Ban giám đốcKho chứa hàng
Phòng
tài vụ
Xưởng sản xuấtPhòng vật tưTổ máyTổ đóng gói sản phẩmTổ phếLựa chọn phương tiện đào tạoXác định nhu cầu đào tạoXác định mục tiêu đào tạoXác định chi phí đào tạoThực hiện chương trình đào tạoLựa chọn đối tượng đào tạoXác định chương trình đào tạo
Đánh giá kết quả đào tạo
Chọn phương pháp đào tạo
Khoá luận tốt nghiệp
MỞ ĐẦU
Lao động là một trong các yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất và có ý
nghĩa quyết định trong mọi hoạt động của doanh nghiệp với việc sáng tạo và sử
dụng các yếu tố khác của quá trình sản xuất. Lao động có vai trò quyết định đối
với việc nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh, tăng khả năng cạnh tranh và
thực hiện các mục tiêu của doanh nghiệp. Sử dụng có hiệu quả lực lượng lao
động, khai thác tối đa tiềm năng lao động của mỗi người là một yêu cầu đối với
công tác quản trị lao động. Theo đó, các nhà quản trị lao động có thể khai thác
tối đa tiềm năng lao động của mỗi người để phục vụ lợi ích của bản thân họ cũng
như cho doanh nghiệp và xã hội. Vì vậy, em chọn vấn đề: “ Nâng cao hiệu quả
sử dụng lao động ở công ty TNHH sản xuất và dịch vụ Mai Lâm ” làm đề tài
khoá luận tốt nghiệp của mình.
Khoá luận gồm 3 phần:
PHẦN 1: GIỚI THIỆU CÔNG TY TNHH SẢN XUẤT VÀ DỊCH VỤ
MAI LÂM.
PHẦN 2 PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH SỬ DỤNG LAO ĐỘNG CỦA CÔNG
TY TNHH SẢN XUẤT VÀ DỊCH VỤ MAI LÂM.
PHẦN 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG LAO ĐỘNG
CỦA CÔNG TY TNHH SẢN XUẤT VÀ DỊCH VỤ MAI LÂM.
Sinh viên thực hiện: TRẦN THỊ QUỲNH LÊ
PHẦN 1
GIỚI THIỆU CÔNG TY TNHH SẢN XUẤT VÀ DỊCH VỤ MAI LÂM.
1. Quá trình hình thành và phát triển:
Tên công ty Công ty TNHH sản xuất và dịch vụ Mai Lâm
- Sản xuất, buôn bán máy móc, thiết bị, vật tư, vật liệu ngành xây dựng, đồ
trang trí nội thất, ngoại thất.
- Sản xuất, buôn bán, sửa chữa, bảo hành ắc quy, đồ điện, điện tử, điện lạnh,
phụ tùng, linh kiện xe máy, ô tô.
- Nuôi trồng, chế biến và buôn bán nông, lâm, thuỷ sản, hải sản.
- Vận tải hàng hoá, vận chuyển hành khách, cho thuê xe.
- Lữ hành nội địa, lữ hành quốc tế và các dịch vụ phục vụ khách du lịch.
- Kinh doanh nhà nghỉ, nhà hàng ăn uống.
- Đại lý mua, đại lý bán, ký gửi hàng hoá.
Sản phẩm chính của công ty: Là các loại Gioăng nẹp cửa kính, khung nhôm
và đệm nắp chai nước ngọt, nước mắm… Công ty TNHH sản xuất và dịch vụ
Mai Lâm tuy thành lập chưa được bao lâu nhưng đã nhanh chóng tìm được chỗ
đứng của mình trên thị trường sản xuất nhựa PVC, nhựa cao su qua các mặt hàng
chất lượng cao của mình. Để tiện cho khách hàng biết đến công ty một cách
chính xác thì công ty đã đăng ký sản phẩm sản xuất của mình trên trang web:
quangcaosanpham.com.
