Khoá luận tốt nghiệp
MỞ ĐẦU
Lao động là một trong các yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất và có ý
nghĩa quyết định trong mọi hoạt động của doanh nghiệp với việc sáng tạo và sử
dụng các yếu tố khác của quá trình sản xuất. Lao động có vai trò quyết định đối
với việc nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh, tăng khả năng cạnh tranh và
thực hiện các mục tiêu của doanh nghiệp. Sử dụng có hiệu quả lực lượng lao
động, khai thác tối đa tiềm năng lao động của mỗi người là một yêu cầu đối với
công tác quản trị lao động. Theo đó, các nhà quản trị lao động có thể khai thác
tối đa tiềm năng lao động của mỗi người để phục vụ lợi ích của bản thân họ cũng
như cho doanh nghiệp và xã hội. Vì vậy, em chọn vấn đề: “ Nâng cao hiệu quả
sử dụng lao động ở công ty TNHH sản xuất và dịch vụ Mai Lâm ” làm đề tài
khoá luận tốt nghiệp của mình.
Khoá luận gồm 3 phần:
PHẦN 1: GIỚI THIỆU CÔNG TY TNHH SẢN XUẤT VÀ DỊCH VỤ
MAI LÂM.
PHẦN 2 PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH SỬ DỤNG LAO ĐỘNG CỦA CÔNG
TY TNHH SẢN XUẤT VÀ DỊCH VỤ MAI LÂM.
PHẦN 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG LAO ĐỘNG
CỦA CÔNG TY TNHH SẢN XUẤT VÀ DỊCH VỤ MAI LÂM.
Sinh viên thực hiện: TRẦN THỊ QUỲNH LÊ
Khoá luận tốt nghiệp
PHẦN 1
GIỚI THIỆU CÔNG TY TNHH SẢN XUẤT VÀ DỊCH VỤ MAI LÂM.
1.1. Quá trình hình thành và phát triển:
Tên công ty Công ty TNHH sản xuất và dịch vụ Mai Lâm
Trụ sở chính Số nhà 9, tổ 66, Phường Hoàng Văn Thụ,Quận
Hoàng Mai,Thành phố Hà Nội.
Xưởng sản xuất Thôn 2, Xã Đông Mỹ, Huyện Thanh Trì
Thành phố Hà Nội.
Điện thoại (04)2180859
- Vận tải hàng hoá, vận chuyển hành khách, cho thuê xe.
- Lữ hành nội địa, lữ hành quốc tế và các dịch vụ phục vụ khách du lịch.
- Kinh doanh nhà nghỉ, nhà hàng ăn uống.
- Đại lý mua, đại lý bán, ký gửi hàng hoá.
Sản phẩm chính của công ty: Là các loại Gioăng nẹp cửa kính, khung nhôm
và đệm nắp chai nước ngọt, nước mắm… Công ty TNHH sản xuất và dịch vụ
Mai Lâm tuy thành lập chưa được bao lâu nhưng đã nhanh chóng tìm được chỗ
đứng của mình trên thị trường sản xuất nhựa PVC, nhựa cao su qua các mặt hàng
chất lượng cao của mình. Để tiện cho khách hàng biết đến công ty một cách
chính xác thì công ty đã đăng ký sản phẩm sản xuất của mình trên trang web:
quangcaosanpham.com.
Sinh viên thực hiện: TRẦN THỊ QUỲNH LÊ
33
Khoá luận tốt nghiệp
Qua trang này khách hàng có thể biết được công ty có thể đáp ứng được
yêu cầu của mình không và cũng từ đây tiếng tăm về công ty bay xa hơn.
1.2. Các đặc điểm cơ bản của công ty.
1.2.1. Đặc điểm về sản phẩm và thị trường:
Là công ty TNHH hai thành viên nhưng thực chất công ty TNHH sản xuất
và dịch vụ Mai Lâm thuộc hình thức công ty tư nhân. Là doanh nghiệp có quy
mô vừa và nhỏ đang hoạt động trong cơ chế thị trường cạnh tranh gay gắt. Các
sản phẩm của công ty chủ yếu là sản xuất theo đơn đặt hàng. Vì vậy khối lượng
sản phẩm sản xuất nhiều khi rất nhỏ và máy móc phải thực hiện đa năng. Với
tính chất sản phẩm thay đổi theo đơn hàng và với việc sử dụng máy móc hợp lý
đòi hỏi công ty phải có phương pháp tổ chức và điều hành thích hợp.
