Trang 17
MỞ ĐẦU
Xã hội loài người đã và đang trải qua những hình thái kinh tế – xã hội
khác nhau. Ở mỗi giai đoạn phát triển của lịch sử xã hội loài người đều có
những hiểu biết và cách giải thích các hiện tượng kinh tế – xã hội nhất định.
Việc giải thích các hiện tượng kinh tế – xã hội ngày càng trở nên hết sức cần
thiết đối với đời sống kinh tế của xã hội loài người. Lúc đầu nó chỉ xuất hiện
dưới những hình thức tư tưởng kinh tế, về sau mới trở thành những quan
niệm, quan điểm kinh tế có tính hệ thống của các giai cấp khác nhau, đáp
ứng cho nhu cầu lý luận và bảo vệ các lợi ích của các giai cấp đó. Mặt khác,
các trường phái lý luận qua các giai đoạn lịch sử khác nhau mang tính kế
thừa, phát triển, cũng như phê phán có tính lịch sử của các trường phái kinh
tế học.
Trường phái kinh tế chính trị học tư sản đầu tiên là chủ nghĩa Trọng
thương. Nó ra đời trong thời kỳ tích luỹ nguyên thuỷ tư bản. Đối tượng
nghiên cứu của kinh tế chính trị học lúc này là lĩnh vực lưu thông và đánh
giá cao vai trò tiền tệ trong việc tích luỹ của cải. Con đường làm tăng của
cải là thương nghiệp, là ngoại thương. Họ đòi hỏi sự can thiệp của Nhà nước
vào nền kinh tế để tạo điều kiện cho chủ nghĩa tư bản ra đơì.
Theo đà thâm nhập của tư bản vào lĩnh vực sản xuất, những vấn đề
kinh tế của sản xuất nảy sinh vượt quá khả năng lý giải của chủ nghĩa Trọng
thương; Đòi hỏi phải có những lý thuyết mới – Kinh tế chính trị học tư sản
cổ điển xuất hiện.
Kinh tế chính trị học tư sản cổ điển lần đầu tiên chuyển đối tượng
nghiên cứu từ lĩnh vực lưu thông sang lĩnh vực sản xuất. Các đại biểu xuất
sẵc của trường phái cổ điển là W.Petty, F.Quesnay, A.Smith, D.Ricacdo.
Các ông nghiên cứu những vấn đề cơ bản của lý luận kinh tế chính trị học
như thuyết giá trị lao động, tiền lương, lợi nhuận, lợi túc, tư bản, tích luỹ, tái
Trang 17
sản xuất. Từ đó xây dựng nên hệ thống các phạm trù, quy luật kinh tế.
Trường phái này ủng hộ tư tưởng tự do kinh tế, dưới sự chi phối của bàn tay
trong lĩnh vực lưu thông thì do kết quả sự phát triển của công trường thủ
công, tư bản đã chuyển sang lĩnh vực sản xuất. Nhiều vấn đề kinh tế của sản
xuất được đặt ra vượt quá khả năng giải thích của học thuyết chủ nghĩa
KTTT. Điều đó đòi hỏi phải có học thuyết kinh tế mới soi đường. Học
thuyết kinh tế cổ điển xuất hiện.
Học thuyết kinh tế cổ điển là xu hướng của tư tưởng kinh tế tư sản phát
sinh trong thời kỳ hình thành phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Các
nhà kinh tế học của trường phái này lần đầu tiên chuyển đối tượng nghiên
cứu từ lĩnh vực lưu thông sang lĩnh vực sản xuất, nghiên cứu các vấn đề
kinh tế của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa đặt ra. Lần đầu tiên họ xây dựng
một hệ thống các phạm trù và các quy luật của nền kinh tế thị trường, như
phạm trù giá trị, giá cả, lợi nhuận, tiền lương, địa tô, các quy luật giá trị
cung cầu, lưu thông tiền tệ... Lần đầu tiên họ áp dụng phương pháp trừu
tượng hoá nghiên cứu mối liên hệ nhân quả để vạch ra bản chất và các quy
luật vận động của quan hệ sản xuất TBCN. Họ ủng hộ tư tưởng tự do kinh
tế, chống lại sự can thiệp của Nhà nước vào kinh tế. Tuy vậy những kết luận
Trang 17
của họ còn mang tính lịch sử, lẫn lộn giữa yếu tố khoa học và yếu tố tầm
thường.