Sinh viên thực hiện: TRẦN THỊ QUỲNH LÊ
3
Qua trang này khách hàng có thể biết được công ty có thể đáp ứng được
yêu cầu của mình không và cũng từ đây tiếng tăm về công ty bay xa hơn.
1.2. Các đặc điểm cơ bản của công ty.
1.2.1. Đặc điểm về sản phẩm và thị trường:
Là công ty TNHH hai thành viên nhưng thực chất công ty TNHH sản xuất
và dịch vụ Mai Lâm thuộc hình thức công ty tư nhân. Là doanh nghiệp có quy
mô vừa và nhỏ đang hoạt động trong cơ chế thị trường cạnh tranh gay gắt. Các
sản phẩm của công ty chủ yếu là sản xuất theo đơn đặt hàng. Vì vậy khối lượng
sản phẩm sản xuất nhiều khi rất nhỏ và máy móc phải thực hiện đa năng. Với
tính chất sản phẩm thay đổi theo đơn hàng và với việc sử dụng máy móc hợp lý
đòi hỏi công ty phải có phương pháp tổ chức và điều hành thích hợp.
Hệ thống sản xuất của công ty khá linh hoạt, có khả năng thích ứng cao,
Tuy nhiên từ khi thành lập đến nay công ty luôn luôn nhận được rất nhiều đơn
đặt hàng. Đây là bằng chứng chứng tỏ rằng công ty đã vượt qua được các rào cản
đó. Vì sao? Ta biết rằng hàng ngoại nhập tuy có nhiều ưu thế hơn hàng nội
nhưng nó lại có một nhược điểm lớn về giá cả. Người dân nước ta tuy có tâm lý
thích dùng hàng ngoại nhưng đứng trước sự so sánh giá cả thì họ sẽ chọn hàng
nội rẻ hơn với chất lượng chấp nhận được. Mặt khác, công ty có ưu thế về
nguyên vật liệu và máy móc thiết bị đã làm cho hàng của công ty có thể cạnh
tranh được với hàng ngoài. Công ty sử dụng nguyên liệu là các loại nhựa phế
liệu, ống cao su… những nguyên liệu này tương đối dễ tìm và rất rẻ. Máy móc
thiết bị của công ty cũng tương đối hiện đại.Cùng với đội ngũ lao động lành nghề
đã biến những đồ phế thải thành những sản phẩm hoàn chỉnh về chất lượng có
Sinh viên thực hiện: TRẦN THỊ QUỲNH LÊ
5
thể đáp ứng được yêu cầu của khách hàng và đủ sức cạnh tranh trên thị trường.
Do đó, với ưu thế giá cả sản phẩm của công ty đã cạnh tranh được với hàng
ngoại và với chất lượng cao hàng của công ty cũng không thua kém gì của đối
thủ cạnh tranh trong nước.
Như vậy, với đặc điểm về sản phẩm và thị trường như trên, công ty
TNHH sản xuất và dịch vụ Mai Lâm có nhiều thuận lợi và cũng gặp một số khó
khăn trong sản xuất, kinh doanh. Thuận lợi với công ty ở chỗ sản phẩm của công
ty đã chiếm được lòng tin từ phía khách hàng và công ty cũng đang trên đà phát
triển mạnh. Khó khăn ở chỗ công ty phải đối mặt với nhiều cạnh tranh trên thị
trường, đặc biệt là cạnh tranh với các sản phẩm có hàm lượng kỹ thuật cao. Với
công ty còn non trẻ như công ty Mai Lâm thì điều này cũng là khó khăn đáng kể.
Tuy vậy, nhưng công ty cũng đang có những ưu thế khác như về vị trí địa lý
thuận lợi, về sự phát triển về quy mô trong tương lai, về đội ngũ lao động… Với
những thuận lợi ấy, công ty sẽ có khả năng phát triển mạnh mẽ hơn trong những
chặng đường tiếp theo.
1.2.2. Đặc điểm cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của công ty.
