Nghiên cứu giải pháp kỹ thuật nâng cao hiệu suất sử dụng phân đạm dạng viên nén cho ngô trên đất phù sa sông mã tại thanh hoá (TT) - Pdf 40

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

TRẦN ĐỨC THIỆN

NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU SUẤT
SỬ DỤNG PHÂN ĐẠM VIÊN NÉN CHO NGÔ TẠI THANH HÓA

Chuyên ngành: Khoa học cây trồng
Mã số:

62 62 01 10

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ

NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2016


Công trình hoàn thành tại:
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS.TS. Nguyễn Tất Cảnh
2. PGS.TS. Nguyễn Thế Hùng

Phản biện 1:

PGS.TS. Tăng Thị Hạnh
Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Phản biện 2:


quả điều tra, đánh giá sơ bộ cũng cho thấy, để thu được năng suất cao, trong sản
xuất ngô các hộ nông dân thường sử dụng một lượng rất lớn phân bón (phân đơn
hoặc phân tổng hợp NPK). Khi sử dụng các loại phân trên hiệu quả phân bón
không cao, tốn công lao động do phải bón từ 2 - 3 lần, ngoài ra một lượng rất lớn
phân bón bị mất đi do rửa trôi, bay hơi, thấm sâu vào trong đất…; trong đó lượng
đạm mất đi là lớn nhất, có thể lên tới 67% (Raun and Gordon, 1999).
Để giảm thiểu thiệt hại do lượng phân đạm mất đi, các nhà khoa học khuyến
cáo nên sử dụng phân đạm giải phóng chậm (Blaylock et al., 2005; Burton et al.,
2008; Halvorson et al., 2008; Paniagua, 2006; Motavalli et al., 2008; Shaviv,
2000; Trenkel, 1997). Do đó việc nghiên cứu các giải pháp kỹ thuật để nâng cao
hiệu suất xử dụng phân bón, hiệu quả sản xuất, giảm thiểu tác động môi trường là
hết sức cần thiết.
1.2. MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI
Xác định khả năng cung cấp các chất dinh dưỡng NPK của đất, hiệu suất sử
dụng đạm, liều lượng đạm bón dạng viên nén và một số giải pháp kỹ thuật phù
hợp nhằm nâng cao hiệu suất sử dụng đạm cho ngô; góp phần hoàn thiện quy trình
thâm canh ngô năng suất cao, chất lượng tốt tại tỉnh Thanh Hóa.
1.3. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Thời gian: Các thí nghiệm được tiến hành từ năm 2010 đến năm 2013 trên cơ
sở kế thừa những kết quả nghiên cứu thu được từ năm 2000 trở lại đây.
- Giới hạn của đề tài: Đề tài tập trung nghiên cứu tập trung nghiên cứu các giải
pháp kỹ thuật nhằm nâng cao hiệu suất sử dụng đạm của ngô trên đất phù sa sông Mã
thông qua việc xây dựng chế độ bón phân đạm dạng viên nén hợp lý cho ngô (bao
gồm xác định lượng bón, thời gian bón, cách bón và biện pháp che phủ cho ngô) tại
huyện Vĩnh Lộc - tỉnh Thanh Hoá.
1.4. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI
Đã chỉ rõ khả năng cung cấp chất dinh dưỡng của đất tại khu vực nghiên
cứu cho cây ngô ở mức: Khả năng cung cấp đạm của đất (INS) là 44,4 - 88,3 kg
N/ha; khả năng cung cấp lân của đất (IPS) là 21,8 - 54,8 kg P2O5/ha; khả năng
cung cấp kali của đất (IKS) là 31,6 - 82,7 kg K2O/ha.

phạm vi toàn quốc.
PHẦN 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. TÌNH HÌNH SẢN XUẤT NGÔ TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM
2.1.1. Tình hình sản xuất ngô trên thế giới
Trên thế giới, ngô là một trong những cây ngũ cốc quan trọng. Năm 2005
diện tích trồng ngô trên toàn thế giới là 148,2 triệu ha, năng suất 48,2 tạ/ha và sản
lượng đạt 714,3 triệu tấn; tương ứng năm 2014 là 183,3 triệu ha, 56,6 tạ/ha,
1.037,5 triệu tấn. Sau 10 năm, diện tích ngô tăng 23,7%, năng suất tăng 17,4 % và
sản lượng tăng 45,2%. Trong đó Mỹ, Trung Quốc, Braxin, Ấn Độ là những nước
đứng đầu về diện tích và sản lượng.
2.1.2 Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam
Sản xuất ngô cả nước qua các năm không ngừng tăng về diện tích, năng
2


