Phân tích lý thuyết giá trị lao động của trường phái cổ điển Anh - Pdf 10

Phân tích lý thuyết giá trị lao động của trờng phái cổ điển Anh. Mác đã kế
thừa và phát triển lý thuyết này nh thế nào ?
Chính sách kinh tế mới của V.I Lênin có ý nghĩa to lớn, nó giúp nền kinh
tế Xô Viết thoát ra khỏi khủng hoảng và phục hồi dần sau khi bị tàn phá kiệt
quệ trong chiến tranh, tạo tiền đề vật chất ban đầu để xây dựng chủ nghĩa xã
hội. Chính sách kinh tế mới của V.I Lê nin còn đánh dấu một bớc phát triển
mới về lý thuyết nền kinh tế xã hội chủ nghĩa đó là t tởng về một nền kinh tế
nhiều thành phần, các hình thức kinh tế trong thời kỳ quá độ, việc duy trì và
phát triển quan hệ hàng hoá tiền tệ, quan tâm tới lợi ích cá nhân, đây là những
vấn đề có tính chất nguyên tắc trong việc xây dựng mô hình nền kinh tế xã hội
chủ nghĩa. Do đó chính sách kinh tế mới có ý nghĩa quan trọng đối với các n-
ớc phát triển theo định hớng xã hội chủ nghĩa, trong đó có nớc ta.
Thực tế ở Việt nam, chúng ta thực hiện quá độ lên chủ nghĩa xã hội với
xuất phát điểm rất thấp: nền kinh tế chủ yếu là sản xuất nhỏ, tự cấp tự túc, lực
lợng sản xuất lạc hậu, năng suất lao động thấp, nền kinh tế nhiều thành phần
đang trong quá trình hình thành. Để thực hiện thành công những mục tiêu, chủ
trơng mà Đảng, Nhà nớc ta đề ra nhằm xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội
ở nớc ta thì không thể không tham khảo kinh nghiệm của các nớc XHCN đi tr-
ớc để rút ra lý luận, đờng đi riêng cho mình.
Nội dung của chính sách kinh tế mới: thuế lơng thực, mở rộng trao đổi
hàng hoá, quan hệ hàng tiền, kinh tế nhiều thành phần, các hình thức kinh tế
thời kỳ quá độ... rất phù hợp với điều kiện hiện nay ở nớc ta cũng nh xu thế
chung của thế giới (hợp tác hoá, đa phơng hoá...). Việc nghiên cứu và vận
dụng sáng tạo chính sách kinh tế mới (NEP) của Lênin vào hoàn cảnh nớc ta
là việc làm cần thiết, giúp chúng ta tìm ra đờng lối chính sách phù hợp để phát
triển kinh tế tạo nền tảng để thực hiện thành công chủ nghĩa xã hội.
Do giới hạn về thời gian và phạm vi nghiên cứu, nên bài viết này chỉ đề
cập đến những điểm cơ bản về hoàn cảnh ra đời và nội dung chính sách kinh
tế mới của Lê nin và vận dụng của nó vào điều kiện thực tiễn ở nớc ta.
I. Hoàn cảnh ra đời và nội dung của NEP.
1. Hoàn cảnh ra đời.

thu thuế dễ dàng, thuận lợi, nông dân đợc khuyến khích sản xuất.
Việc thay chế độ trng thu lơng thực bằng chế độ thuế lơng thực ổn định,
việc cho nông dân quyền tự do lựa chọn hình thức sử dụng ruộng đất, kể cả rút
ruộng đất ra khỏi công xã nông thôn, việc cho phép mặc dù còn có những hạn
chế nhất định, thuế ruộng đất và thuế sức lao động tất cả những cái đó đã
tạo điều kiện để tăng cờng tính tích luỹ kinh tế ở nông thôn, là đòn bẩy mạnh
mẽ để khôi phục nền nông nghiệp sau chiến tranh, biểu hiện yêu cầu của tính
quy luật đầu tiên của quá trình khôi phục kinh tế.
b. Chính sách khôi phục và phát triển sản xuất hàng hoá, thiết lập
quan hệ hàng hoá - tiền tệ giữa Nhà nớc và nông dân, giữa thành thị và
nông thôn, giữa công nghiệp và nông nghiệp, tổ chức thị trờng, lu thông
theo quan điểm mới.
Muốn cải thiện đời sống nông dân và công nhân thì không thể dựa vào
nền nông nghiệp gia trởng mang tính chất tự cung tự cấp mà chỉ có thể dựa
vào một nền nông nghiệp hàng hoá. ý nghĩa và tác dụng cần có thuế lơng thực
không thể phát huy đợc trong nền nông nghiệp tự cung tự cấp vì số nông sản
2
thừa tăng lên một mức độ nào đó nếu không có trao đổi thì có mất tác dụng
kích thích.
Cơ chế kinh tế hàng hoá sẽ đáp ứng nhu cầu nhiều mặt của sản xuất và
tiêu dùng của nông dân và xã hội. Thông qua trao đổi hàng hoá thúc đẩy quá
trình phân công lao động trong nông nghiệp vừa đi vào chuyên canh vừa phát
triển kinh doanh tổng hợp, nhờ đó các lực lợng sản xuất trong nông nghiệp đ-
ợc khôi phục và phát triển.
Mục đích cao nhất của chính sách kinh tế mới ở bớc ngoặc cách mạng là
thiết lập liên minh kinh tế giữa hai giai cấp công nhân và nông dân trong điều
kiện nông nghiệp lạc hậu, phân tán thì thơng nghiệp là mối liên hệ kinh tế duy
nhất có thể có giữa hàng chục triệu nông tiểu nông với giai cấp vô sản, là điều
kiện để cho nông nghiệp và công nghiệp có thể tái sản xuất đợc. Hơn nữa,
không có hoạt động thơng nghiệp thì không thể sử dụng các hình thức quá độ