Bộ máy quản lý của công ty TNHH sản xuất và dịch vụ Mai Lâm được tổ
nhiều việc khác của thư ký văn phòng như: đánh máy, gửi công văn, giấy tờ,
soạn thảo văn bản… Công ty chưa có kế toán xưởng nên các công việc kế toán ở
xưởng cũng được kế toán kho kiêm nhiệm. Như vậy, kế toán của doanh nghiệp
làm cả việc chuyên môn: ghi chép sổ sách, vào sổ, thống kê, tính toán và nộp
thuế… và còn làm cả việc của nhân viên văn phòng: đánh máy, soạn thảo văn
bản, gửi giấy tờ…
- Phòng vật tư: Gồm có 2 người: 1 trưởng phòng và 1nhân viên.
Phòng có nhiệm vụ đảm bảo toàn bộ vật tư cho hoạt động sản xuất của công
ty. Do công ty sản xuất theo đơn đặt hàng nên cán bộ phụ trách vật tư thường
xuyên phải đi lại rất nhiều để đảm bảo cung cấp đủ vật liệu cho sản xuất.
Sinh viên thực hiện: TRẦN THỊ QUỲNH LÊ
8
Khoá luận tốt nghiệp
- Xưởng sản xuất: Là nơi trực tiếp sản xuất ra sản phẩm theo thiết kế của phó
giám đốc kỹ thuật đưa xuống. Xưởng gồm có 3 tổ sản xuất: tổ phế, tổ máy và tổ
đóng gói sản phẩm. Quản lý cả 3 tổ này là xưởng trưởng.
Tổ phế: Gồm có 3 người làm các nhiệm vụ cụ thể như sau:
Người chọn phế: người này có trách nhiệm chọn ra trong những phế liệu
công ty nhập về những phế liệu đạt tiêu chuẩn. Phế liệu đạt tiêu chuẩn là những
loại không còn có lẫn tạp chất trong đó. Vì vậy, công việc của người chọn phế
là tách những tạp chất như đất cát, sợi chỉ, sợi thép… ra khỏi nhựa phế. Công
việc tuy không phức tạp nhưng đòi hỏi sự cần cù, tỉ mỉ. Nếu người chọn phế
mà làm cẩu thả thì chất lượng phế sẽ không tốt ảnh hưởng tới chất lượng sản
phẩm.
Người rửa phế: sau khi phế đã được lựa chọn cẩn thận thì sẽ được đưa vào
máy rửa làm sạch một lần nữa. Tại công đoạn này, phế sẽ được máy phun nước
rửa sạch hết lớp chất bẩn bám trên bề mặt phế làm phế được tinh khiết hơn.
Người rửa phế có nhiệm vụ mang phế vào máy rửa và mang phế đến máy xay để
thực hiện công đoạn tiếp theo.
Người xay và cân phế: phế liệu đang ở dạng thô không thể đưa vào sản xuất
trách nhiệm giao hàng. Những người trong tổ này có nhiệm vụ quấn những bó
Gioăng đã cắt thành từng bó gọn gàng và đóng vào bao bì theo từng đơn hàng
của khách. Ở đây, từng loại kích cỡ Gioăng được phân biệt qua các loại dây
buộc. Cụ thể như: Gioăng 3 thì buộc màu xanh ở hai đầu bó còn giữa thì buộc
Sinh viên thực hiện: TRẦN THỊ QUỲNH LÊ
10
Khoá luận tốt nghiệp
màu vàng, Gioăng 5 thì buộc dây trắng hai đầu, giữa buộc màu đỏ… Như thế thì
khi đóng gói sản phẩm sẽ dễ phân biệt tránh được sự nhầm lẫn và tránh lãng phí
thời gian trong việc tìm kiếm. Người chuyên giao hàng thuộc bộ phận này nhưng
không phải quấn Gioăng mà chỉ đóng gói và giao theo đơn hàng. Nếu đơn hàng
lớn thì có xe của khách đến chở.
