GIẢI PHÁP QUẢN LÝ QUẢN LÝ NHẰM NÂNG CAO HIỆU
QUẢ CÔNG TÁC XÃ HỘI HOÁ GIÁO DỤC MẦM NON Ở
HUYỆN THẠCH THẤT TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Đất nước ta đang trong giai đoạn những năm đầu của thế kỷ XXI, thế kỷ
của nền văn minh trí tuệ, nền kinh tế tri thức, thể kỷ của hội nhập khu vực và
quốc tế. Đảng và Nhà nước ta đã xác định phát triển giáo dục và đào tạo cùng
với khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu, chủ trương này được xuyên suốt
trong các Nghị quyết của Đảng, từ Nghị quyết TW 4 (khoá VII) đến Nghị quyết
TW 2 (khoá VIII) (Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX và văn kiện
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X. Đảng ta khẳng định, phát triển giáo dục và
đào tạo là một động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp Công nghiệp hoá hiện
đại hoá đất nước, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người.
Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy:
“Vì lợi ích 10 năm thì phải trồng cây
Vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”.
Con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển kinh tế - xã
hội giáo dục là sự nghiệp “Trồng người” cũng trên tinh thần như vậy, văn kiện
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng xác định: “Xuất phát từ nhận
thức chăm lo cho con người, cho cộng đồng xã hội là trách nhiệm của toàn xã
hội, của mỗi đơn vị, của từng gia đình, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và
toàn dân, chúng ta chủ trương giải quyết các vấn đề xã hội theo tinh thần xã
hội hoá, trong đó Nhà nước giữ vai trò nòng cốt... sự nghiệp cách mạng là sự
nghiệp của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Nhà nước và nhân dân cùng
làm, mọi việc đều phải dựa vào nhân dân”.
1
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng ta khẳng định:
kỷ XXI, vì thế cần phải bắt đầu từ việc chăm sóc, giáo dục trẻ em từ tuổi mầm
non và trách nhiệm này không chỉ thuộc về nhà trường Mầm non mà còn là
trách nhiệm của gia đình và của toàn xã hội.
Tầm quan trọng của xã hội hoá giáo dục đối với sự phát triển đi lên của
đất nước, lợi ích, quyền lợi và trách nhiệm của các thành viên trong xã hội... đối
với sự nghiệp phát triển giáo dục, xã hội hoá giáo dục và đào tạo đã được Đảng
và Nhà nước ta xác định. Nhưng mục tiêu, nội dung xã hội hoá giáo dục cũng
như công tác quản lý xã hội hoá giáo dục phải được hiểu như thế nào ? Các biện
pháp tổ chức xã hội hoá giáo dục cũng như công tác quản lý xã hội hoá giáo
dục ở các bậc học, ngành học trong hệ thống giáo dục quốc dân phải được tiến
hành ra sao ? Nội dung và tính chất của các biện pháp tổ chức và quản lý trong
thực tiễn...? Các vấn đề trên nếu được lý giải một cách khách quan, khoa học thì
không những làm sáng tỏ quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà
nước về xã hội hoá giáo dục mà còn góp phần giúp các tổ chức cơ sở Đảng,
chính quyền các cấp, các tổ chức chính trị - xã hội các đoàn thể quần chúng, các
cơ sở giáo dục... có định hướng phát triển xã hội hoá giáo dục và quản lý xã hội
hoá giáo dục có hiệu quả.
Nghiên cứu xã hội hoá giáo dục và việc tăng cường quản lý nhằm nâng cao
hiệu quả công tác xã hội hoá giáo dục mầm non ở huyện Thạch Thất - thành phố
Hà Nội không chỉ tìm kiếm những lời giải phù hợp với điều kiện kinh tế - xã
hội khách quan, đáp ứng nhu cầu nhận thức mà còn có một ý nghĩa thực tiễn
quan trọng: Cung cấp cơ sở cho việc dự đoán và định hướng cho sự phát triển
xã hội hoá giáo dục và tăng cường quản lý xã hội hoá giáo dục trong giai đoạn
cách mạng hiện nay. Hơn nữa để phát triển giáo dục Mầm non, không còn con
đường nào khác là phải thực hiện tốt công tác xã hội hoá giáo dục. Một sự
nghiệp lớn được kế tục một cách nhất quán qua nhiều thế hệ, mỗi giai đoạn nhất
định đều có chính sách mục tiêu, biện pháp và cách thức tiến hành khác nhau,
3
* Về mặt khoa học: Xã hội hoá giáo dục Mầm non là một đề tài không hoàn
toàn mới và đã được một số tác giả nghiên cứu, tổng kết thực tiễn. Song, đối với địa
bàn huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội còn là vấn đề mới. Chính vì vậy, việc
nghiên cứu, kiểm chứng những giải pháp đã được tổng kết và bổ sung một số giải
pháp quản lý nhằm nâng cao xã hội hoá giáo dục giáo dục Mầm non phù hợp với
thực tiễn địa bàn huyện Thạch Thất - thành phố Hà Nội với đề tài này mong muốn
được góp tiếng nói nhỏ bé của mình nhằm đẩy mạnh sự phát triển toàn diện giáo
dục Mầm non của huyện Thạch Thất trong giai đoạn hiện nay.
