CH s 11 - B1 - H KTQD Chuyờn Photocopy - ỏnh mỏy - In Lun vn, Tiu lun
: 6.280.688
MC LCTrang
Li núi u
Phn I: C s lý lun v kinh t trang tri v s dng lao ng
trong kinh t trang tri.
5
I. Khỏi nim, c trng, tiờu chớ ca kinh t trang tri. 5
1. Khỏi nim. 5
2. c trng ca kinh t trang tri
6
3. Tiờu chớ v kinh t trang tri
8
II. Lao ng v s dng lao ng trong kinh t trang tri.
9
1. Lao ng ca kinh t trang tri.
9
2. S dng lao ng trong kinh t trang tri.
11
3.nh hng ca s dng lao ng n hiu qu sn xut trong nụng
nghip
12
4. í nghĩa của sử dụng lao động trong kinh tế trang trại.
13
Phần II: Phân tích thực trạng phát triển kinh tế trang trại và sử
dụng lao động trong các trang trại ở Thanh Hoá
29
2.1. Sử dụng lao động theo loại hình sản xuất.
29
2.2. Sử dụng lao động theo thời gian.
31
2.3. Sử dụng lao động theo trình độ, chuyên môn.
32
3. Hiệu quả sử dụng lao động trong các trang trại.
33
3.1. Kết quả sản xuất kinh doanh của các trang trại Thanh Hoá
33
3.2. Về mặt xã hội
35
IV. Một số nhân tố hạn chế sự phát triển kinh tế trang trại ở Thanh
hoá hoá hoá hoá hoá hoá hoá hoá hoá hoá hoá hoá Hoá
37
1. Chính sách phát triển kinh tế trang trại.
37
2. Đất đai.
38
3. Quy mô vốn đầu t.
39
4. Hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật.
39
5. Thị trờng tiêu thụ sản phẩm.
40
Phần III: Một số giải pháp nhằm thu hút và sử dụng lao động có
hiệu quả trong các trang trại Thanh Hoá.
41
I. Định hớng chung cho thu hút và sử dụng lao động.
Kết luận
55
Danh mục tài liệu tham khảo
56
3
CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận
: 6.280.688
L ỜI NÓI ĐẦU
Kinh tế trang trại khi mới ra đời ở các nước phương tây đã được xem là
biểu hiện của sự văn minh kinh tế trong lĩnh vực sản xuất nông-lâm-ngư nghiệp
vào thời kỳ kinh tế hàng hoá bắt đầu được vận hành theo cơ chế thị trường. Nó
đã phá bỏ tính khép kín trong sản xuất và ngày càng trở thành nhân tố tích cực
thúc đẩy sản xuất phát triển.
Ở Việt Nam đang trong thời kỳ CNH-HĐH, Kinh tế trang trại ra đời là một
tất yếu. Nó đã chứng tỏ lợi thế và vai trò tích cực trên một số mặt, góp phần
chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn theo hướng CNH-HĐH, tạo
thêm việc làm và thu nhập cho người lao động, góp phần tích cực xoá đói giảm
nghèo, đổi mới bộ mặt nông thôn, bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái.
Kinh tế trang trại ở Thanh Hoá ra đời từ đầu những năm 1990 cũng mang
trong nó những yếu tố tích cực đó. Tuy nhiên sự phát triển Kinh tế trang trại ở
Thanh Hoá chưa tương xứng với tiềm năng của địa phương và đang bộc lộ
những mặt hạn chế, trong đó có vấn đề thu hút và sử dụng lao động trong các
trang trại
đã và đang là vấn đề cần được quan tâm và giải quyết, liên quan chặt chẽ với lao
động ở nông thôn.
Đề tài: “Phân tích tình hình sử dụng lao động trong các trang trại ở Thanh
Hoá” là một đề tài mới nhưng nó mang tính thực tiễn và ứng dụng cao đối với
các trang trại ở Thanh Hoá./.
tổ chức chế biến tiêi thụ nông sản.
