LUẬN VĂN: Phân tích lý luận giá trị, giá cả hàng hoá trong các học thuyết kinh tế - Pdf 12

z

LUẬN VĂN:

Phân tích lý luận giá trị, giá cả hàng
hoá trong các học thuyết kinh tế


Theo đà thâm nhập của tư bản vào lĩnh vực sản xuất, những vấn đề kinh tế
của sản xuất nảy sinh vượt quá khả năng lý giải của chủ nghĩa Trọng thương; Đòi
hỏi phải có những lý thuyết mới – Kinh tế chính trị học tư sản cổ điển xuất hiện.
Kinh tế chính trị học tư sản cổ điển lần đầu tiên chuyển đối tượng nghiên
cứu từ lĩnh vực lưu thông sang lĩnh vực sản xuất. Các đại biểu xuất sẵc của trường
phái cổ điển là W.Petty, F.Quesnay, A.Smith, D.Ricacdo. Các ông nghiên cứu
những vấn đề cơ bản của lý luận kinh tế chính trị học như thuyết giá trị lao động,
tiền lương, lợi nhuận, lợi túc, tư bản, tích luỹ, tái sản xuất. Từ đó xây dựng nên hệ
thống các phạm trù, quy luật kinh tế. Trường phái này ủng hộ tư tưởng tự do kinh
tế, dưới sự chi phối của bàn tay vô hình, Nhà nước không can thiệp vào kinh tế.
Song thực tế đã bác bỏ tư tưởng tự do kinh tế của trường phái cổ điển. Đồng
thời thể hiện sự bất lực của kinh tế chính trị học tư sản cổ điển trước những hiện
thực kinh tế mới. Trước bố cảnh đó, nhiều trào lưu kinh tế chính trị học nổi lên mà
cơ bản là 2 trào lưu:
Một là những nhà kinh tế tiếp tục thuyết tư sản cổ điển đã đổi mới và phát
triển, Trường phái Keynes, tự do mới, chính hiện đại.
Hai là kinh tế chính trị học Marx – Lenin.
Trong hệ thống các các lý luận cơ bản của từng trường phái cũng như của cả
quá trình lịch sử phát triển, lý luận giá trị lao động đóng vai trò hạt nhân, là cơ sở
của các lý luận khác; Nó cũng bắt đầu sơ khai từ những tư tưởng kinh tế và được
phát triển thành những quan niệm, khái niệm và đến Marx đã khái quát hoá thành
những phạm trù, những hệ thống lý luận hoàn chỉnh mà nhờ đó giải thích được
các hiện tượng kinh tế trong xã hội.
Với những kiến thức tiếp cận được qua các bài giảng của Thầy giáo, qua một
số tài liệu nghiên cứu hiện hành, Trong phạm vi bản tiểu luận này, trên lập trường
tư tưởng của chủ nghĩa Marx – Lenin, em xin chọn đề tài Phân tích lý luận giá
trị, giá cả hàng hoá trong các học thuyết kinh tế.