Hệ thống sản xuất của công ty khá linh hoạt, có khả năng thích ứng cao,
đáp ứng kịp thời những đơn đặt hàng đa dạng của khách hàng. Tuy nhiên công ty
cũng gặp khó khăn trong việc điều hành quá trình sản xuất khá phức tạp và gặp
nhiều khó khăn trong việc kiểm soát chất lượng sản phẩm. Sản phẩm chính của
công ty là các loại đệm nắp chai nước và Gioăng nẹp cửa kính , khung nhôm với
thích dùng hàng ngoại nhưng đứng trước sự so sánh giá cả thì họ sẽ chọn hàng
nội rẻ hơn với chất lượng chấp nhận được. Mặt khác, công ty có ưu thế về
nguyên vật liệu và máy móc thiết bị đã làm cho hàng của công ty có thể cạnh
tranh được với hàng ngoài. Công ty sử dụng nguyên liệu là các loại nhựa phế
liệu, ống cao su… những nguyên liệu này tương đối dễ tìm và rất rẻ. Máy móc
thiết bị của công ty cũng tương đối hiện đại.Cùng với đội ngũ lao động lành nghề
đã biến những đồ phế thải thành những sản phẩm hoàn chỉnh về chất lượng có
Sinh viên thực hiện: TRẦN THỊ QUỲNH LÊ
55
Khoá luận tốt nghiệp
thể đáp ứng được yêu cầu của khách hàng và đủ sức cạnh tranh trên thị trường.
Do đó, với ưu thế giá cả sản phẩm của công ty đã cạnh tranh được với hàng
ngoại và với chất lượng cao hàng của công ty cũng không thua kém gì của đối
thủ cạnh tranh trong nước.
Như vậy, với đặc điểm về sản phẩm và thị trường như trên, công ty
TNHH sản xuất và dịch vụ Mai Lâm có nhiều thuận lợi và cũng gặp một số khó
khăn trong sản xuất, kinh doanh. Thuận lợi với công ty ở chỗ sản phẩm của công
ty đã chiếm được lòng tin từ phía khách hàng và công ty cũng đang trên đà phát
triển mạnh. Khó khăn ở chỗ công ty phải đối mặt với nhiều cạnh tranh trên thị
trường, đặc biệt là cạnh tranh với các sản phẩm có hàm lượng kỹ thuật cao. Với
công ty còn non trẻ như công ty Mai Lâm thì điều này cũng là khó khăn đáng kể.
Tuy vậy, nhưng công ty cũng đang có những ưu thế khác như về vị trí địa lý
thuận lợi, về sự phát triển về quy mô trong tương lai, về đội ngũ lao động… Với
những thuận lợi ấy, công ty sẽ có khả năng phát triển mạnh mẽ hơn trong những
chặng đường tiếp theo.
1.2.2. Đặc điểm cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của công ty.
Bộ máy quản lý của công ty TNHH sản xuất và dịch vụ Mai Lâm được tổ
chức theo sơ đồ sau:
Sinh viên thực hiện: TRẦN THỊ QUỲNH LÊ
66
hợp, mẫu mã, chủng loại, kích cỡ… đều do phó giám đốc kỹ thuật điều hành và
chịu trách nhiệm. Phó giám đốc kỹ thuật còn phối hợp với xưởng trưởng nghiên
cứu, thực hiện các vấn đề khó khăn về kỹ thuật trong sản xuất. Ngoài ra ông ta
còn kết hợp với giám đốc soạn thảo các hợp đồng, công văn, dự toán, các tài liệu
liên quan đến công việc máy móc…
- Phòng tài vụ: Gồm có 2 kế toán: Một kế toán văn phòng và một kế toán kho.
Kế toán văn phòng chịu trách nhiệm về toàn bộ sổ sách, chứng từ, kế toán của
công ty.Kế toán kho chịu trách nhiệm về tất cả các công việc liên quan đến xuất
nhập kho . Ngoài công việc liên quan đến sổ sách thì kế toán văn phòng còn làm
nhiều việc khác của thư ký văn phòng như: đánh máy, gửi công văn, giấy tờ,
soạn thảo văn bản… Công ty chưa có kế toán xưởng nên các công việc kế toán ở
xưởng cũng được kế toán kho kiêm nhiệm. Như vậy, kế toán của doanh nghiệp
làm cả việc chuyên môn: ghi chép sổ sách, vào sổ, thống kê, tính toán và nộp
thuế… và còn làm cả việc của nhân viên văn phòng: đánh máy, soạn thảo văn
bản, gửi giấy tờ…
- Phòng vật tư: Gồm có 2 người: 1 trưởng phòng và 1nhân viên.