2. Mục đích nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu thực trạng công tác xã hội hoá giáo dục Mầm non ở huyện
Thạch Thất trong những năm qua. Những thành công, tồn tại và bài học kinh
nghiệm để đưa ra những biện pháp nhằm đẩy mạnh công tác xã hội hoá giáo
dục Mầm non trên địa bàn huyện một cách đồng bộ, hợp lý, có hiệu quả.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu:
3.1. Khách thể nghiên cứu:
Công tác xã hội hoá sự nghiệp giáo dục Mầm non.
3.2. Đối tượng nghiên cứu:
Công tác xã hội hoá giáo dục Mầm non ở huyện Thạch Thất - Thành phố
Hà Nội trong giai đoạn hiện nay.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu:
4.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận, xã hội hoá giáo dục và quản lý công tác xã hội
hoá giáo dục Mầm non.
4.2. Khảo sát thực trạng công tác xã hội hoá giáo dục và quản lý công tác xã
hội hoáệư nghiệp GDMN.
5
4.3. Đề xuất một số giải pháp quản lý công tác xã hội hoá sự nghiệp GDMN
Mầm non trong huyện để thu thập số liệu, phát hiện những vấn đề mới.
- Phương pháp điều tra, khảo sát thâm nhập thực tiễn: Các đối tượng cán
bộ quản lý, giáo viên, cha mẹ học sinh để đánh giá thực trạng.
+ Trò chuyện phỏng vấn sâu một số chuyên gia GDMN Sở Giáo dục và Đào tạo
thành phố Hà Nội; tham khảo các văn bản tổng kết, đánh giá và rút kinh nghiệm hàng năm
về tình hình quản lý XHHSNGDMN trên địa bàn huyện, từ đó phân tích , tổng hợp, rút ra
đánh giá và những bài học kinh nghiệm để tạo tiền đề cho việc đề xuất các biện pháp quản
lý để tăng cường công tác XHHSNGDMN trong giai đoạn hiện nay.
7.3. Phương pháp thống kê:
Sử dụng các công thức thống kê để xử lý kết quả khảo sát.
8. Cấu trúc luận văn:
Ngoài phần mở đầu (7 trang). Nội dung luận văn được cấu trúc 3 chương.
- Chương 1: Cơ sở lý luận về xã hội hoá sự nghiệp giáo dục và quản lý
công tác xã hội hoá giáo dục Mầm non (23 trang).
- Chương 2: Thực trạng công tác xã hội hoá sự nghiệp giáo dục Mầm
non ở huyện Thạch Thất - thành phố Hà Nội (…1trang).
- Chương 3: Xu hướng và giải pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả
công tác xã hội hoá giáo dục Mầm non ở huyện Thạch Thất (…. trang).
Kết luận và khuyến nghị: ……..trang
Cuối luận văn là danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục.
7
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÃ HỘI HOÁ
SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC M ÂM NON
1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề :
Chức năng đầu tiên, chức năng nguyên thuỷ của giáo dục là xã hội hoá,
ứng với mỗi giai đoạn phát triển, mối quan hệ hai chiều giáo dục - xã hội thúc
Ngay từ những ngày đầu của nước Việt Nam độc lập, Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã ra “Lời kêu gọi chống nạn thất học”. Hưởng ứng lời kêu gọi của Hồ
Chủ tịch cả nước đã trở thành một xã hội học tập, tiêu biểu, sôi động nhất đó là
phong trào bình dân học vụ... Tư tưởng giáo dục “Ai cũng được học hành” của
Hồ Chủ tịch đã thực sự đi vào cuộc sống.