bằng cách hy sinh lợi ích của dân tộc khác. Trong trao đổi phải có một bên thua để
bên kia được.
Mặc dù còn hạn chế về tính lý luận nhưng hệ thống quan điểm học thuyết
kinh tế Trọng thương đã taọ ra những tiền đề lý luận kinh tế xã hội cho các lý luận
kinh tế thị trường sau này phát triển. Điều này thể hiện ở chỗ họ đưa ra quan điểm
sự giàu có không phải là giá trị sử dụng mà là giá trị, là tiền. Mục đích hoạt động
của kinh tế hàng hoá, kinh tế thị trường là lợi nhuận. Marx chỉ ra rằng chủ nghĩa
Trọng thương thế kỷ XVI-XVII đã đi theo “cái hình thái chói lọi của giá trị trao
đổi và đứng trên lĩnh vực thô sơ của lưu thông hàng hoá để xem xét nền sản xuất
tư bản chủ nghĩa”.
II-/ lý luận của chủ nghĩa Trọng nông:
Cũng như chủ nghĩa Trọng thương, chủ nghĩa Trọng nông xuất hiện trong
khuôn khổ thời kỳ quá độ phong kiến sang chế độ tư bản chủ nghĩa, nhưng ở giai
đoạn phát triển kinh tế trưởng thành hơn. Vào giữa thế kỷ XVIII Tây Âu đã phát
triển theo con đường tư bản chủ nghĩa và ở nước Anh, cuộc cách mạng công
nghiệp đã bắt đầu. ở nước Pháp chủ nghĩa tư bản công trường thủ công đã bén rễ
ăn sâu một cách vững chắc. Điều đó đòi hỏi xét lại học thuyết của chủ nghĩa
Trọng thương đã trở thành cấp thiết. Thời kỳ tích luỹ ban đầu đã chấm dứt và việc
dùng thương mại để bóc lột các nước thuộc địa đã mất hết ý nghĩa đặc biệt của nó
với tư cách là nguồn làm giàu cho giai cấp tư sản.
Những người theo chủ nghĩa Trọng nông mà đại diện tiêu biểu là Keynes
cho rằng, xã hội loài người phát triển theo những quy luật tự nhiên. Theo họ,
nguồn gốc duy nhất của của cải là tự nhiên, là nông nghiệp vì nông nghiệp đem lại
cho con người những kết quả của tự nhiên.
Những người Trọng nông cho rằng, lợi nhuận thương nghiệp có được chẳng
qua là nhờ tiết kiệm các khoản chi phí thương mại. Vì theo họ thương mại chỉ đơn
thuần là “việc đổi những giá trị này lấy những giá trị khác ngang như thế” và

có sự tăng thêm về chất, tạo ra sản phẩm thuần tuý mới.
F.Quesnay tuyên bố: “Chỉ có của cải dân cư ở nông thôn mới để ra của cải
quốc gia”, “nông dân nghèo thì xứ sở nghèo”.
Như vậy, chủ nghĩa Trọng nông đã giải thích nguồn gốc của sản phẩm thuần
tuý theo tinh thần của chủ nghĩa tự nhiên, tựa hồ như đất đai là nguồn gốc của sản
phẩm thuần tuý. Trong học thuyết này, họ đã coi sản phẩm thuần tuý là sản phẩm
lao động của người công nhân làm thuê, bộ phận này đã biến thành nguồn thu
nhập của giai cấp tư sản và địa chủ.
Tuy nhiên, phái Trọng nông đã tầm thường hoá khái niệm của cải, không
thấy tính hai mặt của nó (hiện vật và giá trị). Ai cũng biết rằng việc làm tăng thêm
giá trị của vật phẩm thường kèm theo việc làm giảm khối lượng thực thể chứa
đựng trong các vật phẩm đó. Giá trị và khối lượng của vật phẩm có thể thay đổi
theo chiều hướng hoàn toàn ngược nhau.
III-/ Các lý luận giá trị, giá cả hàng hoá trong các học thuyết kinh tế chính trị
tư sản cổ điển Anh:
Chủ nghĩa Trọng thương đã trở thành lỗi thời và bắt đầu tan rã ngay từ thế
kỷ XVII, trước hết là Anh, một nước phát triển nhất về mặt kinh tế. Tiền đề của
việc đó được tạo ra chủ yếu là do sự phát triển các công trường thủ công ở Anh,
đặc biệt là trong nhành dệt, sau đó là công nghiệp khai thác. Giai cấp tư sản đã
nhận thức được rằng: “muốn làm giàu phải bóc lột lao động, lao động làm thuê
của những người nghèo là nguồn gốc làm giàu vô tận cho những người giàu”.
Tất cả những điều kiện kinh tế, xã hội khoa học của cuối thế kỷ XVII đã
chứng tỏ thời kỳ tích luỹ ban đầu của tư bản đã kết thúc và thời kỳ sản xuất tư bản
chủ nghĩa bắt đầu. Tính chất phiến diện của học thuyết trọng thương trở nên quá
rõ ràng, đòi hỏi phải có lý luận mới để đáp ứng với sự vận động và phát triển của
sản xuất tư bản chủ nghĩa. Trên cơ sở đó, kinh tế chính trị học cổ điển Anh ra đời.
Theo Marx, kinh tế chính trị học cổ điển Anh bắt đầu từ William Petty và kết