Phòng có nhiệm vụ đảm bảo toàn bộ vật tư cho hoạt động sản xuất của công
ty. Do công ty sản xuất theo đơn đặt hàng nên cán bộ phụ trách vật tư thường
xuyên phải đi lại rất nhiều để đảm bảo cung cấp đủ vật liệu cho sản xuất.
Sinh viên thực hiện: TRẦN THỊ QUỲNH LÊ
88
Khoá luận tốt nghiệp
- Xưởng sản xuất: Là nơi trực tiếp sản xuất ra sản phẩm theo thiết kế của phó
giám đốc kỹ thuật đưa xuống. Xưởng gồm có 3 tổ sản xuất: tổ phế, tổ máy và tổ
đóng gói sản phẩm. Quản lý cả 3 tổ này là xưởng trưởng.
Tổ phế: Gồm có 3 người làm các nhiệm vụ cụ thể như sau:
Người chọn phế: người này có trách nhiệm chọn ra trong những phế liệu
công ty nhập về những phế liệu đạt tiêu chuẩn. Phế liệu đạt tiêu chuẩn là những
loại không còn có lẫn tạp chất trong đó. Vì vậy, công việc của người chọn phế
là tách những tạp chất như đất cát, sợi chỉ, sợi thép… ra khỏi nhựa phế. Công
bột thành nhựa chín dưới tác dụng nhiệt. Người đứng máy này cho bột vào máy
và sau đó vận hành máy cho nó nấu chín bột. Và cuối công đoạn này, người đó
phải mang bột nhựa chín sang máy ra Gioăng.
Người đứng máy ra Gioăng: Máy này sẽ biến nhựa chín thành các sợi
Gioăng dài. Mỗi máy có một đầu ra Gioăng và đầu này có nhiều kích cỡ để có
thể phù hợp với yêu cầu từng loại Gioăng.
Hai người cắt và cân Gioăng: Sau khi cho máy chạy ra Gioăng, hai người
này có nhiệm vụ cắt những sợi Gioăng dài thành các bó theo đúng quy định
(0.5 kg). Sau đó mang các bó này sang bộ phận đóng gói.
Tổ đóng gói sản phẩm: Gồm có 15 người trong đó có một người chuyên chịu
trách nhiệm giao hàng. Những người trong tổ này có nhiệm vụ quấn những bó
Gioăng đã cắt thành từng bó gọn gàng và đóng vào bao bì theo từng đơn hàng
của khách. Ở đây, từng loại kích cỡ Gioăng được phân biệt qua các loại dây
buộc. Cụ thể như: Gioăng 3 thì buộc màu xanh ở hai đầu bó còn giữa thì buộc
Sinh viên thực hiện: TRẦN THỊ QUỲNH LÊ
1010
Khoá luận tốt nghiệp
màu vàng, Gioăng 5 thì buộc dây trắng hai đầu, giữa buộc màu đỏ… Như thế thì
khi đóng gói sản phẩm sẽ dễ phân biệt tránh được sự nhầm lẫn và tránh lãng phí
thời gian trong việc tìm kiếm. Người chuyên giao hàng thuộc bộ phận này nhưng
không phải quấn Gioăng mà chỉ đóng gói và giao theo đơn hàng. Nếu đơn hàng
lớn thì có xe của khách đến chở.
Chịu trách nhiệm ở mỗi tổ là tổ trưởng. Tổ trưởng có trách nhiệm riêng
chịu trách nhiệm trước xưởng trưởng và giám đốc công ty các vấn đề liên quan
đến tổ mình: điều hành các tổ viên, chịu trách nhiệm về thời gian giao nộp sản
phẩm, chất lượng sản phẩm... Các tổ viên làm việc theo chuyên môn thuộc tổ và
theo kế hoạch sản xuất. Xưởng trưởng là người chịu trách nhiệm trước giám đốc
và phó giám đốc kỹ thuật về toàn bộ hoạt động sản xuất trong công ty: về con
người, máy móc thiết bị, tiến độ công việc.
