Chính sách thương mại của ấn độ - Pdf 40

CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI CỦA ẤN ĐỘ
Phần thứ hai: Môi trường kinh tế
1. Những kết quả phát triển nền kinh tế
Trong giai đoạn từ năm 2007 đến cuối tháng 4/2011, Ấn Độ đạt được
những kết quả quan trọng của quá trình tự do hóa thương mại và tái cấu
trúc nền kinh tế bắt đầu thực hiện từ năm 1991. Mức tăng năm 2006/07 và
2007/08 là trên 9%. GDP tăng trung bình hàng năm 8,46% từ 2006/07 đến
2010/2011 mặc dù chịu những ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính toàn
cầu. Nhân tố quyết định mức tăng trưởng ấn tượng này là do nhu cầu trong
nước lớn và phát triển nhanh. Trong thời gian khủng hoảng, các khoản chi
tiêu chính phủ đóng vai trò quan trọng thúc đẩy tăng trưởng. Nhu cầu nội
địa lớn thức đẩy nhập khẩu tăng mạnh, và tác động trở lại làm tăng xuất
khẩu. Năm 2010/2011, GDP tăng 8,6%. Dự kiến năm 2011/12, mức tăng
GDP là 6,9%.
Các chỉ số kinh tế vĩ mô của Ấn Độ
Đơn vị: %
Chỉ số
Nông, lâm và
ngư nghiệp
Khai khoáng và đá
Công nghiệp chế tạo
Điện, ga và nước
Xây dựng
Dịch vụ
+ TM, khách sạn,
GTVT và viễn thông
+ Tài chính, ngân
hàng, BĐS và DV
thương mại

+ DV xã hội và

11,0

1,3
4,2
4,9
5,5
10,1
7,5

6,9
8,8
6,4
6,7
10,1
9,7

6,2
8,8
5,1
8,0
9,4
11.0

14,0

11,9

12,5

9,2

nhất là nhóm hàng tiêu dùng lâu bền, hàng tư liệu sản xuất và nguyên liệu
đầu vào cho sản xuất công nghiệp. Sản xuất hàng tiêu dùng tăng nhẹ. Nông
nghiệp tăng không đáng kể do hạn hán, phụ thuộc lớn vào mưa tự nhiên và
năng suất thấp.
Xuất khẩu của Ấn Độ (F.O.B.)
Xuất khẩu năm 2006/07
Các nhóm mặt hàng
Tỷ trọng
(%)
Hàng công nghiệp
65,0
+ Sắt thép
5,6
+ Hóa chất
11,4
+ Bán thành phẩm
14,2
+ Máy móc không dùng điện
3,9
+ Máy móc sử dụng điện
2,9
+ Phương tiện vận tải
4,3
+ Dệt
7,1
+ May mặc
7,5
+ Hàng tiêu dùng khác
8,0
Nông sản

+ May mặc
6,4
+ Hàng tiêu dùng khác
9,1
Nông sản
10,6
Nhiên liệu
16,2
Khai khoáng
6,3
Hàng hóa khác
3,1
Tổng cộng: 178,8 tỷ USD
100,0

Nguồn: Bộ thương mại và Công nghiệp Ấn Độ
Dịch vụ đóng góp phần lớn nhất của GDP với tỷ trọng tăng khá
nhanh từ 53% năm 2006/07 lên 56% năm 2009/10, trong khi tỷ trọng hàng
công nghiệp chế tạo có giảm sút từ 16,1% xuống 15,5% và nông nghiệp
giảm từ 18,1% xuống 16,6%. Tuy tỷ trọng giảm sút, nông nghiệp vẫn giữ
vai trò rất quan trọng đối với đa số dân chúng với 52% lực lượng sản xuất
vào bảo đảm các mục tiêu an toàn lương thực và ổn định giá cả hàng hóa.
Lạm phát giá bán buôn tăng 9% trong vòng 12 tháng kết thúc vào
tháng 3/2011 (mức 8,3% trong 12 tháng kết thúc vào tháng 2/2011). Mặc
dù giá cả được điều tiết (nhiên liệu xăng dầu và phân bón) trong thời gian
2


vừa qua, mức lạm phát thực tế thấp hơn dự kiến do một số mặt hàng thực
phẩm cơ bản và giá điện cũng được trợ cấp.