- Trang trại là loại hình sản xuất đa dạng và linh hoạt về tổ chức hoạt động
SXKD nông nghiệp (Từ các hình thức sở hữu TLSX và PTSX khác nhau có
trang trại gia đình, trang trại tư bản chủ nghĩa).
- Trang trại thường có quy mô khác nhau (nhỏ, vừa và lớn).
5
CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận
: 6.280.688
1.2. Kinh tế trang trại:
Kinh tế trang trại là nền kinh tế sản xuất nông sản hàng hoá phát sinh và
phát triển trong thời kỳ công nghiệp hoá thay thế cho nền kinh tế tiểu nông tự
cấp tự túc được biểu hiện:
- Kinh tế trang trại là tổng thể các quan hệ kinh tế của các tổ chức hoạt
động SXKD nông nghiệp bao gồm các hoạt động trước, trong và sau sản xuất
nông sản hàng hoá .
- Là sản phẩm của thời kỳ CNH- HĐH, bởi quá trình hình thành và phát
triển gắn liền với quá trình CNH từ thấp đến cao.
- Phát triển trong thời kỳ công nghiệp hoá phục vụ nhu cầu nông sản hàng
hoá là phù hợp với quy luật phát triển kinh tế và là một tất yếu khách quan của
nền kinh tế nông nghiệp trong quá trình chuyển dịch từ sản xuất tự cấp lên sản
xuất hàng hoá.
- Là loại hình tổ chức sản xuất nông nghiệp mới có tính ưu việt hơn hẳn
các loại hình tổ chức sản xuất nông nghiệp khác như kinh tế nông nghiệp tập
thể, đồn điền, tiểu nông
1
...
2. Đặc trưng của kinh tế trang trại:
Trên cơ sở khái niệm về Kinh tế trang trại đã nêu, chúng ta đi vào tìm hiểu
Chủ trang trại là người có ý chí, có năng lực tổ chức và quản lý, có kiến
thức và kinh nghiệm sản xuất nông nghiệp cũng như kinh doanh trong cơ chế thị
trường. Thông thường trang trại là một doanh nghiêp do chính người nông dân
làm chủ. Đa số chủ trang trại là lao động chính, nhiệm vụ của họ là điều hành
sản xuất và tham gia trực tiếp vào hoạt động sản xuất của trang trại.
2.4. Kinh tế trang trại là mô hình xuất nông nghiệp hiệu quả và tiên tiến:
Kinh tế trang trại có khả năng dung nạp nhiều trình độ khoa học và công
nghệ từ thô sơ đến hiện đại, phù hợp với từng loại cơ sở tạo điều kiện giảm chi
phí sản xuất và nâng cao hiệu quả sản xuất.
7
CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận
: 6.280.688
Kinh tế trang trại tạo ra nhiều chủng loại hàng hoá, khối lượng hàng hoá
nhiều, chất lượng tốt và giá thành hạ.
Kinh tế trang trại góp phần tạo ra nhiều việc làm cho lao động nông thôn,
tăng thu nhập cho người lao động, làm giảm bất công bằng trong xã hội, đi tiên
phong trong quá trình CNH-HĐH nông nghiệp nông thôn.
2.5. Kinh tế trang trại có nhiều loại hình khác nhau.
Tuỳ theo hình thức sở hữu và tổ chức quản lý mà ta có thể phân làm các
loại sau:
+ Trang trại gia đình: (loại hình trang trại này chiếm phần lớn) Trang trại
gia đình có tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh thích hợp, tiến bộ, sử dụng có
hiệu quả các TLSX (đất, lao động, vốn..) chọn và ứng dụng có hiệu quả các
thành tựu khoa học-công nghệ tiên tiến.
+ Trang trại uỷ thác: người chủ trang trại không tham gia trực tiếp vào quản
lý và sản xuất mà thuê người khác làm những việc đó.