Theo trên , ta thấy rằng cơ cấu tổ chức của công ty là phù hợp với tình hình
5 Máy lọc
(Nguồn: phòng vật tư công ty TNHH sản xuất và dịch vụ Mai Lâm)
Công ty đã đầu tư rất nhiều máy móc có giá trị lớn trong những ngày đầu thành
lập công ty. Nhưng do công ty mua máy móc thiết bị thanh lý của công ty khác
đã sử dụng trong thời gian khá lâu nên máy móc đã cũ kỹ. Điều này ảnh hưởng
đến năng suất của máy và năng suất của người lao động trong công ty. Thậm chí
nhiều khi công ty phải nghỉ chờ sửa máy trong trường hợp máy hỏng. Khi đó sẽ
gây ra lãng phí thời gian, chi phí của công ty. Do đó trong thời gian tới công ty
cần phải đầu tư mua những dây chuyền máy móc, thiết bị hiện đại, tiên tiến hơn.
Bảng 1.3: Máy móc, thiết bị trong năm đầu thành lập công ty.
TT Tên máy Đơn giá Số lượng (chiếc) Thành tiền (đồng)
Sinh viên thực hiện: TRẦN THỊ QUỲNH LÊ
1212
Khoá luận tốt nghiệp
(đồng)
1 Máy rửa 1 000 000 1 1 000 000
2 Máy băm 1200 000 1 1 200 000
3 Máy trộn 1500 000 1 1 500 000
4 Máy cắt hạt 2 000 000 1 2 000 000
5 Máy đùn hạt 2500 000 3 7 500 000
6 Máy cán 4 000 000 1 4 000 000
Cộng 8 17 200 000
(Nguồn: Phòng tài vụ công ty TNHH sản xuất và dịch vụ Mai Lâm)
Trang thiết bị văn phòng của công ty cũng được trang bị rất chu đáo những
thiết bị cần thiết theo bảng sau:
Bảng 1.4: Máy móc, thiết bị văn phòng của công ty.
TT Tên máy móc, thiết bị
1 Máy tính văn phòng
2 Máy in
3 Máy điện thoại
Ta có thể biểu diễn trình độ học vấn của lao động công ty qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.2: Trình độ học vấn của lao động trong công ty.
Công ty có nhân viên học vấn cao làm các công việc văn phòng, còn các lao
động có trình độ thấp hơn làm công việc sản xuất trực tiếp tại xưởng. Việc phân
công lao động này rất hợp lý vì sẽ sử dụng hết khả năng và năng lực của người
lao động.
Trên đây, ta thấy lao động của công ty có đặc điểm :họ là những người trẻ tuổi,
họ có khả năng học hỏi kinh nghiệm làm việc… Đây là đặc điểm mang lại lợi thế
cho công ty. Tuy nhiên công ty cũng gặp khó khăn trong việc tìm cách sử dụng
lao động sao cho ngày càng có hiệu quả hơn.
Đặc điểm về lao động sẽ được nghiên cứu kỹ hơn ở phần sau.
1.2.5. Đặc điểm về nguyên vật liệu.
Sinh viên thực hiện: TRẦN THỊ QUỲNH LÊ
1414
Khoá luận tốt nghiệp
Cũng như các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh khác, để sản xuất sản phẩm với
các chủng loại đa dạng thì tương ứng với nó phải có một số lượng lớn các chi
tiết, bộ phận và nguyên vật liệu đa dạng. Hơn nữa, thị trường nguyên vật liệu lại
thường xuyên thay đổi về giá cả và chủng loại. Vì vậy, trong tổng số danh mục
các loại vật tư, nguyên liệu mà công ty phải thường xuyên cập nhật. Với đặc
điểm sản xuất theo đơn hàng vì thế lượng nguyên liệu cũng có một số thay đổi
theo mặt hàng.
Danh mục nguyên vật liệu chính,phụ của doanh nghiệp:
Bảng 1.6: Danh mục nguyên vật liệu chính của công ty.