7,8
Nông sản
5,0
Nhiên liệu
33,3
Khai khoáng
6,5
Hàng hóa khác
1,3
Tổng cộng: 185,7 tỷ USD
100,0

Nhập khẩu năm 2009/10
Các nhóm mặt hàng
Tỷ trọng
(%)
Hàng công nghiệp
44,1
+ Sắt thép
2,8
+ Hóa chất
10,0
+ Bán thành phẩm
7,8
+ Máy móc không dùng điện
6,9
+ Máy móc sử dụng điện
8,0
+ Phương tiện vận tải
4,7

số vẫn thuộc dưới mức nghèo.
2. Chính sách tài khóa
Trước khủng hoảng tài chính toàn cầu, tài chính công của Ấn Độ
trong tình trạng yếu kém. Tổng thâm hụt tài chính năm 2009/10 là 9,5%
GDP, tăng so với mức 8,5% năm 2008/09, trong đó thâm hụt của chính phủ
trung ương là 6,4% GDP và chính phủ các bang là 3,3% GDP. Sau khi tăng
liên tục trong 2 năm, mức thâm hụt giảm và là 7,3% GDP năm 2010/2011
vì mức thâm của chính phủ trung ương và các bang đều giảm và đứng ở
mức 5,5% và 2,5% GDP tương ứng.
Mức tăng thu về thuế là yếu tố quan trọng đã trở thành công cụ có
hiệu quả đối phó với khủng hoảng tài chính toàn cầu. Tỷ lệ thu thuế tính
theo GDP tăng từ 9,2% năm 2003/04 lên mức kỷ lục 12% năm 2007/08
giảm xuống 10,9% GDP vào năm 2008/09 và mức 9,5% vào năm 2009/10.
Thu thuế thuần của các bang chỉ là 7% GDP năm 2009/10, giảm so với
mức 8,8% trước khủng hoảng. Ước mức thu thuế năm 2010/11 là 10,8%.
Các khoản thu về thuế nhằm bảo đảm các khoản chi về xây dựng cơ sở hạ
tầng và các nhu cầu phát triển khác.
Để đối phó với khủng hoảng tài chính, Ấn Độ thực hiện chính sách
mở rộng tài khóa, khoảng 10% GDP trong 2 năm 2009 và 2010. Ngân sách
năm 2010/11 đạt kết quả cao hơn dự kiến. Trong khi dự thảo ngân sách
2010/11 xác định thâm hụt tài khóa và thâm hụt ngân sách lần lượt là 5,5%
và 4,5% GDP, kết quả thực hiện là 5,1% và 3,4% GDP tương ứng. Kết quả
này cũng phản ánh tác động tích cực của việc cải cách từng bước cơ cấu
thuế bằng việc giảm thuế hải quan và thuế tiêu thụ đặc biệt và chú trọng
hơn thuế gián thu, đặc biệt là thuế thu nhập công ty, và chú trọng hơn tới
khoản thu từ dịch vụ chịu thuế. Thuế tiêu thụ đặc biệt là nguồn thu duy
nhất lớn của ngân sách trung ương đến năm 2006/07 và vị trí đã được thay
thế bởi thuế thu nhập công ty. Chính phủ chú trọng tăng thu thuế trực thu
thông qua việc hợp lý hóa cơ cấu thuế. Với chủ trương như vậy, ngân sách
2010/11 đã giảm được thu quá về thuế thu nhập công ty từ 10% xuống

