Trang 26
mục lục
Mục lục
1
Mở đầu
2
Nội dung
3
I
Lý luận của chủ nghĩa Trọng thơng
4
II
Lý luận của chủ nghĩa Trọng nông
4
III
Các lý luận giá trị, giá cả hàng hoá trong các học thuyết kinh tế
chính trị t sản cổ điển Anh
5
1
William Petty Ngời đầu tiên đa ra nguyên lý lao động quyết định giá
trị trong kinh tế chính trị học t sản
8
2
Adam Smith Ngời đầu tiên trình bày một cách có hệ thống lý luận
giá trị lao động và những yếu tố tầm thờng còn tồn tại trong lý luận của
ông
9
3
Lý luận về giá trị lao động của David Ricacdo đã đạt tới đỉnh cao của
kinh tế chính trị học cổ điển của giai cấp t sản
11
những hiểu biết và cách giải thích các hiện tợng kinh tế xã hội nhất định.
Việc giải thích các hiện tợng kinh tế xã hội ngày càng trở nên hết sức cần
thiết đối với đời sống kinh tế của xã hội loài ngời. Lúc đầu nó chỉ xuất hiện d-
ới những hình thức t tởng kinh tế, về sau mới trở thành những quan niệm, quan
điểm kinh tế có tính hệ thống của các giai cấp khác nhau, đáp ứng cho nhu
cầu lý luận và bảo vệ các lợi ích của các giai cấp đó. Mặt khác, các trờng phái
lý luận qua các giai đoạn lịch sử khác nhau mang tính kế thừa, phát triển,
cũng nh phê phán có tính lịch sử của các trờng phái kinh tế học.
Trờng phái kinh tế chính trị học t sản đầu tiên là chủ nghĩa Trọng thơng.
Nó ra đời trong thời kỳ tích luỹ nguyên thuỷ t bản. Đối tợng nghiên cứu của
kinh tế chính trị học lúc này là lĩnh vực lu thông và đánh giá cao vai trò tiền tệ
trong việc tích luỹ của cải. Con đờng làm tăng của cải là thơng nghiệp, là
ngoại thơng. Họ đòi hỏi sự can thiệp của Nhà nớc vào nền kinh tế để tạo điều
kiện cho chủ nghĩa t bản ra đơì.
Theo đà thâm nhập của t bản vào lĩnh vực sản xuất, những vấn đề kinh tế
của sản xuất nảy sinh vợt quá khả năng lý giải của chủ nghĩa Trọng thơng;
Đòi hỏi phải có những lý thuyết mới Kinh tế chính trị học t sản cổ điển
xuất hiện.
Kinh tế chính trị học t sản cổ điển lần đầu tiên chuyển đối tợng nghiên
cứu từ lĩnh vực lu thông sang lĩnh vực sản xuất. Các đại biểu xuất sẵc của tr-
ờng phái cổ điển là W.Petty, F.Quesnay, A.Smith, D.Ricacdo. Các ông nghiên
cứu những vấn đề cơ bản của lý luận kinh tế chính trị học nh thuyết giá trị lao
động, tiền lơng, lợi nhuận, lợi túc, t bản, tích luỹ, tái sản xuất. Từ đó xây dựng
nên hệ thống các phạm trù, quy luật kinh tế. Trờng phái này ủng hộ t tởng tự
Trang 26
do kinh tế, dới sự chi phối của bàn tay vô hình, Nhà nớc không can thiệp vào
kinh tế.
Song thực tế đã bác bỏ t tởng tự do kinh tế của trờng phái cổ điển. Đồng
thời thể hiện sự bất lực của kinh tế chính trị học t sản cổ điển trớc những hiện
thực kinh tế mới. Trớc bố cảnh đó, nhiều trào lu kinh tế chính trị học nổi lên
nghiệp khai thác vàng và bạc) chỉ có hoạt động ngoại thơng mới là nguồn gốc
thật sự của của cải.
Khối lợng tiền tệ chỉ có thể gia tăng bằng con đờng ngoại thơng. Trong
hoạt động ngoại thơng phải thực hiện chính sách xuất siêu (xuất nhiều, nhập
ít).
Nội thơng là một hệ thống ống dẫn, ngoại thơng là máy bơm, muốn
tăng của cải phải có ngoại thơng nhập dần của cải qua nội thơng .
Những ngời trọng thơng cho rằng, lợi nhuận thơng nghiệp là kết quả của
sự trao đổi không ngang giá, là sự lừa gạt, nh chiến tranh. Họ cho rằng, không
một ngời nào thu đợc lợi mà lại không làm thiệt kẻ khác. Dân tộc này là giàu
Trang 26
bằng cách hy sinh lợi ích của dân tộc khác. Trong trao đổi phải có một bên
thua để bên kia đợc.