+ Trang trại hơp doanh theo cổ phần: loại này có nhiều chủ sở hữu và quản
lý. Nếu phân theo ngành sản xuất thì có: trang trại nông nghiệp,trang trại lâm
nghiệp, trang trại ngư nghiệp.
kinh doanh.
- Năm là: Lấy sản xuất hàng hoá làm hướng chính và có thu nhập vượt
trội.
II. Lao động và sử dụng lao động trong kinh tế trang trại.
1. Lao động.
Lao động là hoạt động có ích của con người không bị pháp luật ngăn cấm
và mang lại thu nhập cho con người. theo C. Mác: “Lao động là quá trình diễn ra
giữa con người với tự nhiên, là quá trình trong đó, bằng hoạt động của mình con
9
CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận
: 6.280.688
0người làm trung gian điều tiết và kiểm tra sự trao đổi chất giữa họ và tự
nhiên”
2
. Trong quá trình lao động con người vận dụng sức lực tiềm năng trong
cơ thể mình sử dụng công cụ lao động để tác động vào tự nhiên một cách có
mục đích, có ý thức nhằm biến đổi những vật thể tự nhiên cho phù hợp với nhu
cầu của mình.
Trong bất kỳ nền sản xuất nào, kể cả nền sản xuất hiện đại, lao động bao
giờ cũng là yếu tố cơ bản, điều kiện không thể thiếu cho sự tồn tại và phát triển
của xã hội loài người.
Trong các quá trình sản xuất lao động là yếu tố đầu vào của quá trình đó.
Khi kinh tế trang trại ra đời và phát triển nó sẽ thu hút và sử dụng một số lượng
lao động trong nông nghiệp, số lao động này ngoài lao động trong gia đình còn
một bộ phận không nhỏ lao động dôi dư, không có đủ việc làm phải đi làm thuê
cho các chủ trang trại (bao gồm cả lao động thuê thường xuyên và lao động thuê
thời vụ).
- Lao động thuê thời vụ là lao động có khả năng lao động được thuê theo
thời vụ của sản xuất, thời gian ngắn hay dài tuỳ thuộc vào sản xuất và sự thuê
Nông-lâm-thuỷ sản kết hợp. việc thu hút và sử dụng lao động đối với mỗi loại
hình sản xuất là khác nhau tuỳ theo đặc điểm của từng loại hình sản xuất.
2.2. Sử dụng lao động theo thời gian:
Thời gian lao động là số giờ, số ngày công mà ngườ lao động đóng góp cho
kinh tế trang trại (làm việc cho chủ trang trại) dựa trên sự thoả thuận giữa người
lao động với người chủ trang trại, trên cơ sở đó người chủ trang trại căn cứ vào
đó trả công cho người lao động và các phụ cấp (nếu có).
Đối với các trang trại ở Thanh Hoá thì thời gian lao động đa số tính theo
ngày công lao động (cả đối với lao động thuê thường xuyên và lao động thuê
thời vụ). Tuy nhiên các trang trại thuê dưới 500 công (đối với lao động thuê thời
vụ) chiếm tỷ lệ cao làm hạn chế việc nâng cao hệ số sử dụng thời gian lao động .
11
CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận
: 6.280.688
2.3. Sử dụng lao động theo trình độ người lao động:
Trình độ người lao động liên quan đến chất lượng lao động trong các trang
trại. Đối với lao động trong các trang trại Thanh Hoá đang có trình độ rất thấp
(trình độ văn hoá, trình độ tay nghề) làm ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất
kinh doanh của trang trại. Hiện nay trong số các trang trại hiện có của tỉnh có
trên 90% chủ trang trại và người lao động trong trang trại chưa qua đào tạo bồi
dưỡng. Đây là một sự cản trở rất lớn cho việc nâng cao năng lực sản xuất của
trang trại, kinh tế trang trại sẽ tạo ra nhiều cơ hội việc làm nhưng đồng thời
cũng đòi hỏi một lực lượng lao động có trình độ, có tay nghề.