TT Tên nguyên vật liệu chính Đơn giá(đồng/kg)
1 Bột đá (CaCO
3
) 1238 (chưa VAT 5%)
2 Bột PVC 18 000 (VAT 10%)
3 Dầu DOP 33 000 (VAT 5%)
6 Thuế phải nộp 27 502 74 535 210 492
7 Lợi nhuận sau thuế 70 718 191 661 541 264
(Nguồn: Phòng tài vụ công ty TNHH sản xuất và dịch vụ Mai Lâm)
Nhìn vào bảng kết quả kinh doanh của công ty trong 3 năm qua 2006- 2008
chúng ta thấy rằng công ty kinh doanh rất hiệu quả và có lãi tăng lên rất nhiều
Sinh viên thực hiện: TRẦN THỊ QUỲNH LÊ
1616
Khoá luận tốt nghiệp
qua các năm. Cụ thể, năm 2006 khi mới thành lập và đi vào hoạt động, công ty
mới đạt được 70 718 000 đồng tiền lãi và nộp cho ngân sách nhà nước số tiền là
27 502 000 đồng. Nhưng một năm sau 2007 thì lợi nhuận công ty đã tăng lên gấp
hơn 2.5 lần, đạt tới 191 661 000 đồng. Đây là một kết quả thật đáng vui mừng
cho công ty. Đặc biệt, ước tính đến hết năm 2008 công ty sẽ tạo ra số lợi nhuận
gấp 2.8 lần năm 2007 và gấp 7.6 lần năm 2006. Như vậy, công ty TNHH sản
xuất và dịch vụ Mai Lâm đã chứng tỏ cho mọi người thấy công ty đang làm ăn
rất hiệu quả và đóng góp số tiền thuế không nhỏ cho ngân sách nhà nước.
Sau đây chúng ta đi sâu vào tìm hiểu một bộ phận rất quan trọng trong các bộ
phận cấu thành công ty xem đạt được kết quả kinh doanh tốt như vậy nhưng thực
sự công ty đã quan tâm tới các yếu tố, bộ phận của mình như thế nào. Đó là bộ
phận lao động của công ty- yếu tố quan trọng nhất của mọi tổ chức.
Sinh viên thực hiện: TRẦN THỊ QUỲNH LÊ
1717
Khoá luận tốt nghiệp
PHẦN 2
PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH SỬ DỤNG LAO ĐỘNG CỦA CÔNG TY
TNHH SẢN XUẤT VÀ DỊCH VỤ MAI LÂM
Chúng ta đã biết rằng lao động là một trong 3 yếu tố quan trọng của quá trình sản
xuất là : Lao động (con người), tư liệu lao động (máy móc, thiết bị), và đối tượng
lao động (các nguyên vật liệu). Do đó để quá trình sản xuất được diễn ra thuận
lợi thì phải biết kết hợp cả 3 yếu tố này, thiếu một trong 3 yếu tố thì quá trình sản
dụng có hiệu quả lao động của mình thì trước tiên các tổ chức phải biết được
tổng số lao động của mình là bao nhiêu và tình hình biến động của chúng ra sao.
Trong những năm qua tình hình biến động số lượng lao động của công ty TNHH
sản xuất và dịch vụ Mai Lâm được chỉ ra ở bảng sau:
Bảng 2.1: Tình hình biến động số lượng lao động qua các năm của công ty
TNHH sản xuất và dịch vụ Mai Lâm.
Chỉ tiêu Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008
Tổng số lao động 15 20 31
Lao động gián tiếp 5 6 7
Lao động trực tiếp 10 14 24
(Nguồn: phòng tài vụ công ty TNHH sản xuất và dịch vụ Mai Lâm)
Năm 2006, công ty đi vào hoạt động sản xuất, kinh doanh, công ty đã tuyển tổng
cộng là 15 lao động cả trực tiếp và gián tiếp vào làm việc. Trong 15 lao động thì
có 5 lao động làm ở các phòng ban trong công ty: 1kế toán làm phòng tài vụ, 1
Sinh viên thực hiện: TRẦN THỊ QUỲNH LÊ
1919
Khoá luận tốt nghiệp
nhân viên phòng vật tư, 1 giám đốc và 1 phó giám đốc kỹ thuật, 1 xưởng trưởng.
10 lao động còn lại làm trong xưởng sản xuất.
Năm 2007, công ty tuyển thêm 1 nhân viên phòng vật tư, và đồng thời tuyển
thêm 5 lao động làm việc ở xưởng sản xuất.