suất, sản lượng: năm 2010 diện tích trồng ngô của cả nước đạt 1.125,7 nghìn ha,
năng suất 41,1 tạ/ha và sản lượng là 4626,6 nghìn tấn, năm 2015 những chỉ tiêu
này lần lượt đạt 1.179,3 nghìn ha, 44,8 tạ/ha và 5283,2 nghìn tấn.
2.1.3. Tình hình sản xuất ngô ở Thanh Hoá
Thanh Hoá là một trong 4 tỉnh có diện tích ngô lớn nhất cả nước. Tuy nhiên
diện tích sản xuất ngô của tỉnh trong thời gian gần đây có xu hướng giảm (giai
đoạn 2005 - 2015, bình quân mỗi năm diện tích ngô của tỉnh giảm khoảng 0,77
nghìn ha). Năm 2015, diện tích ngô toàn tỉnh là 56,8 nghìn ha; năng suất đạt 43,2
tạ/ha, thấp hơn 1,6 tạ/ha so với bình quân chung của cả nước (44,8 tạ/ha), sản
lượng 245,4 nghìn tấn.
2.2. MỘT SỐ NGHIÊN CỨU VỀ BÓN ĐẠM CHO NGÔ TRÊN THẾ GIỚI
VÀ VIỆT NAM
2.2.1. Vai trò của dinh dưỡng đạm đối với cây ngô
Đạm là yếu tố dinh dưỡng quan trọng nhất của cây ngô. Nó tham gia vào thành
phần cấu tạo của tất cả các axit amin, axit nucleic, tham gia cấu tạo protein, trong

NAY
2.3.1. Bón đạm đúng liều lượng kết hợp với kiểm soát lượng đạm bón cùng
với quản lý nước
Khi mức bón phân đạm là thấp thì năng suất cây trồng sẽ tăng theo lượng phân
đạm bón. Khi lượng phân đạm bón vượt quá giới hạn, năng suất cây trồng sẽ giảm.
Đồng thời lượng đạm mất sẽ tăng theo lượng phân đạm bón, hiệu quả sử dụng đạm
sẽ giảm xuống. Do vậy lượng phân đạm bón cần được kiểm soát trong giới hạn
(Yan et al., 2008).
2.3.2. Bón phân sâu và chia lượng phân thành nhiều lần bón
Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng bón phân sâu đã làm tăng năng suất cây trồng
từ 2,7 đến 11,6% so với bón phân vãi trên mặt ở cùng thời gian, hiệu quả sử dụng
đạm cũng tăng từ 7,2 đến 12,8% (Gao and Lu, 2006; Huang and Pu, 2006).
Tùy vào từng loại đất và lượng mưa việc bón phân đạm thành 2 - 3 đợt sẽ
mang lại hiệu quả sử dụng phân bón cao hơn so với bón 1 lần (Pasuquina et al.,
2012).
2.3.3. Bón cân đối phân đạm, lân, kali cùng với các nguyên tố trung, vi lượng
Bón phân cân đối không chỉ phát huy tối đa hiệu quả của độ phì nhiêu tự
nhiên, cùng tất cả các nhân tố hợp thành khả năng sản xuất thực tế của đất mà còn
giảm thiểu các chi phí cho việc sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật…
(Nguyễn Như Hà, 2010).
2.3.4. Biện pháp che phủ đất
Che phủ đất có tác dụng hạn chế xói mòn rửa trôi đất, giữ ẩm cho đất, khống
chế cỏ dại, cải thiện độ phì của đất, tăng cường hoạt tính sinh học đất, tăng năng
suất cây trồng, tăng hiệu quả kinh tế cho người sản xuất (Hà Đình Tuấn và cs.,
2011).
2.3.5. Quản lý dinh dưỡng theo vùng chuyên biệt (Site - Specific Nutrient
Management - SSNM)
Áp dụng biện pháp quản lí dinh dưỡng theo vùng chuyên biệt (SSNM) có
thể giảm lượng phân bón từ 38,7 - 41,3%, năng suất tăng 2,5 đến 3,5 % và nâng
cao được hiệu quả sử dụng phân đạm so với bón phân theo phương pháp truyền

có nhiều công trình nghiên cứu được tiến hành bao gồm từ những biện pháp bón
phân truyền thống cân đối và hợp lý đến những công nghệ sản xuất phân bón như:
Sử dụng các dạng phân viên nén chậm tan có màng bọc, kết hợp sử dụng các chất
kìm hãm quá trình amon và nitrat hóa giúp điều chỉnh quá trình giải phóng đạm từ
phân bón... Sử dụng phân viên nén giúp hạn chế quá trình mất phân do rửa trôi,
bay hơi, đạm (N) được giải phóng từ từ theo nhu cầu của cây, nâng cao hiệu quả
bón phân cho các loại cây trồng nông nghiệp.
Thanh Hóa là một trong trong 4 tỉnh có diện tích trồng ngô lớn nhất cả nước,
ngô là một trong các loại cây trồng chủ lực tại các vùng đất chính của tỉnh, trong
đó có vùng đất phù sa sông Mã. Do đó, cần phải có các nghiên cứu chuyển giao
công nghệ, đầu tư phát triển cho các vùng trồng ngô để nâng cao năng suất và hiệu
quả kinh tế sản xuất ngô của địa phương.
PHẦN 3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. VẬT LIỆU VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Giống ngô lai C919; phân đạm dạng viên nén do Công ty Cổ phần Công
nghệ Xanh Nông nghiệp I sản xuất và phân phối (Viên phân được ép hình quả
bàng từ nguyên liệu chính là urê kết hợp với các chất phụ gia rắn, chất làm chậm
quá trình thủy phân urê và quá trình nitrat hóa. Khối lượng viên phân 1,3 g/viên,
hàm lượng N trong viên phân là 39,2%); các loại phân rời: Đạm urê Ninh Bình