3. Ảnh hưởng của sử dụng lao động tới hiệu quả sản xuất trong
nông nghiệp.
Khi phân tích hiệu quả sản xuất nông nghiệp chúng ta thấy tổng thu nhập
(Aa) của nông nghiệp chủ yếu phụ thuộc vào năng suất đất đai (NPa) và số lao
động được sử dụng (La), nó tuân theo quy luật lợi nhuận giảm dần. Có thể biểu
lực lượng lao động trong khu vực này. Các kết quả tính toán cho thấy: năng suất
lao động sẽ tăng 7% nếu chủ hộ có học vấnở mức độ nào đó, và tăng lên đến
11% nếu tốt nghiệp phổ thông cơ sở.
Ο
Trình độ học vấn của người lao động sẽ
cho phép họ dễ dàng lĩnh hội được những kiến thức từ các chương trình khuyến
nông - là cơ sở làm tăng gần gấp đôi sản lượng nông vụ.
Năng suất lao động nông nghiệp thấp không những chỉ do việc sử dụng
thời gian lao động rất hạn chế mà sản xuất nông nghiệp chủ yếu vẫn dựa vào lao
động thủ công với năng suất lao động còn thấp
4. Ý nghĩa của thu hút, sử dụng lao động trong kinh tế trang trại.
Đối với xã hội:
- Sử dụng lao động trong kinh tế trang trại giúp giải quyết việc làm cho
người lao động (làm giảm áp lực về việc làm trong khu vực nông thôn). Nếu sử
dụng và phát huy tốt khả năng lao động của con người sẽ tạo khả năng to lớn để
phát triển kinh tế.
- Sử dụng lao động trong kinh tế trang trại góp phần tích cực xoá đói, giảm
nghèo, đổi mới bộ mặy nông thôn, bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái tạo
ra sự phát triển bền vững.
- Sử dụng lao động trong kinh tế trang trại làm giảm tình trạng di dân từ
nông thôn lên thành thị, phân bố lại lao trong các vùng, làm giảm tệ nạn xã hội ở
nông thôn.
- Sử dụng lao động trong kinh tế trang trại góp phần nâng cao hệ số sử
dụng thời gian lao động ở nông thôn.
d
Ngân hàng Thế giới “Việt Nam - đánh giá sự nghèo đói và chiến lược” – 1995, tr 59.
13
CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận
: 6.280.688
0
45’ đến 107
0
kinh độ
Tây. Là cửa ngõ nối liền Trung Bộ với Nam Bộ và Bắc Bộ, đường quốc lộ chạy
song song với đường sắt suốt chiều dài của tỉnh.
Với vị trí địa lý như vậy nên về mặt khí hậu Thanh Hoá mang những đặc
điểm của khí hậu Bắc Bộ có mùa đông tuy ngắn nhưng lạnh và khô các ngày
đầu xuân ẩm ướt ,âm u, thiếu nắng do mưa phùn và xương mù kéo dài, đồng
thời Thanh Hoá cũng mang những tính chất riêng biệt của khí hậu miền Trung
Bộ.
Khí hậu Thanh Hoá là vùng khí hậu chuyển tiếp của khí hậu nhiệt đới gió
mùa ảnh hưởng của gió Tây, mưa và bão lụt nhiều. tuy có sự thuận lợi cho phát
triển các loại cây trồng, vật nuôi song thường bị hạn hán và lũ lụt gây khó khăn
lớn và làm hạn chế đến phát triển kinh tế- xã hội và phát triển ngành trồng trọt,
chăn nuôi.
15
CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận
: 6.280.688
1.2. Địa giới hành chính và điều kiện tự nhiên:
Từ đặc điểm về địa hình và tự nhiên, Thanh Hoá hình thành ba vùng kinh
tế là: vùng đồng bằng và đô thị, vùng ven biển và hải đảo, vùng trung du- miền
núi.