1.Thực trạng kinh tế Việt Nam.
Sau khi dành đợc độc lập (1945) nớc ta phải đơng đầu với một nền kinh
tế lạc hậu, nông nghiệp yếu kém. Tình trạng thiếu lơng thực, thực phẩm diễn
ra khắp nơi. Nhân dân chết đói (2 triệu năm 1945), ruộng đất bị bỏ hoang.
Nền tài chính non yếu, Nhà nớc ta cha có đồng tiền riêng. Cộng với chế độ
quan liêu bao cấp cửa quyền (trong những năm 70- 80), đã làm cho nền kinh
tế nớc ta trong mỗi thời kỳ có những khó khăn riêng.
Do không thừa nhận các quy luật kinh tế vốn có nên nền kinh tế nớc ta
trớc đổi mới (1986) rất trì trệ, yếu kém. Đó là một nền kinh tế công nông
nghiệp lạc hậu, lực lợng sản xuất cha theo kịp quan hệ sản xuất. Là một nớc
nông nghiệp nhng chúng ta phải nhập lơng thực, đời sống nhân dân vẫn còn
khó khăn. Do đó đòi hỏi phải có sự thay đổi, cải tiến vận dụng các chính sách
kinh tế đã đợc ứng dụng thành công ở các nớc XHCN đi trớc. Việc áp dụng
chính sách kinh tế mới đã thành công ở Liên Xô là một nớc có một số đặc
điểm giống Việt Nam là điều hết sức cần thiết.
2. Vận dụng chính sách kinh tế mới ở Việt Nam.
a. áp dụng NEP trong giai đoạn 1960 - 1975.
* Trong giai đoạn này nớc ta tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa (miền
Bắc).
Trong công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, chúng ta dùng con
đờng hợp tác hoá nông nghiệp kết hợp cải tạo quan hệ sản xuất với cải tiến kỹ
thuật và giáo dục t tởng, đi từ tổ đội công đến hợp tác xã bậc thấp và hợp tác
xã sản xuất bậc cao, từ hợp tác xã nông nghiệp quy mô nhỏ đến hợp tác xã
quy mô lớn để biến nông dân cá thể thành nông dân tập thể. Trong việc cải tạo
công thơng t bản t nhân, căn cứ vào điều kiện cụ thể của nớc ta, chúng ta chủ
trơng cải tạo hoà bình công thơng nghiệp t bản t nhân theo chủ nghĩa xã hội:
dùng chính sách sử dụng, hạn chế và cải tạo, chính sách chuộc lại và trả dần
đối với t liệu sản xuất của giai cấp t sản, thông qua các hình thức gia công, đặt
hàng, kinh tiêu, đại lý xí nghiệp công t hợp doanh và xí nghiệp hợp tác; kết
hợp các biện pháp kinh tế, hành chính giáo dục.

nghiệp nặng làm nền tảng, u tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý,
đồng thời ra sức phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ nhằm biến nớc ta
từ một nớc nông nghiệp lạc hậu thành một nớc có công nghiệp hiện đại
Để thực hiện chủ trơng trên, nhà nớc đã dành 48% số vốn đầu t xây dựng
cơ bản để xây dựng công nghiệp, trong đó tới 78% dành cho công nghiệp
nặng. Với số vốn đó ta đã xây dựng đợc một số công trình lớn của kế hoạch
này: khu ngang thép Thái Nguyên, nhà máy điện uông bí, hoá chất Việt Trì,
Supe phot phát Lâm Thao.
Do đó trong giai đoạn này giá trị sản lợng công nghiệp và nông nghiệp
đều có bớc tăng trởng vọt bậc, chi viện cho tiền tuyến.
b. áp dụng NEP vào Việt Nam giai đoạn 1975 -1986.
Trớc hết là vấn đền củng cố và hoàn thiện quan hệ sản xuất ở miền Bắc.
Do có sự khủng hoảng của mô hình tập thể hoá nông nghiệp trong giai đoạn
1976 1980 nên tháng 1-1981 Ban bí th trung ơng đã ra chỉ thị 100 về khoán
sản phẩm cuối cùng đến nhóm va ngời lao động.
Sự ra đời của chỉ thị 100 rất phù hợp với thực tiễn khách quan, bởi vì
vào cuối những năm 70 nền kinh tế nói chung, nông nghiệp nói riêng gặp
nhiều khó khăn gay gắt: năng suất, sản lợng cây trồng, vật nuôi giảm; sản xuất
không đủ tiêu dùng; thu nhập và đời sống của xã viên bị bấp bênh và giảm sút;
5


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status