5


(46,0% N), lân supe phốt phát Lâm Thao (16,0% P2O5), phân kali dạng kali clorua
(60% KCl). Phân chuồng: Sử dụng nguồn phân phổ biến tại địa phương.
- Đất nghiên cứu là đất phù sa sông Mã tại xã Vĩnh Hùng, huyện Vĩnh Lộc,
tỉnh Thanh Hóa.
3.2. ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
3.2.1. Địa điểm nghiên cứu
- Các thí nghiệm đồng ruộng, xây dựng mô hình kiểm chứng được tiến hành

vụ xuân năm 2011): Công thức 1: 0 NPK - Không bón phân (đối chứng); công thức
2: 180 N + 90 P2O5 + 90 K2O (bón đầy đủ N, P, K); công thức 3: 0 N + 90 P2O5 + 90
6


K2O (không bón N, chỉ bón P, K); công thức 4: 180 N + 0 P2O5 + 90 K2O (không bón
P chỉ bón N, K); công thức 5: 180 N + 90 P2O5 + 0 K2O (không bón K chỉ bón N, P).
3.3.2.2. Thí nghiệm 2: Đánh giá hiệu suất sử dụng đạm của giống ngô C919 với
các mức đạm bón khác nhau
Thí nghiệm gồm 06 CTTN, được tiến hành trong vụ đông năm 2010 và vụ
xuân năm 2011; cụ thể như sau: CT 1: 0 kg N/ha; CT 2: 90 kg N/ha; CT 3: 120 kg
N/ha; CT 4: 150 kg N/ha; CT 5: 180 kg N/ha (đối chứng); CT 6: 210 kg N/ha.
3.3.2.3. Thí nghiệm 3: Nghiên cứu ảnh hưởng của lượng phân đạm dạng viên
nén đến sinh trưởng, phát triển và năng suất giống ngô C919
Thí nghiệm gồm 07 công thức với các mức đạm bón khác nhau; cụ thể như
sau: CT 1: 0 kg N/ha; CT 2: 90 kg N/ha (đạm dạng viên nén); CT 3: 120 kg N/ha
(đạm dạng viên nén); CT 4: 150 kg N/ha (đạm dạng viên nén); CT 5:180 kg N/ha
(đạm dạng viên nén); CT 6: 210 kg N/ha (đạm dạng viên nén); CT 7: 150 kg N/ha
(đạm urea rời) - Đối chứng.
3.3.2.4. Thí nghiệm 4: Nghiên cứu sự di động của phân đạm dạng viên nén khi
bón vào đất
Thí nghiệm được tiến hành với 02 công thức, và 04 lần lặp lại: CT1: Bón
phân đạm dạng urê; CT2: Bón phân đạm viên nén.
Đất sử dụng trong thí nghiệm là đất phù sa sông Mã.
Bón 01 viên phân đạm viên nén vào ống ở độ sâu 10 cm, cách trung tâm ống
10 cm; phân urê được bón như phương pháp bón phân thông thường
+ Lượng phân urê bón vào ống bằng lượng phân urê có trong 1,3 g phân
đạm viên nén (0,51 g N tương đương với 1,11g urê).
3.3.2.5. Thí nghiệm 5: Nghiên cứu ảnh hưởng của cách bón đạm dạng viên nén
đến sinh trưởng, phát triển và năng suất giống ngô C919