- Vùng đồng bằng và đô thị: gồm 10 đợn vị (Tp Thanh Hoá, thị xã Bỉm
Sơn, Hà Trung, Vĩnh Lộc, Yên Định, Thiệu Hoá, Đông Sơn, Nông Cống, Thọ
Xuân và Triệu Sơn). Diện tích tự nhiên của toàn vùng là 1794,2 km
2
chiếm 16%
diện tích tự nhiên toàn tỉnh. địa hình tương đối bằng phẳng, gồm đất có độ phì
thành phần đất nghèo chất dinh dưỡng chủ yếu phát triển cây lâm nghiệp, cây
công nghiệp ngắn ngày, dài ngày (cao su, cà phê, chè), cây ăn quả (cam dứa,
nhãn..), kết hợp với cây trồng là điều kiện tốt để chăn nuôi gia súc, gia cầm.
Tài nguyên thiên nhiên của tỉnh tương đối đa dạng:
+ Tài nguyên đất
Đất đồng bằng sông Mã là đồng bằng rộng thứ ba trong cả nước, mầu mỡ
thuận lợi cho việc trồng cây nông nghiệp.
Đất đồi và trung du thuộc nhóm thuận lợi cho việc trồng cây công nghiệp
như mía, chè, cao su, càfê, các loại cây ăn quả.
Cơ cấu đất đai của tỉnh gồm:
Đất nông nghiệp: 36.740 ha.
Đất lâm ngiệp: 375.440 ha.
Đất chưa sử dụng(1995): 429.084 ha.
Đất hải đảo: 810 ha .
+ Tài nguyên rừng
Độ phủ rừng còn 29,7% (cao hơn mức bình quân cả nước) với diện tích
375.440 ha trong đó rừng trồng chiếm 22%, rừng tự nhiên 78%. trữ lượng gỗ
15 triệu m
3
, tre luồng với hàng chục tỷ cây là nguyên liệu dồi dào cho các nhà
máy giấy.
+ Tài nguyên nước
17
CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận
: 6.280.688
Nước đạt 10 tỷ m
3
song chênh lệch lớn theo thời vụ và không gian, nếu có
đủ các công trình điều hoà tốt thì đủ thoả mãn nhu cầu sản xuất, sinh hoạt, hạn
Biểu 1: Các chỉ tiêu kinh tế cơ bản
Chỉ tiêu ĐV 1995 1996 1997 1998 1999 2000
I-Cơ cấu ngành % 100 100 100 100 100 100
Nông-lâm-ngư % 46,0 44,0 42,0 40,5 39,8 40
Công nghiệp- xây dựng % 21,1 21,9 24,1 25,1 25,4 26,4
Thương mại-dịch vụ % 33,9 34,1 33,9 34,4 34,8 33,6
II-GDP/ người $ 212 218,7 236,1 250 269 291
(Nguồn: Cục thống kê-Niên giám thống kê)
Số liệu ở bảng trên phản ánh một cơ cấu kinh tế lạc hậu khi ngành nông-
lâm-ngư vẫn còn chiếm tỷ trọng lớn, trong giai đoạn 1995-1999 cơ cấu kinh tế
có chuyển biến theo chiều hướng tích cực, tỷ trọng ngành nông-lâm-ngư đã
giảm dần, tỷ trọng các ngành công nghiệp - xây dựng, thương mại-dịch vụ có
tăng lên song tốc độ tăng giảm của các ngành này còn rất chậm. Trong cơ cấu
kinh tế ngành nông-lâm-thuỷ sản chiếm tới 40%, công nghiệp và xây dựng
chiếm 26,4%, dịch vụ chiếm 33,6%. Ngành nông nghiệp ở Thanh Hoá là có tỷ
trọng lớn nhất (năm 1999 giá trị sản xuất nông-lâm-ngư nghiệp tăng 6,4% (kế
hoạch là 2%), sản lựng quy ra thóc là 1.263.500 tấn đạt 105,3% kế hoạch). Các
doanh nghiệp chủ chốt là : Công ty mía đường Lam Sơn,Công ty xi măng,Công
ty bia Thanh Hoá, Công ty giấy Lam Sơn, Mục Sơn.