lộn hai cái đó. Ông cũng chia lao động ra làm hai loại: một loại lao động sản xuất
ra vàng và bạc, một loại khác là lao động sản xuất ra những hàng hoá bình thường.
Ông cho rằng chỉ có lao động khai thác vàng và bạc mới có giá trị trao đổi, còn
các lao động khác thì chỉ khi trao đổi hàng và tiền mới này sinh giá trị trao đổi.
Theo ông, giá trị hàng hoá chính là sự phản ánh giá trị tiền tệ cũng như ánh sáng
của mặt trăng là sự phản chiếu ánh sáng mặt trời vậy. Đó là ảnh hưởng tư tưởng
chủ nghĩa Trọng thương rất nặng ở ông.
Petty đã lẫn lộn lao động với tư cách là nguồn gốc của giá trị với lao động
với tư cách là nguồn gốc của giá trị sử dụng, nghĩa là ông đã đồng nhất lao động
trừu tượng với lao động cụ thể. Từ đó Petty có ý định đo giá trị bằng hai đơn vị
lao động và đất đai. Ông nêu ra câu nói nổi tiếng: “Lao động là cha, còn đất là mẹ
của của cải”. Về phương diện của cải nói như vậy là đúng, chỉ rõ nguồn gốc giá
trị sử dụng. Nhưng cái mà ông muốn nói đến là giá trị, ông nói: việc xem xét giá
trị của tất cả mọi hàng hoá đều phải xuất phát từ hai yếu tố tự nhiên, tức là đất đai
và lao động. Nói như vậy ông đã đi ngược lại kết luận đúng đắn của chính mình là
giá trị được quyết định bởi thời gian lao động hao phí trong quá trình sản xuất
hàng hoá.
2-/ Adam Smith – Người đầu tiên trình bày một cách có hệ thống lý luận
giá trị lao động và những yếu tố tầm thường còn tồn tại trong lý luận của ông:
Adam Smith (1723-1790) là nhà kinh tế chính trị cổ điển nổi tiếng ở Anh và
trên thế giới. Ông là nhà tư tưởng tiên tiến của giai cấp tư sản, ông muốn thủ tiêu
tàn tích phong kiến, mở đường cho chủ nghĩa tư bản phát triển, kêu gọi tích luỹ và
phát triển lực lượng sản xuất theo ý nghĩa tư bản, xem chế độ tư bản chủ nghĩa là
hợp lý duy nhất. Marx coi A.Smith là nhà kinh tế học tổng hợp của công trường
thủ công.
A.Smith đã phân biệt rõ ràng giá trị sử dụng với giá trị trao đổi. Ông nói:
“Giá trị có hai nghĩa khác nhau, có lúc nó biểu thị hiệu quả sử dụng như là một

Về cấu thành giá trị của hàng hoá. Theo A.Smith trong sản xuất tư bản chủ
nghĩa, tiền lương, lợi nhuận và địa tô là ba nguồn gốc đầu tiên của mọi thu nhập,
cũng như mọi giá trị trao đổi. A.Smith coi tiền lương, lợi nhuận và địa tô là ba
nguồn gốc đầu tiên của mọi thu nhập, đó là quan điểm đúng đắn. Song ông lại tầm
thường ở chỗ coi các khoản thu nhập là nguồn gốc đầu tiên của mọi giá trị trao
đổi. Ông đã lẫn lộn hai vấn đề hình thành giá trị và phân phối giá trị, giá trị của
hàng hoá với giá trị mới sáng tạo ra của lao động; Hơn nữa, ông cũng đã xem
thường tư bản bất biến, coi giá trị hàng hoá chỉ có (V+m).
A.Smith nghiên cứu quy luật giá trị và tác dụng của nó. Ông đã phân biệt giá
cả tự nhiên với giá cả thị trường. Ông khẳng định hàng hoá được bán theo giá cả
tự nhiên, nếu giá cả đó ngang với mức cần thiết để trả cho tiền lương, lợi nhuận và
địa tô. Theo ông, giá cả tự nhiên là trung tâm. Giá cả thị trường là giá bán thực tế
của hàng hoá, giá cả này nhất trí với giá cả tự nhiên khi hàng hoá được đưa ra thị
trường với số lượng đủ “thoả mãn lượng cầu thực tế”. Nhưng do sự biến động của
cung cầu là cho giá cả thị trường chênh lệch với giá cả tự nhiên. Bản thân giá cả tự
nhiên cũng thay đổi cùng với tỷ suất tự nhiên của mỗi bộ phận cấu thành nó. Ông
đã nhận thấy giá cả trong chủ nghĩa tư bản được đặt ra khác với trước đây. Nhưng
ông không thấy được trong chủ nghĩa tư bản quá trình thực hiện giá trị gắn liền
với việc phân phối lại giá trị dưới hình thái lợi nhuận, địa tô và lợi tức. Ông đã vấp
vào vấn đề giá cả sản xuất. Có thể thấy rằng, không những ông coi giá cả dao
động xung quanh giá trị là một hiện tượng có tính quy luật, mà còn chứng minh rã
tác dụng điều tiết của quy luật giá trị đối với sản xuất hàng hoá. Nhưng do chỗ
không hiểu được mối liên hệ nối tại giữa giá trị và giá cả, ông không giải thích
được sự xa rời giá cả khỏi giá trị chính là hình thức tác động của quy luật giá trị.
Công lao chủ yếu của A.Smith về lý luận giá trị là đã phân biệt được giá trị
sử dụng và giá trị trao đổi, hơn nữa, ông đã cho rằng lao động là “thước đo thực tế
của giá trị”. Nhưng do hạn chế về lập trường, quan điểm và phương pháp nên lý