Chịu trách nhiệm ở mỗi tổ là tổ trưởng. Tổ trưởng có trách nhiệm riêng
chịu trách nhiệm trước xưởng trưởng và giám đốc công ty các vấn đề liên quan
đến tổ mình: điều hành các tổ viên, chịu trách nhiệm về thời gian giao nộp sản
phẩm, chất lượng sản phẩm... Các tổ viên làm việc theo chuyên môn thuộc tổ và
theo kế hoạch sản xuất. Xưởng trưởng là người chịu trách nhiệm trước giám đốc
và phó giám đốc kỹ thuật về toàn bộ hoạt động sản xuất trong công ty: về con
người, máy móc thiết bị, tiến độ công việc.
Theo trên , ta thấy rằng cơ cấu tổ chức của công ty là phù hợp với tình hình
thực tiễn hiện nay. Đó là một cơ cấu nhỏ gọn không quá nhiều bộ phận và không
có những bộ phận không hợp lý. Tất cả các bộ phận đều chịu trách nhiệm về một
lĩnh vực riêng và không đan xen chồng chéo lên nhau. Với cơ cấu này đảm bảo
cho công ty có thể hoạt động có hiệu quả. Công ty sản xuất theo đơn đặt hàng
nên không tránh khỏi tình trạng lúc thì ít, lúc thì nhiều đơn hàng. Nhưng với cơ
cấu được bố trí như vậy công ty có thể dễ dàng trong phân công lao động.
Như vậy, với cơ cấu gọn nhẹ như trên, công ty có thể sử dụng lao động có
hiệu quả, tránh được tình trạng dư thừa lao động. Cơ cấu này rất thuận lợi cho
công ty hoạt động với quy mô nhỏ như hiện nay và cũng rất thuận lợi cho công
ty trong tương lai khi quy mô được mở rộng hơn. Khi đó công ty chỉ cần thêm
Sinh viên thực hiện: TRẦN THỊ QUỲNH LÊ
12
Khoá luận tốt nghiệp
(đồng)
1 Máy rửa 1 000 000 1 1 000 000
2 Máy băm 1200 000 1 1 200 000
3 Máy trộn 1500 000 1 1 500 000
4 Máy cắt hạt 2 000 000 1 2 000 000
5 Máy đùn hạt 2500 000 3 7 500 000
6 Máy cán 4 000 000 1 4 000 000
Cộng 8 17 200 000
(Nguồn: Phòng tài vụ công ty TNHH sản xuất và dịch vụ Mai Lâm)
Trang thiết bị văn phòng của công ty cũng được trang bị rất chu đáo những
thiết bị cần thiết theo bảng sau:
Bảng 1.4: Máy móc, thiết bị văn phòng của công ty.
TT Tên máy móc, thiết bị
1 Máy tính văn phòng
2 Máy in
3 Máy điện thoại
4 Máy Fax
(Nguồn: phòng tài vụ công ty TNHH sản xuất và dịch vụ mai Lâm)
Đối với máy móc thiết bị văn phòng, công ty mua sắm đầy đủ theo yêu cầu công
việc. Do nguồn vốn của công ty còn hạn chế nên với mỗi phòng làm việc công
ty cho trang bị máy tính và máy điện thoại. Riêng phòng kế toán công ty cho
trang bị thêm máy in và máy fax để phục vụ cho quá trình làm việc được thuận
lợi hơn. Vì vậy, trong tương lai công ty phải mua sắm thêm những máy móc,
thiết bị văn phòng để trang bị cho các phòng còn lại. Chỉ khi cung cấp đủ máy
móc thiết bị hỗ trợ cho công việc văn phòng như vậy thì các bộ phận đó mới có
thể hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình.
1.2.4. Đặc điểm về lao động.
Sinh viên thực hiện: TRẦN THỊ QUỲNH LÊ
14
Khoá luận tốt nghiệp
Cũng như các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh khác, để sản xuất sản phẩm với
các chủng loại đa dạng thì tương ứng với nó phải có một số lượng lớn các chi
tiết, bộ phận và nguyên vật liệu đa dạng. Hơn nữa, thị trường nguyên vật liệu lại
thường xuyên thay đổi về giá cả và chủng loại. Vì vậy, trong tổng số danh mục
các loại vật tư, nguyên liệu mà công ty phải thường xuyên cập nhật. Với đặc
điểm sản xuất theo đơn hàng vì thế lượng nguyên liệu cũng có một số thay đổi
theo mặt hàng.
