Văn Thiên Tường (文文文, 1236-1283) là thừa tướng nhà Nam Tống, một thi sĩ nổi tiếng
và là anh hùng dân tộc của Trung Quốc.
•
Xuất thân
Văn Thiên Tường ban đầu có tên Vân Tôn (文文), tự Thiên Tường (文文), sau đổi thành
Tống Thụy (文文) và có tự là Lí Thiện (文文), hiệu Văn Sơn (文文). Ông xuất thân từ Cát
Châu Lô Lăng (文文文文), bây giờ là huyện Cát An, tỉnh Giang Tây). Lúc còn nhỏ, Văn
Thiên Tường chăm học, đọc nhiều sách, ông thích nhất là những câu chuyện nói về "Trung
thần nghĩa sĩ". Tư tưởng yêu nước đã ăn sâu vào tâm hồn ông. Năm 1253, đời vua Tống Lý
Tông, Văn Thiên Tường 17 tuổi, tham gia kỳ thi Hương ở Lô Lăng, tên đậu đầu bảng. Lúc
đứng trước tượng Âu Dương Tu, ông đã nói : "Sau này tôi chết đi, nếu không được như
ông, mọi người tưởng nhớ, thì tôi không phải là bậc đại trượng phu".
Đường công danh
Năm 1255, ông cùng em là Văn Bích tham gia kỳ thi Tiến sĩ và cả hai đều có tên trúng cử.
Vào ngày công bố người trúng tuyển, Văn Thiên Tường đứng đầu trên 601 người đậu Tiến
sỹ rồi ông được mang danh trạng nguyên, thì ông được tin cha chết. Hai anh em phải trở về
quê hương khi chưa kịp nhận chức tước. Mãi đến năm 1259, Văn Thiên Tường mới được
bổ nhiệm Công sự phán quan, 1 chức quan xử kiện. Khi quân nhà Nguyên tràn vào đất
Tống, ông ứng "chiếu Cần Vương" dưới cờ vua Tống Cung Đệ.
Năm 1275, ông được cử làm Hữu Thừa tướng, Khu mật sứ, Đô đốc thống quản quân mã.
Vào tháng 8 năm đó, chẳng may văn Thiên Tường bị thua trận ở Lô Lăng, may có người
cứu thoát. Vợ là phu nhân Âu Dương, con trai thứ là Phật Sinh, hai con gái là Liễu Nương
và Hoàn Nương đều bị quân Nguyên bắt giam. Công cuộc kháng chiến chống Nguyên
không thành và ông bị quân Nguyên bắt đưa về Yên Kinh (Bắc Kinh ngày nay).
Năm 1278, mẹ ông và người con trai đầu mới 13 tuổi bị bệnh qua đời khiến ông vô cùng
đau buồn. Triều đình phong cho ông làm Thiếu bảo, Tín Quốc công thi hành chủ trương
tiến bộ. Trong thời gian ở Lâm An, tình thế quẫn bách, triều đình đã cử ông đến đại bản
doanh Thừa tướng triều Nguyên là Bá Nhan đàm phán cầu hàng. Vua Nguyên thấy ông là
người có tài và có khí tiết định giam giữ dụ hàng. Khi Bá Nhan lấy cái chết đe doạ, ông đã
khảng khái nói :"Tôi hiện đang là Tể tướng triều Tống, chỉ lấy cái chết để đền nợ nước,
nếu lấy gươm đao dọa nạt, chẳng làm gì được đâu". Bá Nhan đã giữ ông lại và quyết định
bị đưa đến Kim Loan điện để gặp Hốt Tất Liệt. Ông đứng sừng sững, bị lính đánh đến gãy
xương, vẫn không chịu quỳ. Hốt Tất Liệt đề nghị ông theo nhà Nguyên, sẽ phong ông làm
Thừa tướng nhưng ông không chấp nhận. Triều đình nhà Nguyên dày vò thân xác ông
nhưng không nổi, cuối cùng đã dùng mẹo "tình cốt nhục" buộc con gái ông là Liêu Nương
hiện đang bị chúng bắt giữ viết thư cho ông. Đến lúc này ông mới biết khi thua trận vợ và
con ông cũng bị bắt luôn. Sau ba năm thấy không thể khuất phục được ông, vua Nguyên
hết cách bèn đem ông giết nhưng vẫn khen là "chân nam tử". Ông chết lúc mới 47 tuổi. Khi
hậu táng Văn Thiên Tường, mọi người đã phát hiện có một tờ giấy quấn quanh đai lưng
của thi thể ông, tờ giấy đã được viết thay cho lời trăn trối :"Chức vụ tôi là Tể tướng, mà
không cứu được xã tắc, ổn định thiên hạ, quân bại nước nhục, tội đáng chết từ lâu. Từ ngày
bị bắt đến nay, không làm điều gì gian dối. Ngày nay cơ sự thế này, xin hướng về phương
Nam lạy trăm lạy. Xin được nói : Khổng Tử nói muốn có nhân đức phải giữ nghĩa, tôi giữ
nghĩa đến cùng nên có nhân. Đọc sách thánh hiền, học được chuyện gì ? Ngày nay, ngày
sau khỏi hổ thẹn. Tống thừa tướng Văn Thiên Tường tuyệt bút". Văn Thiên Tường tuy
chết, nhưng phẩm chất đạo đức cao thượng của ông mãi mãi để cho người đời sau kính
ngưỡng. Ông cùng với Lục Tú Phu và Trương Thế Kiệt được sử Tàu gọi là "Tống vong
tam kiệt" (ba bậc hào kiệt lúc nhà Tống mất).