phụ thuộc vào việc có nhiều hay ít của cải, mà tuỳ thuộc vào điều kiện sản xuất
khó khăn hay thuận lợi”. Theo ông sở dĩ có nhiều lầm lẫn trong khoa học kinh tế
chính trị là do người ta coi “sự tăng của cải và tăng giá trị là một”, là do người ta
quên rằng thước đo giá trị chưa phải là thước đo của cải vì của cải không phụ
thuộc vào giá trị. Theo ông giá trị trao đổi hàng hoá được quy định bởi lượng lao
động chứa đựng trong hàng hoá, lượng lao động đó tỷ lệ thuận với lao động tạo ra
hàng hoá. “Tính hữu ích không tăng cùng nhịp độ với tăng giá trị”, “tính hữu ích
là cần thiết vì vật không có ích, nó không có được giá trị trao đổi”.
Ricacdo cho rằng hàng hoá hữu ích sở dĩ có giá trị trao đổi là do hai nguyên
nhân:
- Tính chất khan hiếm.
- Lượng lao động cần thiết để sản xuất ra chúng.
Như vậy là ông đã nhận thức được giá trị trao đổi được quyết định bởi lượng
lao động đồng nhất của con người, chứ không phải là lượng lao động hao phí cá
biệt. Về điểm này ông là người đầu tiên đã phân biệt được lao động cá biệt và lao
động xã hội. Nhưng lầm lẫn của ông là cho rằng giá trị hàng hoá được điều tiết bởi
lượng lao động lớn nhất hao phí trong những điều kiện xấu (Về điểm này thì Marx
xác định trong điều kiện trung bình).
Ricacdo phân biệt giá cả tự nhiên và giá cả thị trường. Ông cho rằng, không
một hàng hoá nào mà giá cả không bị ảnh hưởng của biến động ngẫn nhiên hay
tạm thời. Nhưng nguyện vọng của các nhà tư bản luôn có xu hướng muốn rút số
vốn của mình ra khỏi một công việc kinh doanh ít lãi và đầu tư vào một công việc
kinh doanh có lãi hơn, nguyện vọng đó không cho phép giá cả thị trường của các
hàng hoá dừng lâu ở một mức nào đó cao hơn nhiều hay thấp hơn nhiều so với giá
cả tự nhiên của chúng.
Đề cập vấn đề tăng giá cả, Ricacdo viết rằng, việc tăng giá cả lên có thể là
một nhân tố điều tiết một lượng cung không đủ so với một lượng cầu đang phát