Danh mục nguyên vật liệu chính,phụ của doanh nghiệp:
Bảng 1.6: Danh mục nguyên vật liệu chính của công ty.
TT Tên nguyên vật liệu chính Đơn giá(đồng/kg)
1 Bột đá (CaCO
3
) 1238 (chưa VAT 5%)
2 Bột PVC 18 000 (VAT 10%)
3 Dầu DOP 33 000 (VAT 5%)
(Nguồn: Phòng vật tư công ty TNHH sản xuất và dịch vụ Mai Lâm)
Sinh viên thực hiện: TRẦN THỊ QUỲNH LÊ
15
Bảng 1.7: Danh mục nguyên vật liệu phụ của công ty.
TT Tên vật liệu phụ Đơn giá (đồng/kg)
1 Ti tan 28 000 (VAT 5%)
2 Bột đen 17 500 (VAT 5%)
3 Tẩy trắng sứ 145 000 (VAT 10%
4 Siêu dẻo 20 000 (VAT 10%)
5 Axits béo 101 20 000 (VAT 10%)
6 Ổn bột 32 000 (VAT 10%)
(Nguồn: Phòng vật tư công ty TNHH sản xuất và dịch vụ Mai Lâm)
gấp 2.8 lần năm 2007 và gấp 7.6 lần năm 2006. Như vậy, công ty TNHH sản
xuất và dịch vụ Mai Lâm đã chứng tỏ cho mọi người thấy công ty đang làm ăn
rất hiệu quả và đóng góp số tiền thuế không nhỏ cho ngân sách nhà nước.
Sau đây chúng ta đi sâu vào tìm hiểu một bộ phận rất quan trọng trong các bộ
phận cấu thành công ty xem đạt được kết quả kinh doanh tốt như vậy nhưng thực
sự công ty đã quan tâm tới các yếu tố, bộ phận của mình như thế nào. Đó là bộ
phận lao động của công ty- yếu tố quan trọng nhất của mọi tổ chức.
PHẦN 2
Sinh viên thực hiện: TRẦN THỊ QUỲNH LÊ
17
PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH SỬ DỤNG LAO ĐỘNG CỦA CÔNG TY
TNHH SẢN XUẤT VÀ DỊCH VỤ MAI LÂM
Chúng ta đã biết rằng lao động là một trong 3 yếu tố quan trọng của quá trình sản
xuất là : Lao động (con người), tư liệu lao động (máy móc, thiết bị), và đối tượng
lao động (các nguyên vật liệu). Do đó để quá trình sản xuất được diễn ra thuận
lợi thì phải biết kết hợp cả 3 yếu tố này, thiếu một trong 3 yếu tố thì quá trình sản
xuất không thể diễn ra được. Nếu chỉ có máy móc thiết bị và nguyên vật liệu mà
không có con người điều khiển máy móc thì sẽ không tạo ra kết quả. Ngược lại,
có con người nhưng không có nguyên liệu và máy móc thì cũng không thể tạo ra
sản phẩm được. Vì vậy, 3 yếu tố này phải được kết hợp chặt chẽ với nhau, nếu
kết hợp tốt thì sẽ làm tăng của cải vật chất do quá trình sản xuất tạo ra cho xã
hội, nếu kết hợp không tốt thì sẽ làm giảm đi của cải, vật chất. Mặt khác, lao
động cũng là một yếu tố của lực lượng sản xuất, nếu như chúng ta sử dụng máy
móc và nguyên vật liệu một cách triệt để để phục vụ lợi ích của chúng ta thì lao
động cũng phải được sử dụng triệt để. Nhưng bên cạnh đó, lao động lại là một
thành viên của xã hội. Họ là những con người có suy nghĩ, có ý thức, có đời sống
tâm lý – xã hội, vì thế họ không thể như là những cỗ máy không có suy nghĩ.
