LUẬN VĂN: Phân tích hiện tượng tiền lương trong TBCN thương thấp hơn giá trị sức lao động pot - Pdf 11

LUẬN VĂN:

Phân tích hiện tượng tiền lương
trong TBCN thương thấp hơn
giá trị sức lao động.
Lời nói đầu Mức sống của mỗi con người là do những điều kiện sinh sống và lao động của họ
quyết định. Họ lao động với năng suất cao nhất nhằm thu được tiền lương thoả đáng để
đáp ứng cho mức sinh hoạt.
Vì vậy, tiền lương được coi là yếu tố rất quan trọng đối với người lao động.
Nhưng trên thực tế những người công nhân có sống được bằng lương của mình hay
không? Liệu họ có lo đủ mức sinh hoạt tối thiểu cho mình hay không, họ có khả năng
nuôi sống được bao nhiêu người không đủ khả năng lao động?
Đây chính là vấn đề rất đáng quan tâm của toàn xã hội và bản thân mỗi chúng ta
trong mọi thời buổi kinh tế. Lý do đó khiến em chọn chủ đề Phân tích hiện tượng tiền
lương trong TBCN thương thấp hơn giá trị sức lao động.


dư của sức lao động của công nhân tạo ra một giá trị mới lớn hơn giá trị của sức lao động
(tiền lương) phần lớn hơn là giá trị thặng dư thuộc chủ tư bản
“Xét đến nhà tư bản hắn ta muốn có nhiều lao động nhất với số tiền ít nhất vì vậy
trong thực tiễn hắn lại chỉ quan tâm đến sự khác nhau giữa giá cả sức lao động và giá trị do sự hoạt động của sức lao động tạo ra và thường mua dưới giá trị và bán trên giá trị.
Do đó hắn ta không thể hiểu được với một vật như giá trị sức lao động tồn tại thực sự và
nếu hắn ta thực sự trả cho giá trị ấy thì sẽ không có một tư bản nào cả và tiền lương của
hắn ta cũng không biến thành tư bản”
(toàn tập 23 Mác-Ăngghen)
Trong lao động của nô lệ, ngay cả phần ngày lao động trong đó người nô lệ chỉ
hoàn lại giá trị của những tư liệu sinh hoạt của riêng mình, trong đó anh ta thực sự chỉ
làm việc cho mình ngay cả phần đó cũng thể hiện ra là lao động cho người chủ. Tất cả lao
động anh ta thể hiện ra là lao động không lương. Trái lại ở người lao động làm thuê thì
ngay cả lao động thặng dư hoặc lao động không lương cũng thể hiện ra như là lao động
được trả lương. ở kia, quan hệ sở hữu đã che mất lao động làm cho mình của người nô lệ
còn ở đây thì quan hệ tiền tệ đã che mất lao động không lương của người công nhân làm
thuê.
2.Hình thức cơ bản của tiền lương:
- Tiền lương theo thời gian: Là hình thức tiền lương mà số lượng của nó tỷ lệ
thuận với thời gian làm việc của người lao động ở những lương việc không tính được
bằng sản phẩm. Giá cả lao động đã cho sẵn thì tiền lương ngày hay tuần phụ thuộc vào số
lượng lao động đã cung cấp dẫn đến giá cả lao động càng giảm thì số lượng lao động lại
càng phải lớn hoặc ngày lao động lại phải càng dài để đảm bảo cho người công nhân có
được dù là một số tiền lương tư bản thảm hại. ở đây, mức giá cả lao động thấp tác động
như là một yếu tố kích thích việc kéo dài ngày lao động nhưng việc kéo dài => giá cả lao
động tụt xuống => tiền lương tuần tụt xuống. Với hình thức này thì nhà tư bản có thể kéo
dài ngày lao động, tăng cường độ, có thể linh hoạt áp dụng lương giờ khi có ít việc làm,
ngày, tuần khi có nhiều việc làm => Khi kỹ thuật thủ lương và thời nay khi chuyển sang