trình sử dụng phân đạm dạng viên nén với lượng 8 tấn phân chuồng, 120 N, 90P2O5,
90K2O; sử dụng vật liệu che phủ là rơm rạ với lượng 03 tấn/ha; Chọn 5 hộ (có diện
tích 2717 m2) sản xuất theo quy trình thông thường làm đối chứng, bón phân phụ
thuộc vào từng gia đình.
3.3.4. Chỉ tiêu và phương pháp theo dõi (các thí nghiệm đồng ruộng)
Các chỉ tiêu theo dõi được tiến hành theo hướng dẫn về đánh giá và thu thập số
liệu ở các thí nghiệm về dòng (giống) ngô của CIMMYT (1985b); Tiêu chuẩn ngành
- “Giống ngô - Quy phạm khảo nghiệm giá trị canh tác và giá trị sử dụng” (Tiêu
chuẩn ngành 10TCN 341 - 2006) và "Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khảo nghiệm
giá trị canh tác và sử dụng của giống ngô" (QCVN 01 - 56: 2011/BNNPTNT) của Bộ
Nông nghiệp và PTNT.
3.3.5. Phương pháp phân tích và tính toán số liệu
3.3.5.1.Phương pháp phân tích mẫu đất và mẫu thân lá
Tiến hành phân tích đất, mẫu thân lá ngô theo sổ tay phân tích đất, nước,
phân bón, cây trồng của Viện Thổ nhưỡng, Nông hóa - Bộ Nông nghiệp và PTNT
tại Phòng Kiểm nghiệm chất lượng (thuộc Trung tâm Kiểm nghiệm và chứng nhận
chất lượng nông, lâm, thủy sản).
3.3.5.2. Phương pháp tính toán số liệu
Các số liệu thí nghiệm được xử lý bằng phần mềm Excell 2007, IRRISTAT
5.0, và phần mềm Hydrus 2.0 trên máy tính.
PHẦN 4. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1. HIỆN TRẠNG SẢN XUẤT NGÔ Ở VÙNG VĨNH LỘC, TỈNH THANH
HÓA
4.1.1. Điều kiện khí hậu, thời tiết, đất đai ảnh hưởng đến nghiên cứu
Điều kiện thời tiết và đất đai của vùng Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa rất thuận
lợi để cây ngô sinh trưởng, phát triển và cho năng suất cao.
4.1.2. Tình hình sản xuất ngô ở vùng nghiên cứu
Kết quả điều tra thực trạng sản xuất ngô tại huyện Vĩnh Lộc có thể rút ra
một số kết luận như sau:


2
3
4
5

Lượng phân
bón/ha

NS
(kg/ha)

0 NPK (đ/c)
NPK
PK
NK
NP
CV(%)
LSD0.05

2250,5d
6850,3a
4270,0c
5620,8b
5680,2b
2,3
214,9

Bội thu do bón
phân
kg/ha

192,1
1960,5
81,3
3360,1
139,4
3399,9
141,1

0 NPK (đ/c) 2410,1
NPK
7040,5a
12,9
PK
4370,6c
14,8
b
NK
5770,2
14,1
NP
5810,0b
13,7
CV(%)
3,4
LSD0.05
321,2
Ghi chú: Lượng phân bón sử dụng trong thí nghiệm là 180 kg N, 90 kg P2O5, 90 kg K2O, công thức
0 NPK - không bón phân, công thức NPK: bón đầy đủ NPK.
1
2

hạt ngô (kg)
N
P
K

CT

Lượng N
bón (kg/ha)

CKTL khi
thu hoạch
(kg/ha)

1

0 NPK

4350,0

44,4

21,8

31,8

19,7

9,7


67,9

20,1

10,5

15,9

4

NK

10910,1

109,1

54,6

85,1

19,4

9,7

15,1

5

NP



23,5

31,6

18,9

9,8

13,1

2

NPK

13650,4

146,1

73,7

101,0

20,8

10,5

14,3

3


9,5

13,4

5

NP

10650,2

107,6

53,3

73,5

18,5

9,2

12,7

CV(%)

3,0

LSD0.05
550,12
Ghi chú: Lượng phân bón sử dụng trong thí nghiệm là 180 kg N; 90 kg P2O5; 90 kg K2O; công thức


1
2
3
4
5
6

Lượng N bón
(kg/ha)

Chỉ số diện tích lá (m2 lá/m2 đất)
TLCK khi thu
hoạch (kg/ha)
7-9 lá
Xoắn nõn
Chín sữa
Vụ đông năm 2010
e
0N
0,56
1,59d
2,05c
8861d
90 N
1,04d
3,31c
3,98b
11256c
120 N

0,27
880,6
Vụ xuân năm 2011
b
0N
0,54
1,67d
2,00c
9112d
90 N
1,45a
3,00c
4,01b
11635c
120 N
1,78a
3,86b
4,12ab
12632b
a
a
a
150 N
1,86
4,18
4,38
13545ab
180N (đ/c)
1,90a
4,26a

Trên cùng một nền phân chuồng, lân và kali khi tăng mức đạm bón từ 90 lên 150
kg/ha làm tăng số hạt/hàng và khối lượng 1000 hạt (số hàng hạt mặc dù tăng nhưng
không có ý nghĩa thống kê). Khi bón lượng phân đạm ở mức 180 - 210 kg/ha thì các
chỉ tiêu này vẫn có xu hướng tăng, tuy nhiên không có ý nghĩa thống kê.
11


Bảng 4.4. Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến các yếu tố cấu thành năng suất
và năng suất giống ngô C919
Tỷ lệ
Số hàng
Số
KL 1000
NSTT
hạt/bắp
hạt
hạt/hàng
hạt (g)
(kg/ha)
(%)
Vụ đông năm 2010
1
0N
64,4
12,1b
31,3c
280,1b
4352d
ab
b

301,2a
6551a
a
a
a
6
210 N
71,0
14,0
37,4
304,6
6587a
CV(%)
4,5
4,3
3,5
3,1
LSD0.05
1,1
2,7
18,6
339,1
Vụ xuân năm 2011
1
0N
63,2
12,3b
28,6b
285,1b
4471d