Văn chương
Văn Thiên Tường còn là một nhà thơ, nhà văn. Văn chương ông có lời lẽ khảng khái, hào
hùng của kẻ sĩ trong thời nước nhà lâm nạn. Khí tiết của Văn Thiên Tường ảnh hưởng rất
nhiều đến sĩ phu đời sau. Hai câu thơ:
人人人人人人人
人人人人人人人
Nhân sinh tự cổ thùy vô
tử
Lưu thủ đan tâm chiếu
hãn thanh
Xưa nay hỏi có ai
không chết?
Hãy để lòng son chiếu
Cay đắng do từ một sách kinh
Bốn năm quạnh quẽ cảnh đao
binh
Bông tung gió: vỡ tan sông núi
Gió đập bèo: chìm nổi kiếp mình
Ghềnh Sợ Hãi kể niềm sợ hãi
Biển Lênh Đênh than nỗi lênh
đênh
Xưa nay hỏi có ai không chết
Hãy để lòng son chiếu sử xanh
Bài "Chính khí ca" cũng là một tác phẩm hết sức nổi tiếng của ông, được Văn Thiên
Tường làm khi đang ở trong nhà tù của quân Nguyên.
Chính khí ca
Thiên địa hữu chính khí
Tạp nhiên phú lưu hình
Hạ tắc vi hà nhạc
Thượng tắc vi nhật tinh
Ư nhân viết "hạo nhiên"
Bái hồ tắc thương minh
Hoàng lộ đương thanh di
Hàm hòa thổ minh đình
Thời cùng tiết nãi hiện
Nhất nhất thùy đan thanh
Tại tấn Đổng Hồ bút
Tại Tần Chu Hợi truỳ
Tại Hán Tô Vũ tiết
Vi Nghiêm tướng quân đầu
Vi Kê thị trung huyết
Trời đất có chính khí
Tỏa ra cho muôn loài
Là sông núi dưới đất
Là trăng sao trên trời
Đầy rẫy cả vũ trụ
Khí hạo nhiên của người
Gặp cảnh đời bình trị
Triều thịnh vang lời vui
Khi cùng, tiết tháo rõ
Sử xanh ghi đời đời.
Ở Tề, sách Thái Sử
Ở Tấn, bút Đổng Hồ
Ở Tần, chùy Bác Lãng
Ở Hán, cờ họ Tô
Đầu Nghiêm thách trước giặc
Máu Kê trên áo vua
Răng Trương công chửi địch
Lưỡi Kiều Khanh mắng thù.
Hoặc là mũ Liêu Đông
Vẻ băng tuyết phau phau
Hoặc là biểu "Ra quân"
Lẫm liệt quỷ thần sầu
Hoặc qua sông gõ nhịp
Khảng khái nuốt quân Hồ
Hoặc giật hốt đánh giắc
Phường tiếm nghịch toang đầu.
Khi ấy tràn ngập tới
Oai nghiêm muôn thuở còn
Khi đã vượt nhật nguyệt
Chuồng gà, phượng nhặt thóc
Thân này khi gió sương
Đành rãnh ngòi lăn lóc
Thế mà hai năm qua
Tránh xa bao khí độc
Thương ôi! Chỗ lội lầm!
Lại sống yên tối sớm
Phải đâu khôn khéo gì
Âm dương không dám phạm
Vằng vặc tấm cô trung
Ngẩng nhìn mây trắng nổi
Buồn thay! Nỗi lòng ta
Trời xanh cao vời vợi!
Thánh hiền khuất lâu rồi
Khuôn phép vẫn không mất
Hiên gió mở sách coi
Gương xưa soi trước mặt