lương cho thợ phụ. Việc tư bản bóc lột công nhân được tiến hành thông qua sự bóc lột
giữa công nhân với công nhân => bản chất của nhà tư bản họ không bóc lột trực tiếp mà
thông qua công nhân bóc lột công nhân. Đối với tiền lương theo thời gian thì nhà tư bản
bóc lột công nhân qua kéo dài ngày lao động, tăng cường độ lao động => chủ động thuộc
về nhà tư bản. Còn đối với tiền lương theo sản phẩm thì chủ tư bản tiết kiệm chi phí trả
lương cho hệ thống bộ máy đốc lương, nhưng khác với tiền lương tính theo thời gian
người công nhân mang tính chủ động hơn họ vì lợi ích của mình mà cải tiến kỹ thuật,
tăng cường độ lao động, nâng cao tay nghề => năng suất lao động tăng, rõ ràng nhà tư bản đã có được cách bóc lột hiệu quả nhất mà không phải ra mặt. Nhưng những người
công nhân đó không thể ngờ được khi năng suất của họ càng tăng lên thì mức lương của
họ càng bị giảm sút, càng ít so với trước đến mức với tiền lương của mình họ phải sống
với mức lương tối thiểu mà cũng không đủ => thấy rõ sự bần cùng hoá của giai cấp công
nhân
3.Tiền lương danh nghĩa, tiền lương thực tế và xu hướng hạ thấp của tiền lương
thực tế.
- Tiền lương danh nghĩa: Là số tiền mà người công nhân nhận được sau khi đã
làm việc cho nhà tư bản.
- Tiền lương thực tế: Là tổng khối lượng và chất lượng của những tư liệu tiêu
dùng mà người công nhân mua được bằng tiền lương danh nghĩa, nó phản ánh chính xác
mức sống của người công nhân. Tiền lương danh nghĩa là giá cả của hàng hoá sức lao
động nó có thể tăng lên hay giảm xuống tuỳ theo sự biến động trong quan hệ cung cầu về
hàng hoá sức lao động trên thị trường. Trong quá trình phát triển của chủ nghĩa tư bản,
tiền lương danh nghĩa có xu hướng tăng lên nhưng mức tăng thì không kịp với mức tăng
giá cả tư liệu tiêu dùng và dịch vụ khi đó tiền lương thực tế của công nhân có xu hướng
hạ thấp.
“Tiền lương là giá cả của sức lao động, nên sự vận động của nó gắn liền với sự
biến đổi của giá trị sức lao động. Lượng giá trị sức lao động chịu ảnh hưởng của các nhân
tố tác động ngược chiều nhau. Nhân tố tác động làm tăng giá trị sức lao động như sự

ca từ 1,33 mác lên 2,59 mác còn tiền lương một năm từ 386,3 mác - 729 mác song chỉ số
rất dao động. Nói chung giá sinh hoạt đắt ghê gớm nếu như 1900 là 100 thì 1849 là 49%”
(Lịch sử kinh tế các nước tư bản chủ nghĩa).
Vì cung > cầu nên tiền lương ngày càng thấp hơn giá trị sức lao động, tiền lương
có xu hướng hạ thấp trong khoảng thời gian dài. Sự bần cùng của giai cấp công nhân đã
hoàn toàn rõ ràng những tiến bộ khoa học kỹ thuật của nước Đức tư bản chủ nghĩa đã đạt
được bằng cách bóc lột công nhân một cách tàn khốc “Glogao tiền lương không đủ đảm
bảo mức sống tối thiểu mặc dù họ ăn khoai tây, bánh mì, lúa mì đen… Không những thế
còn do khủng hoảng kinh tế theo chu kỳ nảy sinh nạn thất nghiệp, gây nên giảm tiền
lương. Thất nghiệp là tai họa ghê gớm đối với giai cấp vô sản. Dưới một chế độ mà việc
bán sức lao động là phương tiện duy nhất để duy trì sự sống thì thất nghiệp có nghĩa là đứng trước cảnh chết đói. Vậy mà nạn thất nghiệp thì đã trở nên thường xuyên ngày càng
trầm trọng.”
Suốt trong mấy chục năm trước đây ngay cả trong những lúc không có khủng
hoảng kinh tế, ở Mĩ cũng thường xuyên có tới 2-3 triệu người thất nghiệp và khoảng
chừng ấy người nữa nửa thất nghiệp. Nếu kể cả số người trong gia đình họ thì như vậy là
hàng ngày, trong giới tư bản có hàng mấy chục triệu người mà đến ngay cả cái phương
tiện duy nhất để sống cũng không có. Thất nghiệp còn là một tai họa đối với những người
có việc làm: Tiền lương của họ bị hạ thấp, cường độ lao động bị nâng cao, ngày lao động
bị kéo dài. Ngoài ra, họ còn phải san sẻ số tiền lương ít ỏi của mình cho những người anh
em bà con không có việc làm. Và nạn thất nghiệp tăng một phần là do khoa học kỹ thuật,
chiến tranh đế quốc và quân sự hoá nền kinh tế.
Chiến tranh làm cho giá cả sinh hoạt trở nên đắt đỏ, việc cung cấp lương thực và
mọi tư liệu sinh hoạt khác bị thiếu thốn, tiền lương bị hạ thấp, thuế má nặng nề thêm, lao
động được coi là lao động cưỡng bách. Cuộc sống của những người vô sản ngày càng bị
huỷ hoại vì mục đích làm giàu của chủ nghĩa tư bản. Chúng ta biết rằng tiền lương là giá
cả sức lao động nhưng nó luôn thấp hơn giá trị của nó, tiền lương thực tế càng ngày càng
không đảm bảo nổi toàn bộ chi tiêu gia đình công nhân. “ở Pháp, theo bác sĩ chuẩn đoán