được các cửa ải là không nhận được tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá.
Mặc dù ông và A.Smith biết rằng lao động tạo ra giá trị là một thứ lao động không
kể hình thái của nó.
Khác với A.Smith, Ricacdo cho rằng quy luật giá trị vẫn hoạt động trong chủ
nghĩa tư bản - đây là quan điểm đúng đắn của ông; Tuy nhiên, hoạt động như thế
nào thì ông không chứng minh được vì ông không thể giải qưuyết được vấn đề giá
cả sản xuất, ông đã đồng nhất hoá giá trị và giá cả sản xuất. Ông cũng chưa hiểu
được giá trị trao đổi là hình thức của giá trị. Ricacdo nói riêng và các nhà kinh tế
học tư sản nói chung chỉ chú ý phân tích mặt lượng giá trị, ít chú ý đến mặt chất
và hoàn toàn không phân tích hình thái giá trị. Đây là một trong những nhược
điểm chủ yếu của kinh tế chính trị cổ điển tư sản, khuyết điểm này là do thiếu
quan điểm lịch sử, xem xét các hàng hoá, tiền tệ, tư bản là hình thái tự nhiên vĩnh
viễn.
Tóm lại, Ricacdo đã đứng vững trên cơ sở lý luận giá trị lao động. Marx
đánh giá “Nếu A.Smith đã đưa khoa học kinh tế chính trị vào hệ thống, thì
Ricacdo đã kết cấu toàn bộ khoa học kinh tế chính trị bằng một nguyên lý thống
nhất, nguyên lý chủ yếu quyết định của ông là thời gian lao động quyết định giá
trị”.
IV-/ Những lý luận của kinh tế chính trị tư sản tầm thường:
Đầu thế kỷ XIX, cuộc cách mạng công nghiệp đã hoàn thành, cuộc khủng
hoảng kinh tế 1825 mở đầu cho các cuộc khủng hoảng có chu kỳ. Sau nước Anh,
phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa cũng được xác lập ở các nước khác. Từ
năm 1930, sự thống trị về chính trị của giai cấp tư sản được xác lập ở Anh và
Pháp, nhưng giai cấp vô sản cũng ngày càng lớn mạnh, phong trào công nhân
chuyển từ tự phát sang tự giác, nay mang tính chất chính trị, đe doạ sự tồn tại của
chủ nghĩa tư bản. Việc xuất hiện những hình thái khác nhau của CNXH không
tưởng đã phê phán kịch liệt chế độ tư banr gây tiếng vang trong giai cấp công

2-/ Lý luận của Jean Baptisste Say:
Jean Baptisste Say (1766-1832) sinh ra trong một gia đình thương nhân ở
Lyon. Điểm nổi bật trong phương pháp luận của ông là áp dụng phương pháp chủ
quan, tâm lý trong việc đánh giá các hiện tượng và quá trình kinh tế, phủ nhận các
quy luật kinh tế khách quan.
Lý thuyết giá trị của B.Say xa rời lý thuyết giá trị – lao động, ủng hộ lý
thuyết giá trị – ích lợi hay giá trị – chủ quan. B.Say đã đem “Thuyết về tính hữu
dụng” đối lập với lý luận giá trị của Ricacdo. Theo B.Say, sản xuất tạo ra giá trị
hữu dụng (giá trị sử dụng), còn “tính hữu dụng lại truyền giá trị cho các vật”. Giá
trị là thước đo tính hữu dụng. Như vậy, ông đã không phân biệt được giá trị sử
dụng và giá trị, coi giá trị sử dụng và giá trị là một, do đó đã che đậy cái bản chất
đặc thù xã hội của giá trị.
Nếu Ricacdo đã vạch rõ, không thể lẫn lộn, giữa giá trị sử dụng và giá trị, giá
trị khác xa với của cải, giá trị không tuỳ thuộc vào việc có nhiều hay ít của cải, mà
tuỳ thuộc vào điều kiện sản xuất khó khăn hay thuận lợi; năng suất lao động tăng
lên thì sẽ ảnh hưởng một cách khác nhau đến của cải và giá trị… thì B.Say lại cho
rằng giá trị của vật càng cao thì tính hữu dụng càng lớn. Ricacdo đã phản đối điều
đó một cách ý nhị rằng, nếu ngươid ta trả cho livrơ vàng 2000 lần hơn là trả cho
một livrơ sắt, thì phải chăng điều đó có nghĩa là tính hữu dụng của vàng 2000 lần
hơn tính hữu dụng của sắt? B.Say đã không giải đáp được điều đó.
B.Say còn cho rằng, giá trị được xác định trên thị trường, hay giá trị chỉ
được xác định trong trao đổi; thước đo giá trị của đồ vật là số lượng các vật mà
người khác đồng ý đưa ra để “đổi lấy” đồ vật nói trên. Nói cách khác, theo Say,
giá trị được quyết định bởi quan hệ cung cầu. Theo Marx, luận điểm này cho thấy
vật nào càng hiếm thì giá trị càng cao, lại trái với luận điểm vật có giá trị sử dụng
cao thì có giá trị cao. Marx đã chứng minh rằng, cung cầu chỉ điều tiết sự chênh
lệch giữa giá cả thị trường của hàng hoá và giá trị của chúng.