13,8a
34,6a
309,6a
6915a
a
a
a
6
210 N
71,6
13,8
35,1
312,1
6935a
CV(%)
4,0
4,6
4,1
3,2
LSD0.05
1,0
2,8
22,7
360,7
Ghi chú: Trong cùng một cột số liệu các giá trị mang các chữ cái khác nhau thể hiện
sự sai khác ở mức ý nghĩa α = 0,05.
CT

Lượng N
bón (kg/ha)


Lượng N

Năng

NS tăng

NUE

Năng

NS tăng

NUE

bón

suất

thêm do

(kg

suất

thêm do

(kg

(kg/ha)


4352

-

2

90 N

5782

1430

15,9

5982

1511

16,8

3

120 N

6125

1773

14,8


12,2

6915

2444

13,6

6

210 N

6587

2235

10,6

6935

2464

11,7

Kết quả tính toán cho thấy, việc đầu tư phân đạm với mức bón trên 150
kgN/ha, mặc dù vẫn có tác dụng làm tăng năng suất ngô, tuy nhiên mức tăng này
không đáng kể và không tương xứng với mức đầu tư phân bón; do đó đã làm cho
hiệu suất sử dụng phân bón giảm mạnh.


4
5
6

0N
90 N
120 N
150 N
180 N (đ/c)
210 N

Tổng lượng N tích lũy trong
NRE
cây khi thu hoạch (kg/ha)
Vụ đông năm 2010
81,5
119,3
0,42
131,3
0,42
139,6
0,39
137,6
0,31
145,4
0,30
Vụ xuân năm 2011
82,0
123,3
0,46

cho lãi lớn nhất, cho thấy tính hợp lý của mức bón đạm này. Khi tăng mức bón N
từ 180 - 210 kg/ha, do chi phí sản xuất tăng không tương xứng với tổng thu nên
cho lãi thấp hơn so với mức bón 150 kgN/ha.
Bảng 4.7. Ảnh hưởng của lượng đạm bón đến hiệu quả kinh tế
của sản xuất ngô
CT

Lượng N bón (kg/ha)

1
2
3
4
5
6

0N
90 N
120 N
150 N
180 N (đ/c)
210 N

1
2
3
4
5
6


6889
34,45
6915
34,58
6935
34,68

14

Tổng chi
Triệu đồng

Lãi

17,07
18,83
19,42
20,00
20,59
21,18

4,69
10,08
11,21
12,45
12,17
11,76

17,07
18,83


Lượng phân
bón

1

0N

3927,6

2

90 N

3



NS tăng so với
không bón đạm
(% )

NS tăng so với
bón đạm dạng rời
(%)

NUE (kg
ngô/kg N bón)




31,1

-

-

16,6

15,8

120 N

7046,5a

7650,1a

79,4

67,5

16,9

17,3

26,0

25,7

4


20,9

19,7

18,6

18,0

6

210 N

7331,1a

7813,2a

86,7

71,1

21,7

19,8

16,2

15,5

7


445,5
759,8
LSD0.05
Ghi chú: Trong cùng một cột số liệu các giá trị mang các chữ cái khác nhau thể hiện sự sai khác ở
mức ý nghĩa α = 0,05; VĐ - Vụ Đông năm 2011; VX - Vụ Xuân năm 2012.

Giữa các công thức bón đạm viên nén với lượng 120 đến 210 kg N/ha cho
năng suất thực thu là tương đương nhau ở mức ý nghĩa α = 0,05. Như vậy, việc sử
dụng mức bón từ 150 kg N/ha dạng viên nén trở lên sẽ không làm tăng năng suất,
việc hút đạm chủ yếu là để duy trì sinh khối giai đoạn sau.
Mức bón 150 kg N/ha dạng đạm rời (công thức 7) cho năng suất cao hơn so
với mức bón 90 kg N dạng viên nén nhưng thấp hơn các mức bón từ 120 kg N đến
210 kg N dạng viên nén ở mức ý nghĩa α = 0,05. Các công thức thí nghiệm sử
dụng đạm dạng viên nén đều cho năng suất tăng hơn từ 16,9 đến 21,7 % so với
bón đạm dạng rời.
Số liệu tại bảng 4.8 cho thấy, giá trị hiệu suất sử dụng phân đạm (NUE) trong
nghiên cứu này dao động từ 13,0 đến 26,0 kg ngô/kg đạm bón. Mức bón cho giá trị
15


NUE cao nhất là 120 kg N/ha (CT 3) và thấp nhất ở mức bón 210 kg N/ha (CT 6).
4.2.3.2. Tính toán sơ bộ hiệu quả kinh tế của việc sử dụng phân đạm viên nén
đối với giống ngô C919
Kết quả tính toán sơ bộ trình bày tại bảng 4.9 cho thấy, khi sử dụng đạm
viên nén với mức bón từ 120 - 210 N/ha đã làm lợi nhuận tăng thêm từ 5,2 đến 6,2
triệu đồng/ha so với sử dụng đạm dạng rời (công thức 7).
Bảng 4.9. Hiệu quả kinh tế khi trồng giống ngô C919 ở các mức
bón đạm viên nén
CT

18,6
19,3
19,9
20,5
21,1


19,6
27,1
35,7
36,0
36,4
36,7

VX
22,8
29,9
38,3
38,7
39,0
39,1

19,8

30,1

32,6

Lợi nhuận
(triệu

5,3

6,2
6,0
5,7
5,2

Ghi chú: VĐ - Vụ Đông năm 2011; VX - Vụ Xuân năm 2012.