* Công nhân có đủ sống với mức lương của mình hay không?
Mức lương được nhà nước quy định:
Mức lương = lương tối thiểu

hệ số mức lương
Đối với những người công nhân thì hệ số mức lương < 5 với mức lương này thì họ
có đủ sống không? Xin thưa là họ sống khá chật vật với mức sinh hoạt & tiêu dùng ngày
càng đắt đỏ. Và họ không chỉ nuôi bản thân mình họ còn phải nuôi những người chưa đến
tuổi lao động hoặc đã qua tuổi lao động. Chúng ta hãy xem mức sống của người công
nhân qua mức lương họ nhận được.
Ông Phạm Hùng, công nhân của lương ty xây dựng Hà Nội nhận được tiền lương
mỗi tháng là 210 nghìn đồng  2,8=588 nghìn đồng.
Trong đó : + 210 nghìn đồng là mức lương tối thiểu nhà nước quy định
+ 2,8 là hệ số mức lương của công nhân.
Nhưng không phải ông Hùng nhận được toàn bộ số tiền lương 588 nghìn đồng mà
ông phải đóng 15% bảo hiểm xã hội, 2% bảo hiểm y tế để hưởng lương hưu sau này =>
Tiền lương thực tế còn lại là 500 nghìn đồng chi tiêu cho cả tháng bao gồm mọi sinh hoạt tiêu dùng, ngoài ra ông còn phải lo cho một con ăn học đại học với mức phí 400
nghìn/tháng. Như vậy rõ ràng là mức lương của ông Hùng không thể đáp ứng được nhu
cầu cuộc sống hiện nay.
Và rõ ràng là để tồn tại thì ông không thể trông cậy vào số lương hiện nay mà phải
sống với mức lương ngoài khác thì mới mong có thể đáp ứng với cuộc sống hiện nay. ở
Việt Nam thì một người cũng chỉ có thể nuôi thêm tối đa được 1 đến 2 người, trong khi
đó ở các nước trong khu vực thì mỗi người đi làm có thể nuôi được từ 4-5 người, và ở các
nước phát triển như Mỹ, Nhật thì mỗi người đi làm có thể nuôi >8 người=> Điều đó cho
thấy tiền lương ở nước ta quá thấp so với các nước trong khu vực=> Chúng ta cần có
những quy định, bộ luật về tiền lương để nâng cao mức sống cho người công nhân.
* Nhà nước đã quy định mức lương như thế nào và có những cải thiện gì?

nâng cao tiền lương thực tế nhằm đảm bảo những sinh hoạt tối thiểu trong cuộc sống của
người lao động. Như việc tăng tiền lương danh nghĩa chỉ là biện pháp tạm thời khi mà giá
cả tiêu dùng ngày càng có xu hướng tăng dẫn đến tiền lương thực tế có xu hướng giảm.
Vấn đề cấp thiết để nâng cao đời sống của người lao động là phải nâng cao trình độ làm
việc của họ. Khi đã có trình độ lao động sản xuất họ sẽ nhận được những mức lương phù
hợp để nâng cao mức sống của mình.

Mục lục

Lời nói đầu
Nội dung ……………………………………………………………………1
. Quan niệm kinh tế chính trị Mác-Lênin về tiền lương……………………… 1
1.Tiền lương trong chủ nghĩa tư bản, sự chuyển hoá giá trị sức lao động thành tiền
lương…………………………………………………………………1
2.Hình thức cơ bản của tiền lương……………………………………… 2
3.Tiền lương danh nghĩa, tiền lương thực tế và xu hướng hạ thấp của tiền lương
thực tế…………………………………………………………………… 4
4.Xu hướng tiền lương trong CNTB thấp hơn giá trị sức lao động - sự bần cùng
hoá của giai cấp công nhân qua các cuộc khủng hoảng kinh tế, chiến tranh đế quốc và
quân sự hoá nền kinh tế…………………………………………………5
II. Những liên hệ thực tế ở Việt Nam và những điều cần rút kinh nghiệm…… 8
1.Tình hình tiền lương thực tế ở Việt Nam ……………………………….8
2. Những điều cần rút ra trong tình hình thực tế hiện nay…………………9
Kết luận 10
Tài liệu tham khảo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status