Đất nước hoàn toàn thống nhất, cả hai miền Nam - Bắc cùng thực hiện
một hệ thống giáo dục đã đạt được những thành quả nhất định. Song do cơ chế
tập trung, quan liêu bao cấp, nền giáo dục của chúng ta không khai thác triệt để
bài học phát huy sức mạnh của toàn dân tộc để phát triển giáo dục. Thay vì thực
hiện “Quản lý giáo dục của Mầm non” chúng ta đã “Mầm non hoá giáo dục”
làm cho giáo dục rơi vào thế bị động, không thu hút được các nguồn lực của
toàn xã hội tham gia vào các hoạt động giáo dục.
Từ thách thức đó đòi hỏi sự nghiệp giáo dục và đào tạo phải đổi mới cách
nhìn nhận về vị trí vai trò của mình trong công cuộc đổi mới đất nước. Việc
“Huy động toàn xã hội làm giáo dục, động viên các tầng lớp nhân dân cùng
góp sức xây dựng nền giáo dục quốc phòng toàn dân dưới sự quản lý của Nhà
nước” đã trở nên vô cùng bức thiết.
* Đảng và Nhà nước ta xác định giáo dục có vai trò hết sức quan trọng
trong quá trình phát triển đất nước. Đảng ta xác định, muốn tiến hành công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước thắng lợi phải phát triển giáo dục và đào tạo,
phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản của sự phát triển nhanh và bền
vững. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Đảng ta đã có nhiều chủ trương,
9
chính sách để phát triển Giáo dục và Đào tạo. Quan điểm, chủ trương đó được
xuyên suốt từ Đại hội VII đến Đại hội X của Đảng. Đảng ta đã khẳng định “Xã
hội hoá” là một trong những quan điểm để hoạch định hệ thống các chính sách
xã hội. Từ Nghị quyết TW 4 khoá IX Đảng ta khẳng định: “Đẩy mạnh xã hội
phần đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện.
Trong hệ thống giáo dục quốc dân, giáo dục Mầm non là ngành học thể
hiện tính xã hội hoá cao hơn hết. Giáo dục Mầm non thể hiện sinh động nguyên
tắc Nhà nước, xã hội và nhân dân cùng làm. Để đẩy mạnh hơn nữa sự nghiệp
phát triển giáo dục Mầm non, Thủ tướng Chính phủ đã tổ chức hội nghị bàn về
công tác giáo dục Mầm non. Hội nghị đã đề ra các giải pháp cơ bản, trong đó
nhấn mạnh: Tiếp tục đẩy mạnh biện pháp xã hội hoá sự nghiệp giáo dục Mầm
non; đa dạng hoá các loại hình giáo dục Mầm non, kiến nghị cần có chính sách
để đầu tư cho giáo dục Mầm non; ban hành Quyết định số 164/2002/QĐ-TTg
về một số chính sách phát triển giáo dục Mầm non.
1.2. Những khái niệm cơ bản của đề tài:
1.2.1. Khái niệm về quản lý giáo dục.
Giáo dục là một hoạt động xã hội rộng lớn và hết sức quan trọng, có liên
quan trực tiếp đến lợi ích, quyền lợi và nghĩa vụ của mọi thành viên trong xã
hội, mọi tổ chức kinh tế - xã hội của mỗi Quốc gia. Đồng thời, GD là một trong
nhân tố có tác động mạnh mẽ đến tiến trình hưng thịnh hay suy vong của một
thể chế chính trị, một triều đại và của cả một thời đại. Vì thế ngay từ thời kỳ cổ
đại các nhà triết học, giáo dục học, sử gia đã sớm nhận thức được tầm quan
trọng của nó.
Khổng Tử (551- 479tr.CN), nhà giáo dục lớn thời cổ đại của Trung Quốc,
ông coi GD là nằm trong hệ thống “ Thứ - Phú – Giáo” đòi hỏi những nhà chính
trị, những người cầm quyền không được sao nhãng.
11
Như vậy, qua các công trình nghiên cứu của các nhà nghiên cứu về xã
hội học, về GD từ thời kỳ cổ đại cho đến nay cho thấy: GD là một hiện tượng
xã hội có lịch sử lâu đời và tồn tại song hành cùng với sự phát triển của xã hội
loài người. GD là sản phẩm của xã hội, đồng thời là một trong những nhân tố
chức xã hội, khoa học quản lý ngày càng phát triển mạnh mẽ và có ý nghĩa
quyết định trong mọi mặt của đời sống KT-XH. Khoa học quản lý GD đã hình
thành và phát triển khá sớm, trở thành yếu tố quan trọng, góp phần nâng cao
chất lượng GD. Để phát huy sức mạnh tổng hợp và các chức năng đặc biệt của
hoạt động GD, các nhà khoa học quan tâm đặc biệt đến vấn đề QLGD- tức là
vấn đề điều khiển quá trình GD, rèn luyện con người nói chung, đặc biệt là hệ
thống nhà trường, nơi GD và rèn luyện thế hệ trẻ nói riêng và cho mọi người có
nhu cầu học tập thường xuyên.