Muốn sử dụng họ có hiệu quả thì phải tạo ra những điều kiện thuận lợi cho họ,
phải biết động viên, khuyến khích, đào tạo… họ. Có như vậy họ mới đem lại kết
quả tốt cho quá trình sản xuất xã hội.
nhân viên phòng vật tư, 1 giám đốc và 1 phó giám đốc kỹ thuật, 1 xưởng trưởng.
10 lao động còn lại làm trong xưởng sản xuất.
Sinh viên thực hiện: TRẦN THỊ QUỲNH LÊ
19
Năm 2007, công ty tuyển thêm 1 nhân viên phòng vật tư, và đồng thời tuyển
thêm 5 lao động làm việc ở xưởng sản xuất.
Đầu 2008, do việc sản xuất, kinh doanh ngày càng thuận lợi nên số lượng lao
động trong năm 2007 không đáp ứng đủ nhu cầu sản xuất hàng ngày. Vì vậy,
tháng 5/2008 công ty đã tuyển thêm 11 lao động trong đó có 1 kế toán kho và 10
công nhân sản xuất làm việc tại xưởng.
Như vậy trong 3 năm số lượng lao động trong công ty đã tăng lên từ 15 người
năm 2006 lên tới 31 người năm 2008. Với số lao động tăng lên theo các năm như
vậy nhưng công ty đã sử dụng họ như thế nào? Sau đây chúng ta sẽ cùng tìm
hiểu cụ thể hơn.
Bảng 2.2: Tình hình sử dụng số lượng lao động của công ty giai đoạn
2006 – 5/2008
Đơn vị: Người.
Năm Tổng số lao động Lao động thường xuyên Lao động dôi dư
2006 15 15 0
2007 20 20 0
5/2008 31 31 0
(Nguồn: phòng tài vụ công ty TNHH sản xuất và dịch vụ Mai Lâm)
Qua bảng số liệu trên ta thấy trong 3 năm qua công ty đã liên tục tăng số lượng
lao động nhưng số lao động này được công ty sử dụng hết, không để dôi dư. Nếu
chỉ nhìn vào tình hình biến động số lượng lao động này thì ta thấy công ty sử
dụng số lượng lao động khá tốt.
Chúng ta có thể biễu diễn bảng trên thành sơ đồ như sau:
Sơ đồ 2.1: Tình hình sử dụng số lượng lao động của công ty TNHH
sản xuất và dịch vụ Mai Lâm giai đoạn 2006- 5/2008.
Sinh viên thực hiện: TRẦN THỊ QUỲNH LÊ
16
2
0
14
25
3
6
16
Tổng số lao động. 13 18 31
Tỉ trọng 41.94% 58.06% 100%
(Nguồn: phòng tài vụ công ty TNHH sản xuất và dịch vụ Mai Lâm)
Qua bảng số liệu của công ty trên, ta thấy rằng tỉ lệ nam - nữ của công ty không
chênh lệch nhau nhiều. Nữ chiếm tỉ lệ lớn hơn nam, điều này không hề gây mất
cân đối trong lao động mà lại rất phù hợp với ngành nghề sản xuất của công ty.
Đối với công ty TNHH sản xuất và dịch vụ Mai Lâm lao động sản xuất mang
tính chất thủ công là chủ yếu, và đặc điểm nổi bật của công ty là rất cần nhiều
lao động nữ. Bởi vì lao động nữ với tính chất khéo léo, chịu khó thích hợp với
công việc ngồi bó Gioăng, còn nam giới thì thích hợp hơn với việc điều khiển
máy móc, thiết bị. Nhưng lao động nữ cũng gây ra bất lợi cho công ty ở chỗ: họ
vừa là người lao động của công ty vừa là người phụ nữ trong gia đình nên ngoài
việc hoàn thành nhiệm vụ sản xuất của công ty thì họ còn phải giữ chức vụ là
người vợ, người mẹ. Do đó, trong những năm qua công ty cũng phải cho lao
động nữ nghỉ đẻ, nghỉ chăm sóc con cái ốm và nghỉ trong những ngày của phụ
nữ. Vì vậy, họ cũng làm ảnh hưởng đến công việc chung của công ty.