Như vậy, đối với giống ngô C919 nên sử dụng đạm viên nén với mức 120 kg
N/ha trên nền 8 tấn phân chuồng và 90 kg P2O5, 90 kg K2O.
4.2.4. Nghiên cứu sự di động của đạm viên nén khi được bón vào đất
Chúng tôi xác định sự di động của đạm ở các thời điểm 5, 20, 40 và 60 ngày
sau khi bón phân; kết quả thu được biểu diễn trên các đồ thị (hình 4.3 - 4.6).
30.00

30.00

25.00

25.00

20.00

20.00

15.00

15.00


10.00

15.00

20.00

25.00

30.00

CT sử dụng phân đạm dạng viên nén

Hình 4.3. Sự di động của N trong phân bón sau 5 ngày bón
16


Kết quả nghiên cứu cho thấy, sau 5 ngày bón phân, phân đạm di chuyển chậm
và tập trung chủ yếu ở độ sâu 2 - 12cm, ở độ sâu này nồng độ đạm tương đối cao.
Nồng độ đạm ở vị trí trung tâm điểm bón phân viên nén (sâu 10, cách hạt ngô 10cm)
là 1,5 mol/dm3 trong khi bón phân ure gần gốc ngô nồng độ chỉ có 0,28 mol/dm3, lớn
hơn gấp 5,36 lần.
Kết quả nghiên cứu sự di động của đạm sau 20 ngày bón được biểu điễn
theo hình 4.4 cho thấy, trong giai đoạn này đạm có xu hướng di chuyển manh theo
chiều sâu ở độ sâu trên 20 cm (nồng độ đạm cao nhất ở độ sâu 5 - 15 cm) và phát
tán theo chiều ngang với bán kính trên 10 cm.
Về mức độ suy giảm nồng độ từ tâm của vòng đồng tâm cho thấy, đối với
công thức sử dụng phân đạm dạng viên nén giảm từ 100% (1,05 mol/dm3) xuống
còn 57% (0,60 mol/dm3), trong khi công thức sử dụng urê có mức độ suy giảm lớn
hơn từ tâm của vòng đồng tâm 100% (0,19 mol/dm3) xuống còn 21% (0,04
mol/dm3).


15.00

20.00

CT sử dụng urê

25.00

30.00

0.00
0.00

5.00

10.00

15.00

20.00

25.00

30.00

CT sử dụng phân đạm dạng viên nén

Hình 4.4. Sự di động của N trong phân bón sau 20 ngày bón
Như vậy tốc độ suy giảm về nồng độ của việc bón phân urê lớn hơn 2,7 lần

10.00

10.00

5.00

5.00

0.00
0.00

5.00

10.00

15.00

20.00

25.00

0.00
0.00

30.00

5.00

10.00



15.00

15.00

10.00

10.00

5.00

5.00

0.00
0.00

5.00

10.00

15.00

20.00

25.00

0.00
0.00

30.00


lượng N cây hút được vận chuyển, tích lũy trong hạt; chỉ có khoảng 20% lượng N
cây hút được tích lũy trong thân lá.
Bảng 4.10. Ảnh hưởng của cách bón đạm viên nén đến
sự tích lũy đạm của giống ngô C919
CT

Tổng lượng tích lũy
N (kg/ha)

Lượng N trong hạt
(kg/ha)

Tỷ lệ N trong hạt (%
so với tổng lượng N )

Tỷ lệ N trong thân lá (%
so với tổng lượng N)

1


140,1

VX
152,3


125,4



15,93

3
4

131,4
141,3
115,4
119,9
87,82
84,85
12,18
15,15
122,2
132,3
92,3
99,3
75,53
75,06
24,47
24,94
Ghi chú: VĐ - Vụ Đông năm 2012; VX - Vụ Xuân năm 2013; N trong hạt + N trong thân lá
= 100%. CT1: Bón 1 lần (bón 100% lượng phân ngay sau khi gieo hạt); CT 2: Bón 2 lần (bón 50%
vào lúc gieo hạt + 50% vào lúc ngô 5 lá); CT 3: Bón 3 lần (bón 25% lúc gieo + 25% lúc ngô 5 lá +
50% ngô 9 lá); CT 4: Bón 3 lần (bón 50% lúc ngô 5 lá + 25% lúc ngô 9 lá + 25% lúc ngô xoắn nõn
- trước trỗ 15 ngày).