hàng (lãi suất cho vay ngắn hạn), lãi suất cho vay ngắn hạn trong dự trữ và
lãi suất ngân hàng. Hai tỷ lệ lãi suất đầu giành cho chính sách tiền tệ ngắn
hạn, trong khi lãi suất ngân hàng là giành cho vay trung hạn. Đến 3/5/2011,
lãi suất cho vay ngắn hạn chỉ còn phụ thuộc vào lãi suất theo chính sách.
Để đối phó với khủng hoảng tài chính toàn cầu, RBI đã áp dụng một
chính sách tiền tệ thích ứng vào tháng 9/2008 để tăng cường niềm tin của
nhà đầu tư và thúc đẩy kinh tế tăng trưởng. Do kinh tế tăng trưởng đi kèm
với lạm phát tăng vào năm 2009/10, RBI đã phần nào thay đổi quan điểm
này, duy trì tỷ suất thanh khoản bắt buộc của một số ngân hàng thương mại
bằng mức trước khủng hoảng. Trong năm 2010/11, RBI tiếp tục bỏ dần
chính sách bắt buộc và tập trung vào chính sách tài chính để khống chế lạm
phát và các diễn biến phi lạm phát khác. Đến tháng 4/2011, RBI đã bảy lần
tăng lãi suất với tổng số lãi suất ngắn hạn tăng 250 điểm lên 5,75%. Đến
tháng 5/2011, tiếp theo sự thay đổi trong chính sách cố định một tỷ giá, lãi
suất ngắn hạn tăng lên 7,25%, trong khi lãi suất ngắn hạn trong dự trữ được
tự động điều chỉnh lên 6,25%.

5


Để giải quyết sức ép về khả năng thanh khoản dài hạn, tháng
11/2010, RBI đã hỗ trợ bổ sung cho các ngân hàng thương mại được xem
xét và lựa chọn. Tiếp theo đó, vào tháng 12/2010, RBI đã hạn chế tỷ suất
thanh khoản theo bắt buộc của một số ngân hàng thương mại được xem xét
từ 25% xuống 24%. Đến tháng 4/2011, tăng trưởng kinh tế vẫn đạt mức
khá cao và mức lạm phát vẫn trên mức dự kiến của RBI do rủi ro cả do nhu
cầu trong nước giảm và giá cả quốc tê tăng cao. Một trong những thách
thức chính của RBI là phải đạt được thanh khoản theo yêu cầu, trong khi
vẫn neo được tỷ lệ lạm phát ở mức độ dự kiến.
Ấn Độ đã thực hiện thả nổi tiền tệ từ năm 1993, tỷ giá do thị trường


Ấn Độ có chủ trương tăng cường xuất khẩu. Tháng 2/2011, Bộ
Thương mại và Công nghiệp công bố “Chiến lược tăng gấp đôi xuất khẩu
trong ba năm tới” nhằm tăng xuất khẩu hàng hóa lên 225 tỷ USD năm
2010/11 và 450 tỷ USD vào năm 2013/14. Để đạt mục tiêu này, chính phủ
chủ trương đa dạng hóa sản phẩm xuất khẩu và thị trường, đặc biệt hướng
tới các nền kinh tế đang nổi lên. Cơ sở của chiến lược này là đẩy mạnh xuất
khẩu hàng hóa có giá trị gia tăng cao mà trong nước có thế mạnh về sản
xuất như hàng chế tạo, máy móc thiết bị, phương tiện giao thông và hóa
chất.
Xuất khẩu của Ấn Độ (F.O.B.)
Xuất khẩu năm 2006/07
Tên nước và khu vực
Tỷ trọng
(%)
EU27
21,2
+ Mỹ
14,9
+ Các nước châu Mỹ khác
4,3
Châu Phi
8,1
Trung Đông
16,8
+ U.A.E.
9,5
+ Các nước Trung Đông khác
7,2
Châu Á

+ Các nước Trung Đông khác
6,9
Châu Á
31,9
+ Trung Quốc
6,5
+ Singapore
4,2
+ Hongkong
4,4
+ Châu Á khác
16,8
Các nước khác
4,6
Tổng cộng: 178,8 tỷ USD
100,0

Nguồn: Bộ thương mại và Công nghiệp Ấn Độ
Tổng trị giá xuất khẩu từ tháng 4/2011 – 1/2012 đạt 242,8 tỷ USD,
tăng 23,5% so với cùng kỳ năm 2010/11. Nhập khẩu từ tháng 4/2011 –
1/2012 đạt 391,5 tỷ USD, tăng 29,4% so với cùng kỳ năm 2010/11. Lạm
phát WPI vào cuối tháng 1/2012 là 6,55%.
Dự kiến trong năm 2011/12, xuất khẩu của Ấn Độ đạt khoảng 300 tỷ
USD và nhập khẩu đạt khoảng 460 tỷ USD. Thậm hụt cán cân thương mại
khoảng 160 tỷ USD.
Thị trường chính cho hàng xuất khẩu của Ấn Độ là EU27 chiếm
20,5% tổng trị giá xuất khẩu năm 2009/10, tiếp theo là U.A.E. 13,4%, Mỹ
7



