng quan điểm của chúng tôi lúc bấy giờ là
một ảo tưởng. Lịch sử lại còn đi xa hơn thế nữa: lịch sử không những đã đánh tan
sai lầm hồi bấy giờ của chúng tôi mà còn hoàn toàn đảo lộn những điều kiện trong
đó giai cấp vô sản đang phải chiến đấu. Ngày nay, phương pháp đấu tranh trong
thời kỳ 1848 đã bị lỗi thời về mọi phương diện, và đó là một điểm đáng được
nghiên cứu tỉ mỉ hơn nữa"
(3)
.
thành quả kinh tế - xã hội do giai cấp tư sản tạo ra và lấy đó làm điều kiện, tiền đề
vật chất để "tạo lập chế độ xã hội mới, cũng như sinh ra những con người... mà chỉ
có họ mới đủ sức mạnh và ý chí để xây dựng xã hội mới, tốt đẹp hơn"
(5)
. Không
chỉ thế, ông còn khẳng định, việc tạo ra những thế hệ con người mới, nhất là đội
ngũ những công nhân giác ngộ, có ý chí, nghị lực, có năng lực sáng tạo lý luận và
hoạt động thực tiễn, luôn nhạy bén với sự biến đổi của hiện thực lịch sử,... là một
trong những nhiệm vụ hàng đầu của chính đảng cách mạng, bởi tiếp theo thắng lợi
của cách mạng vô sản sẽ là một thời kỳ quá độ lâu dài, hết sức phức tạp và khó
khăn. Coi thời kỳ quá độ này là một "cuộc đấu tranh sẽ lâu dài và ác liệt", Ph.Ăng-
ghen cho rằng, cuộc đấu tranh này chỉ đi đến thắng lợi cuối cùng khi chính đảng
cách mạng của giai cấp công nhân có được đội ngũ những người công nhân "sáng
suốt về chính trị, kiên trì và nhẫn nại, nhất trí và có kỷ luật, những phẩm chất mà
nhờ đó họ thu được nhiều thành công rực rỡ", bởi họ là những người đang nắm
trong tay "Tính tất yếu lịch sử, tính tất yếu kinh tế lẫn tính tất yếu chính trị"
(6)
của
cuộc đấu tranh này.
Nói về thời kỳ quá độ này, nhất là vấn đề xác định "những giai đoạn quá độ
lên xã hội cộng sản", trong thư gửi Côn-rát Smít (1863 - 1932) - nhà kinh tế học,
nhà triết học Đức, người mà khi đó tán thành học thuyết Mác, ngày 1-7-1891,
Ph.Ăng-ghen khẳng định, chúng ta "cần phải suy nghĩ kỹ", không được nôn nóng,
không được phép kết luận vội vàng, bởi đây là "vấn đề khó nhất trong tất cả những
vấn đề còn tồn tại" ở một thời kỳ mà "các điều kiện không ngừng thay đổi"
(7)
. Tuy
luôn nhắc đi nhắc lại rằng, nhiều việc diễn biến của tình hình không phép đưa ra
một chương trình hành động cụ thể cho mọi trường hợp có thể xảy ra, nhưng
Ph.Ăng-ghen vẫn cố gắng vạch ra những nét cơ bản nhất, những quy luật chung
trong nền kinh tế và dựa vào sự ủng hộ của quảng đại quần chúng nhân dân lao
động để khắc phục những khó khăn ấy và sửa chữa những sai lầm. Ph.Ăng-ghen
nói điều này trong thư gửi cho nhà hoạt động xã hội Đức - ốt-tô Buê-ních, ngày
21-8-1890.
Trong những năm 80 - 90 của thế kỷ XIX, để khắc phục những nhận thức mơ
hồ về chủ nghĩa xã hội và thời kỳ quá độ vẫn còn khá phổ biến trong phong trào
công nhân quốc tế, Ph.Ăng-ghen đã nói rõ quan niệm của ông về sự khác nhau căn
bản giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản. Ông viết: "Cái gọi là "xã hội xã hội
chủ nghĩa", theo ý kiến tôi, không phải là cái gì đó nhất thành bất biến, mà cũng
như mọi chế độ xã hội khác, nó cần phải được xem xét như một xã hội được thay
đổi và cải tạo thường xuyên. Sự khác biệt có tính chất quyết định của nó so với
chế độ hiện nay (chế độ tư bản chủ nghĩa - Đ.T.H), dĩ nhiên, là ở việc tổ chức sản
xuất trên cơ sở sở hữu chung trước hết của từng dân tộc đối với tất cả các tư liệu
sản xuất"
(9)
.
Không chỉ khẳng định sự khác biệt căn bản của chủ nghĩa xã hội so với chủ
nghĩa tư bản là ở chế độ công hữu về tư liệu sản xuất - cái mà "chỉ nhờ có nó mới
thực hiện được việc giải phóng giai cấp công nhân, và cùng với nó, thực hiện được
việc giải phóng tất cả những thành viên xã hội"
(10)
, Ph.Ăng-ghen còn nhấn mạnh,
tính ưu việt lớn nhất của chủ nghĩa xã hội là, cùng với việc thiết lập chế độ công
hữu ấy, lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, mọi thành quả của văn hóa, khoa học
sẽ mang lại lợi ích cho toàn thể xã hội và cho mỗi người. Ông khẳng định một
cách chắc chắn rằng, sau thời kỳ quá độ là một "chế độ xã hội mới trong đó sẽ
không còn những sự phân biệt giai cấp hiện nay nữa, và trong đó... những phương
tiện để sinh sống, để hưởng thụ những niềm vui của cuộc đời, để có được học vấn,
và để biểu hiện tất cả mọi năng lực thể chất và tinh thần của mình, sẽ được giao
cho tất cả mọi thành viên trong xã hội sử dụng ngày càng đầy đủ, nhờ sử dụng có