Mức thu nhập của người dân tương đối thấp đến năm 2000 mới đạt 291
USD/ người. Mức tăng trưởng GDP cũng không cao, trong giai đoạn 1995-2000
mức tăng trưởng trung bình chỉ đạt 6,5%, điều này có thể giải thích là do cơ cấu
nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong GDP mà giá trị mà ngành nông nghiệp
mang lại không cao, sản phẩm của nông nghiệp chủ yếu là sản phẩm thô.
Hoạt động thương mại, dịch vụ có nhiều cố gắng đáp ứng yêu cầu cho sản
xuất và phục vụ đời sống nhân dân. Hàng hoá lưu thông thuận lợi, phong phú,
19
CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận
II. Tình hình phát triển kinh tế trang trại trong những năm qua.
Cũng như các địa phương khác trong cả nước, kinh tế trang trại ở Thanh
Hoá được hình thành và phát triển một cách tự phát, bắt nguồn từ kinh tế hộ gia
đình là chủ yếu và đến nay đã lan rộng ra phạm vi toàn tỉnh.
Theo kết quả điều tra trực tiếp và toàn bộ đến ngày 1/8/1998 Thanh Hoá có
1867 trang trại theo tiêu chuẩn của trung ương và số liệu công bố mới nhất của
Cục Thống kê Thanh Hoá, đến ngày 1/7/2000 Thanh Hoá có 1874 trang trại.
Huyện có nhiều trang trại nhất là Thị xã Bỉm Sơn (176), Thọ Xuân (162), Hoàng
Hoá (152), Ngọc Lạc (157), Yên Định(132), Thạch Thành (101)...Các huyện
khác có từ 15-65 trang trại .
1.Loại hình các trang trại.
Trang trại ở Thanh Hoá có 6 loại hình kinh doanh chính:
- Trang trại trồng cây hàng năm là loại hình trang trại có nhiều nhất ở
Thanh Hoá với 807 trang trại chiếm 43,2%. Loại trang trại này chủ yếu trồng
các loại cây như mía, lạc, đậu tương, cói, lúa kết hợp với chăn nuôi. Tập trung
nhiều ở các huyện Thọ Xuân, Thạch Thành, Bỉm sơn, Ngọc Lạc...Loại hinh
trang trại này đang phát triển mạnh và sử dụng nhiều lao động trong nông
nghiệp.
- Trang trại trồng cây công nghiệp lâu năm và cây ăn quả là loại mới được
hình thành tập trung ở các huyện trung du miền núi và một số huyện đồng bằng:
Như Thanh Hoá, Như Xuân, Bỉm Sơn. Cây trồng chính càfê, chè, cao su, dứa,
nhãn, vải ...
- Trang trại chăn nuôi loại trang trại này có rất ít (9 trang trại ) đòi hỏi chủ
trang trại phải có kỹ thuật, vốn, kinh nghiệm, đồng cỏ...Như trang trại ông Lê
Đình Rỡ (Văn sơn-Triệu sơn) có 395 con bò.
21
CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận
: 6.280.688
Biểu 2 Số trang trại phân theo loại hình sản xuất năm 1998.
: 6.280.688
hiện, còn có nhiều bất cập trong việc quy hoạch, giao đất cho các hộ đầu tư mở
rộng sản xuất.
Tính bình quân một trang trại sử dụng 9,75 ha, so với cả nước thì con số đó
chỉ ở mức trung bình nhưng so với các trang trại ở Tây nguyên, Ngệ An thì vẫn
còn thấp đó cũng là do diện tích đất chưa được giao vẫn còn cao chiếm 53,6%
nhất là các huyện có tiềm năng đất đất chưa được sử dụng còn lớn như Tĩnh Gia,
Bá Thước, Vĩnh Lộc...