đoạn. Trong giai đoạn đầu ông ủng hộ A.Smith. Giai đoạn sau, ông phê phán tư
bản chủ nghĩa và các quan điểm của phái cổ điển.
Sismondi đứng trên lập trường giá trị – lao động để quy định giá trị của hàng
hoá. Theo Marx, ông đã nhìn thấy tính chất xã hội đặc thù của lao động, ông đã
đưa ra danh từ “thời gian lao động xã hội cần thiết” để thoả mãn nhu cầu đó. Khi
xác định giá trị, ông không dựa vào lao động cá biệt mà dựa vào lao động xã hội.
Ông chỉ ra là, lao động là nguồn gốc duy nhất của mọi của cải. Ông thấy được
mâu thuẫn giữa giá trị sử dụng và giá trị.
Theo ông, tiền tệ, cũng như hàng hoá khác, là sản phẩm của lao động. Tiền
là thước đo chung của giá trị. Ông thấy được sự khác nhau giữa tiền giấy và tiền
tín dụng.
Tuy nhiên ông không đi xa hơn quan điểm của Ricacdo, thậm chí có chỗ còn
làm cho những quan điểm đó tồi tệ hơn. Chẳng hạn, Ricacdo coi giá trị tương đối
của hàng hoá được quy định bằng lượng lao động đã chi phí vào việc sản xuất
hàng hoá, còn Sismondi coi giá trị tương đối của hàng hoá là phụ thuộc vào cạnh
tranh, vào lượng cầu, vào tỷ lệ giữa thu nhập và lượng cung về hàng hoá. Ông còn
đưa ra khái niệm giá trị tuyệt đối hay chân chính, điều này Ricacdo không đề cập
tới. Nhưng Sismondi giải thích khái niệm đó theo kiểu tự nhiên chủ nghĩa và đi
tìm giá trị đó trong một đơn vị kinh tế độc lập, đi vào con đường những câu truyện
Robinxơn cổ truyền.
2-/ Những lý luận của Proudhon:
Proudhon (1809-1865) sinh ra trong một gia đình thợ thủ công nghèo. Trong
các tác phẩm của mình ông thể hiện là một nhà tư tưởng bảo vệ sản xuất nhỏ. Nếu
Sismondi phản ánh tư tưởng tiểu tư sản ở giai đoạn đầu của chủ nghĩa tư bản, thì
Proudhon (1809-1865) lại phản ánh tư tưởng tiểu tư sản ở giai đoạn cao hơn của
chủ nghĩa tư bản. Theo Marx, Proudhon là một nhà tư tưởng chính cống nhất, một
trăm phần trăm của giai cấp tiểu tư sản. Lý luận giá trị là phần quan trọng trong