Đầu 2008, do việc sản xuất, kinh doanh ngày càng thuận lợi nên số lượng lao
động trong năm 2007 không đáp ứng đủ nhu cầu sản xuất hàng ngày. Vì vậy,
tháng 5/2008 công ty đã tuyển thêm 11 lao động trong đó có 1 kế toán kho và 10
công nhân sản xuất làm việc tại xưởng.
Như vậy trong 3 năm số lượng lao động trong công ty đã tăng lên từ 15 người
năm 2006 lên tới 31 người năm 2008. Với số lao động tăng lên theo các năm như
vậy nhưng công ty đã sử dụng họ như thế nào? Sau đây chúng ta sẽ cùng tìm
hiểu cụ thể hơn.
Bảng 2.2: Tình hình sử dụng số lượng lao động của công ty giai đoạn
Đơn vị: Người.
Các bộ phận
Giới tính
Tổng
Nam Nữ
Ban giám đốc 2 0 2
Phòng vật tư 2 0 2
Phòng tài vụ 0 2 2
Xưởng sản xuất
- Tổ phế.
- Tổ máy.
- Tổ đóng gói sản phẩm.
9
1
6
2
16
2
0
14
25
3
6
16
Tổng số lao động. 13 18 31
Tỉ trọng 41.94% 58.06% 100%
(Nguồn: phòng tài vụ công ty TNHH sản xuất và dịch vụ Mai Lâm)
Qua bảng số liệu của công ty trên, ta thấy rằng tỉ lệ nam - nữ của công ty không
chênh lệch nhau nhiều. Nữ chiếm tỉ lệ lớn hơn nam, điều này không hề gây mất
cân đối trong lao động mà lại rất phù hợp với ngành nghề sản xuất của công ty.
18
2
11
3
2
58.06
6.45
35.48
9.68
6.45
31 – 40
Trong đó:
Xưởng trưởng
Công nhân đứng máy
Cán bộ vật tư
Công nhân đóng gói sp
11
1
4
2
4
35.49
3.225
12.91
6.45
12.91
41 – 50
Trong đó:
Giám đốc công ty
Phó giám đốc kỹ thuật
là giám đốc công ty cũng chỉ ở tuổi 49, còn lại công nhân đều rất trẻ người ít tuổi
nhất là 22 và nhiều nhất là 40 tuổi.
Với cơ cấu lao động theo tính chất lao động công ty đã phân ra thành hai loại
là lao động trực tiếp và lao động gián tiếp.
Bảng 2.5: Cơ cấu lao động theo tính chất lao động của công ty.
Chỉ tiêu Số lượng (người) Tỉ trọng (%)
Lao động gián tiếp 7 33.33
Lao động trực tiếp 24 66.67
Tổng 31 100
Ta thấy rằng theo tính chất lao động thì công ty có lao động trực tiếp chiếm tỉ
trọng rất cao 66.67% gần gấp 4 lần lao động gián tiếp (33.33% ). Sự chênh lệch
này cũng là hợp lý vì công ty TNHH sản xuất và dịch vụ Mai Lâm là công ty sản
xuất với hai dây chuyền máy móc hiện đại đòi hỏi đội ngũ lao động trực tiếp
Sinh viên thực hiện: TRẦN THỊ QUỲNH LÊ
2424
Khoá luận tốt nghiệp
nhiều hơn để phục vụ sản xuất và đóng gói sản phẩm để kinh doanh. Tỉ lệ lao
động gián tiếp tuy nhỏ nhưng đảm bảo điều hành tất cả công việc liên quan đến
sản xuất kinh doanh của công ty. Như thế, công ty có đội ngũ lao động gián tiếp
tinh gọn và hiệu quả tránh được những lãng phí không cần thiết.
2.1.3. Phân tích tình hình sử dụng số lượng lao động của công ty trong thời
gian qua.
Theo phân tích ở trên, chúng ta thấy nhìn về mặt tổng quát công ty TNHH sản
xuất và dịch vụ Mai Lâm đã sử dụng hết số lượng lao động hiện có của mình
không để có hiện tượng dôi dư lao động. Đồng thời chúng ta cũng thấy được
công ty đã có một cơ cấu lao động khá hợp lý với một đội ngũ lao động trẻ đầy
tiềm năng. Bây giờ chúng ta tìm hiểu về một tuần làm việc của các lao động ở
công ty để xem công ty có đảm bảo số lượng lao động thường xuyên hay không?
Bảng 2.6: Số lượng lao động của công ty tuần1 tháng 5/2008.
Đơn vị: người