Biểu 3 Diện tích đất bình quân một trang trại theo loại hinh sản xuất
Đơn vị: ha
STT Loại hình sản xuất Diện tích bq/trang trại
1 Trồng cây hàng năm 5,75
2 Trồng cây CN lâu năm và cây ăn quả 8,82
3 Chăn nuôi 12,74
4 Lâm nghiệp 19,81
5 Nuôi trồng thuỷ sản 8,55
6 Nông-lâm-thuỷ sản kết hợp 11,8
7 Loại khác 2,47
(Nguồn: Cục Thống kê Thanh Hoá )
Các trang trại lâm nghiệp sử dụng nhiều đất nhất bình quân một trang trại
là 19,81 ha, trồng các loại cây như: Luồng, Bạch đàn, Quế và các loại cây
nguyên liệu giấy. Loại hình này phần lớn tập trung ở các huyện miền núi phía
Tây nơi có diện tích đất đồi núi nhiêù
Các trang trại nông-lâm-thuỷ sản kết hợp sử dụng diện tích khá lớn, bình
quân 11,8 ha/trang trại do các trang trại này tận dụng cả diện tích đất nông
nghiệp, đất lâm nghiệp và cả những ao, hồ, đồng trũng..
Các trang trại trồng cây hàng năm (trung bình 5,75ha/trang trại) và trang
trại nuôi trồng thuỷ sản (8,55ha/trang trại) sử dụng diện tích đất không lớn lắm
cũng đòi hỏi số vốn đầu tư khá lớn (55,899 triệu đồng/trang trại) và cũng là loại
trang trại mang lại hiệu quả kinh tế cao nếu điều kiện về thời tiết, chăm sóc, thị
trường tiêu thụ thuận lợi.
Các trang trại trồng cây đa số có số vốn đầu tư không lớn một phần do chi
phí về giống cây trồng không quá cao như giống vật nuôi đồng thời chi phí
chăm sóc nhỏ, chu kỳ sản xuất ngắn
24
CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận
: 6.280.688
Nhìn chung mức vốn đầu tư trong các trang trại ở Thanh Hoá còn rất hấp
so với lượng vốn bình quân chung một trang trại (tính đến thời điểm điều tra
các trang trại của 15 tỉnh thuộc các vùng trên cả nước) là 291,43 triệu đồng. Ta
biết rằng vốn là một yếu tố quan trọng, để phát triển kinh tế trang trại đòi hỏi các
chủ trang trại cần phải tích tụ một lượng vốn tự có nhất định để có thể thuê, mua
đất đai, lao động...ở Thanh Hoá mức vốn đầu tư cho kinh tế trang trại đã thấp,
nhưng vốn được vay từ ngân hàng lại chiếm tỷ lệ thấp, nguồn hỗ trợ từ nhà nước
ít, nhỏ dọt điều này đã ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của trang
trại, chưa tạo ra sự kích thích kinh tế trang trại phát triển.
III. Phân tích tình hình sử dụng lao động trong các trang trại
1. Số lượng và chất lượng lao động.
1.1. Số lượng:
Tính đến ngày 1/7/2000 số lao động đang làm việc trong 1874 trang trại
(theo tiêu chuẩn của trung ương) là 13210 người. Trong đó lao động tự có của
trang trại là 4514 người chiếm 34,17%
Số lao động thuê ngoài (bao gồm cả lao động thuê thường xuyên và lao
động thuê thời vụ) là 8696 người chiếm 65,83% so với tổng số lao động đang
làm việc trong các trang trại.
Trong số lao động thuê ngoài thì lao động thuê thường xuyên chỉ có 1958
người chiếm 22,52%. Còn lao động thuê thời vụ là chủ yếu với 6035 người