Sinh viên thực hiện: TRẦN THỊ QUỲNH LÊ
22
Khoá luận tốt nghiệp
Với cơ cấu lao động theo độ tuổi, công ty có thể xem là nơi có đội ngũ lao
động trẻ. Độ tuổi của họ từ 20 đến 50 kể cả ban lãnh đạo công ty. Cơ cấu về độ
tuổi được chỉ ra ở bảng dưới đây.
11
1
4
2
4
35.49
3.225
12.91
6.45
12.91
41 – 50
Trong đó:
Giám đốc công ty
Phó giám đốc kỹ thuật
2
1
1
6.45
3.225
3.225
Trên 50 0 0
Tổng 31 100
(Nguồn: phòng tài vụ công ty TNHH sản xuất và dịch vụ Mai Lâm)
Nhìn vào bảng trên ta thấy, lao động của công ty có độ tuổi rất trẻ. Hầu hết công
nhân làm việc đóng gói sản phẩm có độ tuổi từ 20 – 30 tuổi, một số nằm trong
khoảng 41 – 50 tuổi.
Độ tuổi từ 20 – 30: Các lao động trong độ tuổi này phần lớn là công nhân đóng
gói sản phẩm. Độ tuổi này chiếm hơn một nửa tổng số lao động của công ty
Sinh viên thực hiện: TRẦN THỊ QUỲNH LÊ
23
động gián tiếp tuy nhỏ nhưng đảm bảo điều hành tất cả công việc liên quan đến
sản xuất kinh doanh của công ty. Như thế, công ty có đội ngũ lao động gián tiếp
tinh gọn và hiệu quả tránh được những lãng phí không cần thiết.
2.1.3. Phân tích tình hình sử dụng số lượng lao động của công ty trong thời
gian qua.
Theo phân tích ở trên, chúng ta thấy nhìn về mặt tổng quát công ty TNHH sản
xuất và dịch vụ Mai Lâm đã sử dụng hết số lượng lao động hiện có của mình
không để có hiện tượng dôi dư lao động. Đồng thời chúng ta cũng thấy được
công ty đã có một cơ cấu lao động khá hợp lý với một đội ngũ lao động trẻ đầy
tiềm năng. Bây giờ chúng ta tìm hiểu về một tuần làm việc của các lao động ở
công ty để xem công ty có đảm bảo số lượng lao động thường xuyên hay không?
Bảng 2.6: Số lượng lao động của công ty tuần1 tháng 5/2008.
Đơn vị: người
Chỉ tiêu Thứ 2 Thứ 3 Thứ 4 Thứ 5 Thứ 6
Lao động gián tiếp 7 6 4 6 7
Lao động trực tiếp 24 22 24 20 23
Tổng số lao động 31 28 28 26 30
(Nguồn: phòng tài vụ công ty TNHH sản xuất và dịch vụ Mai Lâm)
Nhìn vào bảng thống kê tuần làm việc đầu tiên của tháng 5/2008 chúng ta thấy
rằng số lượng lao động của công ty làm việc không đầy đủ trong tất cả các ngày.
Ngày thứ 2 số lao động là đầy đủ, còn lại trong tuần số lao động không đến làm
việc đầy đủ. Có hôm thiếu lao động trực tiếp như thứ 3 (thiếu 2 người) và thứ 5
(thiếu 4 người). Cũng có hôm thiếu lao động gián tiếp như thứ 5 (thiếu 1 người),
thứ 4 (thiếu 3 người). Và cũng có hôm cả lao động trực tiếp và gián tiếp đều
vắng mặt: thứ 3( thiếu 1lao động gián tiếp, 2 lao động trực tiếp). Quan sát tiếp
Sinh viên thực hiện: TRẦN THỊ QUỲNH LÊ
25