Giáo sư, Tiến sĩ Khoa học Lê Du Phong khái niệm quản lý nhà nước về
GD: “ Quản lý Nhà nước về giáo dục là quản lý theo ngành do một cơ quan
Trung ương đại diện cho Nhà nước là Bộ GD&ĐT thực hiện. Đó là việc xây
dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, cơ chế và chính sách phát triển GD&ĐT
của đất nước phù hợp với sự phát triển KT-XH của nước nhà và của thời đại
cũng như tổ chức thực hiện thành công các vấn đề đó, nhằm nâng cao không
ngừng trình độ dân trí của dân và tạo cho đất nước một đội ngũ nhân lực có
trình độ cao, đảm bảo thành công sự nghiệp CNH, HĐH”. [32,tr.71].
QLGD là quá trình tác động của chủ thể quản lý và toàn bộ hoạt động của
GD nhằm thúc đẩy GD phát triển theo mục tiêu mà Đảng và Nhà nước đã xác
định. QLGD được biểu hiện thông qua quản lý mục tiêu đào tạo, chương trình
đào tạo quản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ dạy và học, quản lý đội
ngũ cán bộ, giáo viên, quản lý người học và chất lượng GD-ĐT…Do đó có thể
nhận thấy: “ Quản lý GD là hoạt động điều hành các nhà trường để GD vừa là
sức mạnh vừa là mục tiêu của nền kinh tế”.
13
Như vậy, có thể thống nhất quan niệm: Quản lý GD là hoạt động điều
hành, phối hợp các lực lượng GD nhằm đẩy mạnh công tác GD, Đào tạo thế hệ
trẻ theo yêu cầu phát triển của XH.
vực đào tạo nguồn nhân lực cũng như các trang thiết bị dạy và học tiên tiến hiện
đại…Những thành tựu lớn lao đó, đặc biệt là công tác QLGD đã và đang tạo ra
nguồn nhân lực có phẩm chất cách mạng và năng lực, từng bước đáp ứng được
nhu cầu phát triển của nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN, sự nghiệp
CNH, HĐH đất nước.
1.2.2. Xã hội hoá:
Xã hội hoá (XHH) - thuật ngữ này được các nhà kinh tế học, xã hội học,
giáo dục học từ những năm cuối thế kỷ XIX và những năm đầu thế kỷ XX sử
dụng, nhằm biểu đạt một số những vấn đề thuộc các lĩnh vực nghiên cứu của
mình.
Theo Côlin Fasen, thì: “ XHH là một quá trình động viên mọi tầng lớp
Nhân dân tham gia một cách tích cực và chủ động vào một lĩnh vực xã hội nào
đó, huy động hợp lý và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực của Nhà nước và
của Nhân dân nhằm đạt được các mục tiêu phát triển XH”.
Từ quan điểm trên đã nêu lên nội dung cơ bản của khái niệm xã hội hoá.
Định nghĩa đó có được đề cập ở mức độ khác nhau nhưng cốt lõi của vấn đề
cho rằng: Xã hội hoá là quá trình cá nhân nhờ hoạt động, giao lưu, giao tiếp,
tiếp thu giáo dục… mà học hỏi được cách sống trong cộng đồng, trong đời
sống xã hội và phát triển được khả năng đảm nhiệm các vai trò xã hội với tư
cách vừa là cá thể vừa là thành viên của xã hội.
1.2.3. Xã hội hoá sự nghiệp giáo dục:
Đại hội đại biểu Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VIII( tháng 6/1996) đã
khẳng định, “ Xã hội hoá” là một trong những quan điểm để hoạch định hệ
thống các chính sách xã hội. Ngày 21/8/1997, Chính phủ đã ra Nghị quyết
15
90/CP về “ Phương hướng và chủ trương xã hội hoá các hoạt động giáo dục, y
tế, văn hoá”. Luật giáo dục năm 2005 đã được Quốc hội nước CHXHCN Việt
dục tham gia vào mọi hoạt động của đời sống xã hội. Có thể nói một cách khái
quát: Xã hội hoá giáo dục là quá trình mà cả cộng đồng và xã hội cùng tham gia
vào giáo dục. Trong đó mọi tổ chức, gia đình và công dân có trách nhiệm chăm
lo sự nghiệp giáo dục, phối hợp với nhà trường thực hiện mục tiêu giáo dục,
xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh và an toàn.