Mặc dù còn hạn chế về tính lý luận nhng hệ thống quan điểm học thuyết
kinh tế Trọng thơng đã taọ ra những tiền đề lý luận kinh tế xã hội cho các lý
luận kinh tế thị trờng sau này phát triển. Điều này thể hiện ở chỗ họ đa ra
quan điểm sự giàu có không phải là giá trị sử dụng mà là giá trị, là tiền. Mục
đích hoạt động của kinh tế hàng hoá, kinh tế thị trờng là lợi nhuận. Marx chỉ
ra rằng chủ nghĩa Trọng thơng thế kỷ XVI-XVII đã đi theo cái hình thái
chói lọi của giá trị trao đổi và đứng trên lĩnh vực thô sơ của lu thông hàng
hoá để xem xét nền sản xuất t bản chủ nghĩa .
II-/ lý luận của chủ nghĩa Trọng nông:
Cũng nh chủ nghĩa Trọng thơng, chủ nghĩa Trọng nông xuất hiện trong
khuôn khổ thời kỳ quá độ phong kiến sang chế độ t bản chủ nghĩa, nhng ở giai
đoạn phát triển kinh tế trởng thành hơn. Vào giữa thế kỷ XVIII Tây Âu đã
phát triển theo con đờng t bản chủ nghĩa và ở nớc Anh, cuộc cách mạng công
nghiệp đã bắt đầu. ở nớc Pháp chủ nghĩa t bản công trờng thủ công đã bén rễ
ăn sâu một cách vững chắc. Điều đó đòi hỏi xét lại học thuyết của chủ nghĩa
Trọng thơng đã trở thành cấp thiết. Thời kỳ tích luỹ ban đầu đã chấm dứt và
việc dùng thơng mại để bóc lột các nớc thuộc địa đã mất hết ý nghĩa đặc biệt
nghiệp không có thể làm tăng thêm số lợng của giá trị sử dụng mà chỉ có thể
làm thay đổi hình thái của giá trị sử dụng, còn thơng nghiệp thì không thể làm
thay đổi ngay cả đến hình thái của giá trị sử dụng. Ông kết luận, nông nghiệp
là ngành kinh tế sản xuất duy nhất, còn công nghiệp thì chỉ có tiêu dùng chứ
hoàn toàn không có sản xuất. Công nghiệp chẳng qua là chế biến lại nguyên
liệu của nông nghiệp. Trong công nghệp ngời ta không tạo ra chất mới, chỉ là
sự kết hợp nhiều nguyên tố của các chất khác nhau đã tồn tại từ trớc. Trong
nông nghiệp không có sự kết hợp mà chỉ có sự tăng thêm về chất, tạo ra sản
phẩm thuần tuý mới.
F.Quesnay tuyên bố: Chỉ có của cải dân c ở nông thôn mới để ra của
cải quốc gia , nông dân nghèo thì xứ sở nghèo .
Trang 26
Nh vậy, chủ nghĩa Trọng nông đã giải thích nguồn gốc của sản phẩm
thuần tuý theo tinh thần của chủ nghĩa tự nhiên, tựa hồ nh đất đai là nguồn gốc
của sản phẩm thuần tuý. Trong học thuyết này, họ đã coi sản phẩm thuần tuý
là sản phẩm lao động của ngời công nhân làm thuê, bộ phận này đã biến thành
nguồn thu nhập của giai cấp t sản và địa chủ.
Tuy nhiên, phái Trọng nông đã tầm thờng hoá khái niệm của cải, không
thấy tính hai mặt của nó (hiện vật và giá trị). Ai cũng biết rằng việc làm tăng
thêm giá trị của vật phẩm thờng kèm theo việc làm giảm khối lợng thực thể
chứa đựng trong các vật phẩm đó. Giá trị và khối lợng của vật phẩm có thể
thay đổi theo chiều hớng hoàn toàn ngợc nhau.