Trong 4 công thức thí nghiệm thì công thức 1 (bón 100% lượng đạm dạng
viên nén ngay sau khi gieo ngô) có các chỉ tiêu tổng lượng tích lũy N, tỷ lệ N trong



VX

VX

VX

NSTT
(tạ/ha)


VX

1
13,6
13,1 40,1a 39,9a 73,5
73,6 309,6a 311,2a 72,9a 73,6a
2
12,9
13,0 37,5ab 38,2ab 72,6
71,5 306,6ab 308,5a 68,2a 69,8b
3
13,0
13,4 37,6ab 37,5b 71,6
72,1 301,2b 299,9b 67,5a 70,1b
4
13,1
13,4 36,6b 35,7b 71,2
70,5 299,6b 297,8b 56,3c 59,8c

4.2.6. Xác định khoảng cách, độ sâu bón phân đạm viên nén cho ngô
4.2.6.1. Ảnh hưởng của khoảng cách và độ sâu bón phân đạm viên nén đến chỉ
số diện tích lá và khả năng tích luỹ chất khô của giống ngô thí nghiệm
Kết quả nghiên cứu được trình bày ở bảng 4.12 cho thấy: Bón phân đạm
viên nén cách hạt ngô từ 5 - 15 cm không ảnh hưởng đến chỉ số diện tích lá của
giống ngô tham gia thí nghiệm. Trong khi đó, ở cả hai vụ thí nghiệm thì ở độ sâu
bón 5 cm (D1) và 10 cm (D2) cho giá trị chỉ số diện tích lá tương đương nhau và
cao hơn so với độ sâu 15 và 20 cm (D3, D4), ở mức ý nghĩa α = 0,05. Khi bón
phân đạm dạng viên nén ở độ sâu 15 cm và 20 cm thì chỉ số diện tích lá có xu
hướng giảm dần. Như vậy, việc bón đạm dạng viên nén ở độ sâu từ 15 cm trở lên
đã có ảnh hưởng không tốt đến chỉ số diện tích lá của giống ngô thí nghiệm.
Bảng 4.12. Chỉ số diện tích lá và lượng chất khô tích lũy của giống ngô C919
Chỉ số diện tích lá
CT

7-9 lá


VX

Xoắn nõn


Chín sữa


VX

VX


K2D1
1,73ab 1,86abc 4,22bc 4,37ab 4,10bc 4,42ab 5,93 6,99 12,23abc 12,79abc
K2D2
1,81ab 1,86abc 4,36ab 4,42ab 4,40a 4,61a 6,59 6,96 13,20a
13,55a
K2D3
2,00a 1,91ab 4,17cd 4,26abc 4,21abc 4,41ab 6,32 6,74 12,15abc 12,67abc
K2D4
1,85ab 1,80abc 4,08cde 4,53a 4,23abc 4,33b 5,81 5,70 12,40abc 11,42c
K3D1
1,72ab 1,97ab 4,21bc 3,94cd 4,35ab 4,41ab 5,57 6,62 11,84abcd 12,03bc
K3D2
1,90ab 2,01a 4,12cde 4,01bcd 4,41a 4,55ab 6,27 6,64 12,50abc 12,17abc
K3D3
1,90ab 1,70bc 4,03cde 3,91cd 4,15abc 4,42ab 5,99 6,40 10,30d
11,96bc
ab
ab
cde
d
c
ab
cd
K3D4
1,94
1,81
4,11
3,66
4,00
4,38

LSD0,05(K*D) 0,31
0,26
0,15
0,41
0,27
0,24 0,40 0,39
1,56
1,47
Ghi chú: Trong cùng một cột số liệu các giá trị mang các chữ cái khác nhau thể hiện sự sai khác ở
mức ý nghĩa α = 0,05; VĐ - Vụ đông năm 2012; VX: Vụ xuân năm 2013.

Sự tương tác giữa khoảng cách bón và độ sâu bón đạm viên nén khác nhau
đã dẫn đến giá trị chỉ số diện tích lá trung bình của giống ngô tham gia thí nghiệm
là khác nhau. Trong đó, sự phối hợp giữa K1 và K2 với D2 và D3 (khoảng cách
bón từ 5 đến 10 cm và độ sâu bón từ 5 đến 10 cm) cho giá trị chỉ số diện tích lá là
cao nhất ở cả hai vụ thí nghiệm. Tổ hợp K2D2 có giá trị chỉ số diện tích lá vượt
trội hơn cả (đạt 4,40 m2 lá/m2 đất ở vụ đông năm 2012 và 4,61 m2 lá/m2 đất ở vụ
xuân năm 2013).
20


Ở cả hai vụ thí nghiệm, bón đạm viên nén ở độ sâu 10 cm (D2), khoảng
cách bón 10 cm (K2) ngô đạt lượng chất khô tích luỹ ở thời kỳ thu hoạch là cao
nhất (đạt 13,20 tấn/ha ở vụ Đông năm 2012 và 13,55 tấn ở vụ Xuân 2013).
Kết quả nghiên cứu đã cho thấy, khi bón đạm viên nén ở độ sâu 10 cm và
khoảng cách bón 10 cm (K2D2) đã làm tăng chỉ số diện tích lá và khả năng tích lũy
chất khô của cây ngô.
4.2.6.2. Ảnh hưởng của khoảng cách và độ sâu bón phân đạm viên nén đến các
yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của giống ngô C919
Kết quả bảng 4.13 cho thấy: Ở cả hai vụ trong số các chỉ tiêu về năng suất