Từ đó, đòi hỏi phải có lý luận cách mạng làm vũ khí tư tưởng cho giai cấp vô sản.
Chủ nghĩa Marx ra đời. Karl Marx (1818-1883) và Engels (1820-1895) là những
người sáng lập ra chủ nghĩa Marx.
Chủ nghĩa Marx phát sinh ra là sự tiếp tục trực tiếp của triết học cổ điển
Đức, kinh tế chính trị Cổ điển Anh và CNXH không tưởng Pháp. Lênin coi đó là 3
nguồn gốc lý luận của chủ nghĩa Marx.
Trong hệ thống các học thuyết kinh tế, học thuyết về giá trị – lao động được
trình bày như là cơ sở của tất cả các học thuyết kinh tế của Marx. Lần đầu tiên, giá
trị được xem xét như là quan hệ sản xuất xã hội của những người sản xuất hàng
hoá, còn hàng hoá là nhân tố tế bào của xã hội tư sản. Giá trị hàng hoá là lao động
của người sản xuất hàng hoá kết tinh trong hàng hoá. Giá trị là phạm trù lịch sử –
có sản xuất hàng hoá thì mới có giá trị hàng hoá. Giá trị trao đổi chỉ là hình thức
biểu hiện của giá trị; Giá trị là nội dung, là cơ sở của giá trị trao đổi.
Theo Marx, hàng hoá có hai thuộc tính: giá trị và giá trị sử dụng; Ông đã tiến
xa hơn lý luận của các nhà tư sản cổ điển là phân biệt 1 cách rõ ràng hai thuộc tính
này; Đó là:
Giá trị sử dụng là công dụng của vật phẩm có thể thoả mãn nhu cầu nào đó
của con người. Còn giá trị là lao động xã hội thể hiện và vật hoá trong hàng hoá.
Giá trị và giá trị sử dụng là hai thuộc tính cùng tồn tại và thống nhất với
nhau ở một hàng hoá. Quá trình thực hiện giá trị và quá trình thực hiện giá trị sử
dụng là hai quá trình khác nhau về thời gian và không gian. Trước khi thực hiện
giá trị sử dụng của hàng hoá, phải thực hiện giá trị của nó; nếu không thực hiện
được giá trị thì sẽ không thực hiện được giá trị sử dụng.
Marx phân tích tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá là lao động
cụ thể và lao động trừu tượng, lao động tư nhân và lao động xã hội.
Lao động cụ thể là lao động có ích dưới một hình thức cụ thể, có đối tượng
lao động, mục đích, phương pháp lao động, kết quả sản xuất riêng. Chính cái riêng

về giá trị hàng hoá; Ông đã hoàn thiện các yếu tố cấu thành lên giá trị hàng hoá
gồm 3 bộ phận: C + V + m (Trong đó C là lao động quá khứ, V là lao động sống
và m là giá trị thặng dư do lao động sống tạo ra). Ricacdo nói riêng và các nhà
kinh tế học tư sản nói chung chưa hiểu được, chưa phân tích các hình thái giá trị;
Nhưng Marx chỉ rõ: giá trị trao đổi chỉ là hình thức biểu hiện của giá trị; Ông đã đi
sâu phân tích giá cả sản xuất; trong điều kiện cạnh tranh tự do, giá trị chuyển hoá
thành giá cả sản xuất (Đến Lênin chỉ ra rằng trong giai đoạn sản xuất độc quyền
thì nó lại chuyển hoá thành giá cả độc quyền).
Lý luận về giá cả hàng hoá, ông cho rằng giá cả thị trường lên xuống xoay
quanh giá trị hàng hoá và trở thành cơ chế tác động của quy luật giá trị. Cơ chế
này phát sinh tác dụng trên thị trường thông qua cạnh tranh, cung – cầu, sức mua
của đồng tiền.
Marx là người đầu tiên phát hiện ra tính hai mặt của lao động sản xuất hàng
hoá. Trên cơ sở phát hiện này, Marx đã thực hiện một cuộc cách mạng trong lịch
sử học thuyết kinh tế, ông đã xây dựng học thuyết giá trị – lao động một cách hệ
thống và hoàn chỉnh. Đồng thời dựa vào phát hiện này, ông đã trình bày một cách
khoa học hệ thống các phạm trù kinh tế chính trị mà trước đó, chưa ai có thể làm
được. Và cũng nhờ đó đã giải thích được hiện tượng phức tạp diễn ra trong thực
tế, như sự vận động trái ngược: khối lượng của cải vật chất ngày càng tăng lên, đi
liền với khối lượng giá trị của nó giảm xuống hay không thay đổi.
VII-/ Trường phái của các nhà kinh tế tư sản hiện đại:
Từ cuối thế kỷ XIX đến nay, sự phát triển mạnh mẽ của lục lượng sản xuất,
khoa học kỹ thuật làm cho chủ nghĩa tư bản một mặt phát triển nhanh chóng, mặt
khác làm tăng thêm những mâu thuẫn, những tệ nạn vốn có của nó. Tình trạng
khủng hoảng kinh tế, thất nghiệp ngày càng trầm trọng hơn. Điều đó nói lên tính
đa dạng, phức tạp của con đường phát triển tư bản chủ nghĩa và đòi hỏi các nhà
kinh tế học tư sản phải tìm ra những lý thuyết kinh tế khả dĩ điều tiết nền kinh tế

người mua và người bán, tức là sự va chạm giữa cầu và cung, sự va chạm này
hình thành lên giá cả cân bằng (hay giá cả trung bình).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status