+ Iran
4,1
+ Kuwait
3,2
+ Các nước Trung Đông khác
6,5
Châu Á
31,7
+ Trung Quốc
9,4
+ Australia
3,8
+ Indonesia
2,3
+ Các nước châu Á khác
16,3
Các nước khác
3,1
Tổng cộng: 185,7 tỷ USD
100,0

Nhập khẩu năm 2009/10
Tên nước và khu vực
Tỷ trọng (%)
+ EU27
+ Thụy Sỹ
+Mỹ
+ Các nước châu Mỹ khác
+ Nigeria
+Các nước châu Phi khác

14,6
3,3
100,0

Nguồn: Bộ thương mại và Công nghiệp Ấn Độ
5. Thương mại dịch vụ
Ấn Độ cũng là nước xuất khẩu dịch vụ. Tỷ trọng xuất khẩu dịch vụ
so với GDP năm 2006/07 là 29,5 tỷ USD với 3,1%/GDP tăng lên 54 tỷ
USD năm 2008/09 với 4,7%. Sau khi đạt đỉnh vào năm 2008/09, xuất khẩu
dịch vụ đã bị giảm do bị ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính toàn cầu,
trong khi nhập khẩu dịch vụ tăng lên.

8


6. Đầu tư trực tiếp nước ngoài
Ấn Độ là nước thu hút được luồng vốn đầu tư gián tiếp và trực tiếp
nước ngoài (FDI) khá lớn. FDI đạt 37,76 tỷ USD năm 2009/10 so với mức
22,86 tỷ USD năm 2006/07.
Vốn FDI được đầu tư mạnh vào các ngành viễn thông và các ngành
dịch vụ khác. Đồng thời tăng mạnh trong các ngành bất động sản, xây
dựng, điện và sản xuất ô tô và phụ tùng.
Mauritius là nước đầu tư FDI lớn nhất vào Ấn Độ, chiếm khoảng
40,2% tổng nguồn vốn trong năm 2009/10. Lý do chính của việc này là do
Hiệp ước thuế ưu đãi Ấn Độ ký với nước này. Nhiều công ty nước ngoài
tận dụng hiệp định ưu đãi thuế này bằng cách thành lập công ty tại
Mauritius, sau đó đứng tên các công ty này để đầu tư vào Ấn Độ nhằm
hưởng ưu đãi thuế. Các nước đầu tư lớn khác vào Ấn Độ là Singapore, Mỹ,
Cyprus và Nhật Bản.
Đầu tư nước ngoài vào/ra Ấn Độ 2006 – 2011

10.447

2007/08
34.835
6.614
1.425
1.261
2.233
1.743
675
974
1.177
1.405
229
6.842
18.442

2008/09
37.838
6.150
1.724
2.558
2.801
2.028
1.152
999
961
350
749
7.858

14.246

Nguồn: Bộ thương mại và Công nghiệp Ấn Độ
FDI của Ấn Độ từ tháng 1 đến tháng 12 năm 2011 đạt 27,5 tỷ USD,
tăng trưởng 31% so với cùng kỳ năm 2010. Ngành dịch vụ thu hút đầu tư
FDI tăng trưởng ở mức 20%, tiếp theo sau là viễn thông, nhà ở và bất động

9


sản, xây dựng và điện. Các nước Mauritius, Singapore, Mỹ, Anh, Hà Lan,
Nhật Bản, Đức và U.A.E. là các nhà đầu tư lớn tại Ấn Độ.
Mumbai là thành phố thu hút 40% thị phần đầu tư FDI, tiếp theo là
Bangalore và Ahmedabad.
Tổng vốn đầu tư của Ấn Độ ra nước ngoài là 10,477 tỷ USD năm
2006/07 và 14,246 tỷ USD năm 2010/11./.

Thương vụ Việt Nam tại Thổ Nhĩ Kỳ

10




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status