III-/ Các lý luận giá trị, giá cả hàng hoá trong các học
thuyết kinh tế chính trị t sản cổ điển Anh:
Chủ nghĩa Trọng thơng đã trở thành lỗi thời và bắt đầu tan rã ngay từ thế
kỷ XVII, trớc hết là Anh, một nớc phát triển nhất về mặt kinh tế. Tiền đề của
việc đó đợc tạo ra chủ yếu là do sự phát triển các công trờng thủ công ở Anh,
đặc biệt là trong nhành dệt, sau đó là công nghiệp khai thác. Giai cấp t sản đã
nhận thức đợc rằng: muốn làm giàu phải bóc lột lao động, lao động làm
thuê của những ngời nghèo là nguồn gốc làm giàu vô tận cho những ngời
thuyết giá trị lao động. Tuy lý thuyết giá trị - lao động của ông còn có những
hạn chế cha phân biệt đợc các phạm trù giá trị, giá trị trao đổi với giá cả. Ông
tập trung nghiên cứu về giá cả một bên là hàng hoá, một bên là tiền, tức là ông
mới chú ý nghiên cứu về mặt lợng. Ông nhận thức đợc rằng giá trị của tiền tệ
cũng là do lợng lao động quyết định, từ đó khắc phục đợc các kiến giải không
những không thể trừu tợng hoá đợc giá trị từ giá trị trao đổi, mà còn không
trừu tợng hoá đợc giá trị trao đổi từ giá cả là biểu hiện bằng tiền của giá trị,
mà ông đã lẫn lộn hai cái đó. Ông cũng chia lao động ra làm hai loại: một loại
lao động sản xuất ra vàng và bạc, một loại khác là lao động sản xuất ra những
hàng hoá bình thờng. Ông cho rằng chỉ có lao động khai thác vàng và bạc mới
Trang 26
có giá trị trao đổi, còn các lao động khác thì chỉ khi trao đổi hàng và tiền mới
này sinh giá trị trao đổi. Theo ông, giá trị hàng hoá chính là sự phản ánh giá
trị tiền tệ cũng nh ánh sáng của mặt trăng là sự phản chiếu ánh sáng mặt trời
vậy. Đó là ảnh hởng t tởng chủ nghĩa Trọng thơng rất nặng ở ông.
Petty đã lẫn lộn lao động với t cách là nguồn gốc của giá trị với lao động
với t cách là nguồn gốc của giá trị sử dụng, nghĩa là ông đã đồng nhất lao
động trừu tợng với lao động cụ thể. Từ đó Petty có ý định đo giá trị bằng hai
đơn vị lao động và đất đai. Ông nêu ra câu nói nổi tiếng: Lao động là cha,
còn đất là mẹ của của cải . Về phơng diện của cải nói nh vậy là đúng, chỉ rõ
nguồn gốc giá trị sử dụng. Nhng cái mà ông muốn nói đến là giá trị, ông nói:
việc xem xét giá trị của tất cả mọi hàng hoá đều phải xuất phát từ hai yếu tố tự
nhiên, tức là đất đai và lao động. Nói nh vậy ông đã đi ngợc lại kết luận đúng
đắn của chính mình là giá trị đợc quyết định bởi thời gian lao động hao phí
trong quá trình sản xuất hàng hoá.
2-/ Adam Smith Ng ời đầu tiên trình bày một cách có hệ thống lý
luận giá trị lao động và những yếu tố tầm thờng còn tồn tại trong lý luận
của ông:
Adam Smith (1723-1790) là nhà kinh tế chính trị cổ điển nổi tiếng ở Anh
và trên thế giới. Ông là nhà t tởng tiên tiến của giai cấp t sản, ông muốn thủ
động đơn giản. Nhng đồng thời ông lại cho rằng giá trị một hàng hóa bằng số
lợng lao động mà ngời ta có thể mua đợc nhờ hàng hoá đó. Đây là điều luẩn
quẩn và sai lầm của A.Smith, dùng giá trị quyết định giá trị. Ông đã lẫn lộn
vấn đề giá trị đã đợc quyết định nh thế nào trong sản xuất và giá trị đã biểu
hiện nh thế nào trong trao đổi.
Về cấu thành giá trị của hàng hoá. Theo A.Smith trong sản xuất t bản
chủ nghĩa, tiền lơng, lợi nhuận và địa tô là ba nguồn gốc đầu tiên của mọi thu
nhập, cũng nh mọi giá trị trao đổi. A.Smith coi tiền lơng, lợi nhuận và địa tô là
ba nguồn gốc đầu tiên của mọi thu nhập, đó là quan điểm đúng đắn. Song ông
lại tầm thờng ở chỗ coi các khoản thu nhập là nguồn gốc đầu tiên của mọi giá
trị trao đổi. Ông đã lẫn lộn hai vấn đề hình thành giá trị và phân phối giá trị,
giá trị của hàng hoá với giá trị mới sáng tạo ra của lao động; Hơn nữa, ông
cũng đã xem thờng t bản bất biến, coi giá trị hàng hoá chỉ có (V+m).