ở nước Anh học thuyết kinh tế cổ điển bắt đầu từ William Petty và kết
thúc ở D. Ricardor.
III-/ LÝ LUẬN GIÁ TRỊ TRONG CÁC HỌC THUYẾT KINH TẾ CHÍNH TRỊ TƯ
SẢN CỔ ĐIỂN ANH:
Chủ nghĩa Trọng thương đã trở thành lỗi thời và bắt đầu tan rã ngay từ
thế kỷ XVII, trước hết là Anh, một nước phát triển nhất về mặt kinh tế. Tiền
đề của việc đó được tạo ra chủ yếu là do sự phát triển các công trường thủ
công ở Anh, đặc biệt là trong nhành dệt, sau đó là công nghiệp khai thác.
Giai cấp tư sản đã nhận thức được rằng: “muốn làm giàu phải bóc lột lao
động, lao động làm thuê của những người nghèo là nguồn gốc làm giàu vô
tận cho những người giàu”.
những hạn chế chưa phân biệt được các phạm trù giá trị, giá trị trao đổi với
giá cả. Ông tập trung nghiên cứu về giá cả một bên là hàng hoá, một bên là
tiền, tức là ông mới chú ý nghiên cứu về mặt lượng. Ông nhận thức được
rằng giá trị của tiền tệ cũng là do lượng lao động quyết định, từ đó khắc
phục được các kiến giải không những không thể trừu tượng hoá được giá trị
từ giá trị trao đổi, mà còn không trừu tượng hoá được giá trị trao đổi từ giá
cả là biểu hiện bằng tiền của giá trị, mà ông đã lẫn lộn hai cái đó. Ông cũng
chia lao động ra làm hai loại: một loại lao động sản xuất ra vàng và bạc, một
loại khác là lao động sản xuất ra những hàng hoá bình thường. Ông cho rằng
chỉ có lao động khai thác vàng và bạc mới có giá trị trao đổi, còn các lao
động khác thì chỉ khi trao đổi hàng và tiền mới này sinh giá trị trao đổi.
Theo ông, giá trị hàng hoá chính là sự phản ánh giá trị tiền tệ cũng như ánh
sáng của mặt trăng là sự phản chiếu ánh sáng mặt trời vậy. Đó là ảnh hưởng
tư tưởng chủ nghĩa Trọng thương rất nặng ở ông.
Petty đã lẫn lộn lao động với tư cách là nguồn gốc của giá trị với lao
động với tư cách là nguồn gốc của giá trị sử dụng, nghĩa là ông đã đồng nhất
lao động trừu tượng với lao động cụ thể. Từ đó Petty có ý định đo giá trị
Trang 17
bằng hai đơn vị lao động và đất đai. Ông nêu ra câu nói nổi tiếng: “Lao
động là cha, còn đất là mẹ của của cải”. Về phương diện của cải nói như
vậy là đúng, chỉ rõ nguồn gốc giá trị sử dụng. Nhưng cái mà ông muốn nói
đến là giá trị, ông nói: việc xem xét giá trị của tất cả mọi hàng hoá đều phải
xuất phát từ hai yếu tố tự nhiên, tức là đất đai và lao động. Nói như vậy ông
đã đi ngược lại kết luận đúng đắn của chính mình là giá trị được quyết định
bởi thời gian lao động hao phí trong quá trình sản xuất hàng hoá.
2-/ Adam Smith – Người đầu tiên trình bày một cách có hệ thống lý
luận giá trị lao động và những yếu tố tầm thường còn tồn tại trong lý luận
của ông:
Adam Smith (1723-1790) là nhà kinh tế chính trị cổ điển nổi tiếng ở
Anh và trên thế giới. Ông là nhà tư tưởng tiên tiến của giai cấp tư sản, ông