307,1 306,2 73,2b 75,2b
K1D3
12,4
12,2
36,2 37,6 73,2
75,1
300,0 300,2 72,4bc 74,2b
K1D4
12,8
12,2
35,4 32,8 72,6
71,8
290,6 287,4 70,3bc 74,1b
K2D1
13,1
13,1
37,6 38,4 70,1
72,9
300,5 300,8 72,9b 73,2bc
K2D2
13,6
13,6
39,1 39,8 73,6
76,4
309,1 311,5 78,6a 81,0a
K2D3
12,4
12,8
35,6 37,2 73,2
74,4

285,6 292,6 68,3c 72,6bcd
CV(%)
3,5
3,7
1,7
2,1
2,8
4,8
2,6
2,3
3,4
3,1
LSD0,05(K)
0,4
0,4
0,5
0,6
1,7
1,1
6,6
5,8
2,1
1,3
LSD0,05(D)
0,4
0,5
0,6
0,7
2,0
1,3

Căn cứ vào kết quả thí nghiệm có thể kết luận như sau: Khi sử dụng phân
đạm dạng viên nén nên bón ở khoảng cách 10 cm và độ sâu bón 10 cm.
4.2.7. Nghiên cứu ảnh hưởng của vật liệu che phủ khi sử dụng phân đạm viên
nén đến sinh trưởng, phát triển và năng suất giống ngô C919
4.2.7.1. Ảnh hưởng của vật liệu che phủ đến các yếu tố cấu thành năng suất và
năng suất thực thu của giống ngô C919
Kết quả xử lý số liệu tại bảng 4.14 cho thấy, sử dụng vật liệu che phủ đã làm
tăng năng suất ngô 4,23 đến 8,06% so với đối chứng (CT1) không sử dụng vật
liệu che phủ. Năng suất thực thu của công thức 3 (che phủ bằng rơm, rạ) đạt năng
suất cao nhất ở cả hai vụ thí nghiệm (vụ đông năm 2012 đạt 79,1 tạ/ha và vụ xuân
năm 2013 đạt 80,2 tạ/ha).
Bảng 4.14: Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất giống ngô C919
CT

Số hàng hạt/bắp


VX

Số hạt/hàng


VX

38,5b

Tỷ lệ hạt/bắp (%) KL 1000 hạt (g)


VX


2

13,5

13,4 40,3ab 39,8ab

72,4

72,6

311,6

310,5 76,3ab 78,9ab

3

13,4

13,6

42,1a

41,5a

73,6

73,8

312,2


0,57

0,73

1,97

2,50

-

-

18,1

15,7

4,5

5,2

Ghi chú: Trong cùng một cột số liệu các giá trị mang các chữ cái khác nhau thể hiện sự sai khác ở
mức ý nghĩa α = 0,05; VĐ - Vụ đông năm 2012; VX - Vụ xuân năm 2013; CT 1: Không che phủ
(đối chứng); CT 2: Che phủ bằng nilon; CT 3: Che phủ bằng rơm rạ.

Kết quả tính toán sơ bộ cho thấy, sử dụng vật liệu che phủ là rơm rạ mang
lại hiệu quả kinh tế lớn nhất (lãi đạt 28,7 triệu/ha ở vụ đông năm 2012 và 29,3
triệu/ha ở vụ xuân năm 2013) vượt so bới công thức không che phủ 3,8 - 4,0 triệu
đồng/ha.
Bảng 4.15. Hiệu quả kinh tế của việc sử dụng vật liệu che phủ

24,6

25,5

-

-

2

29,3

45,8

47,3

16,5

18,0

- 8,1

- 7,5

3

18,8

47,5



Bội thu năng suất

Thấp nhất

Cao nhất

Trung bình

tạ/ha

%

Đối chứng

56,3

71,2

64,0

-

-

Quy trình

70,2

81,2

18,8

45,8

Mô hình

Lãi tăng thêm so với đối chứng
triệu đồng

%

18,7

-

-

27,0

8,3

44,4

Như vậy, việc sử dụng lượng bón 120 kg N dạng viên nén (trên nền 8 tấn
phân chuồng, 90 kg P2O5, 90 kg K2O) kết hợp với che phủ bằng rơm rạ đã làm
tăng năng suất ngô 12,4 tạ/ha; tăng hiệu quả kinh tế khoảng 8,3 triệu đồng/ha/vụ
so với sản xuất ngô theo quy trình thông thường.
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, chúng tôi đề xuất quy trình bón phân đạm
dạng viên nén kết hợp với biện pháp che phủ bằng rơm rạ cho cây ngô tại huyện
Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status