XHH sự nghiệp giáo dục là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước
ta, là quan điểm có tính chiến lược trong việc xây dựng và tổ chức thực hiện
đường lối phát triển giáo dục. Từ Nghị quyết hội nghị lần thứ II(khoá VIII) đến
phương hướng, nhiệm vụ phát triển KT-XH 5 năm giai đoạn 2006-2010 Đại hội
đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng (tháng 4- 2006) đã chỉ rõ: “ Thực hiện
xã hội hoá giáo dục – huy động nguồn lực vật chất và trí tuệ của xã hội tham
gia chăm lo sự nghiệp giáo dục. Phối hợp chặt chẽ giữa các ngành giáo dục
với các ban, ngành, các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội - nghề nghiệp… để mở
mang giáo dục, tạo điều kiện học tập cho mọi thành viên trong xã hội”.
(21,tr97).
Nội dung xã hội hoá sự nghiệp GD được Đảng và Nhà nước đề cập hết
sức phong phú; như từ việc huy động các LLXH đầu tư các nguồn lực bao gồm
vật lực, tài lực cho giáo dục; tham gia vào quá trình đa dạng hoá các loại hình
trường, lớp, các hình thức học tập.
Ba môi trường trong giáo dục được gắn kết bởi nhà trường, gia đình và xã
hội, làm cho mọi người, mọi tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức kinh tế, các
doanh nghiệp và mọi cá nhân trong xã hội nhận thức và tổ chức thực hiện đầy đủ
trách nhiệm của mình trong sự nghiệp phát triển giáo dục và quản lý giáo dục.
Chủ trương XHH sự nghiệp giáo dục của Đảng và Nhà nước đã và đang
thu hút sự quan tâm nghiên cứu của các Vụ, Viện, các Ban, Ngành thuộc Bộ
GD&ĐT cũng như các Ban, Ngành có liên quan. Nhiều chuyên gia giáo dục có
17
dục”mà là “ Sự tham gia của cộng đồng vào giáo dục”. Rõ ràng là thuật ngữ
này về mặt ngữ nghĩa đã thể hiện được nội dung cơ bản của XHH sự nghiệp
GD.
Đối với sự nghiệp giáo dục Mầm non, quan điểm về sự nghiệp GDMN và
XHH sự nghiệp GDMN ở các nước còn nhiều ý kiến khác nhau, nhưng về
phương thức, giải pháp thực hiện nhiệm vụ GDMN đều có sự giống nhau cơ
bản. Đó là việc huy động mọi thành phần kinh tế, mọi tổ chức xã hội, cá nhân
cùng với Nhà nước thực hiện các quá trình giáo dục, là việc huy động nhiều
nguồn vốn, đa dạng hoá nhiều loại hình GDMN. Có thể nói, xu thế xã hội hoá
sự nghiệp GDMN, tăng đầu tư cho GDMN, quan tâm đến GDMN đã mang tính
toàn cầu. Hiện nay nhiều nước đã thấy rõ lợi ích của GDMN cả về kinh tế và xã
hội, bởi vì sự trợ giứp của Nhà nước cho chăm sóc trẻ đã giúp tránh được lãng
phí nguồn nhân lực liên quan đến việc nghỉ dài hạn khỏi công việc của phụ nữ
để ở nhà chăm sóc con cái.
Việc đầu tư cho GDMN được bắt đầu từ lúc sinh đến 6 tuổi, về tỷ lệ GDP
đầu tư cao nhất là các nước Bắc Âu, trung bình là các nước Châu Âu lục địa,
thấp nhất là Australia, Anh và Hoa Kỳ. Tuy nhiên các nước được xem là đầu tư
thấp nhất trước đây (Netherlands, UK, US) có xu hướng tăng mức đầu tư lên
một cách có ý nghĩa trong 5 năm qua. Trong khối các nước thuộc OECD có sự
chia sẻ kinh phí giữa Nhà nước, cha mẹ và doanh nghiệp nhưng Chính phủ vẫn
đóng vai trò chủ yếu.
Một số nước khác trong khu vực Châu Á, việc xã hội tham gia vào giáo
dục Mầm non cũng được thể hiện rất sinh động. Chẳng hạn ở Trung Quốc, GD
mẫu giáo được coi là một bộ phận của GD XHCN, Bộ và các Vụ y tế đảm nhận
trách nhiệm về chăm sóc sức khoẻ, vệ sinh ở các nhà trẻ, còn vấn đề giáo dục,
đào tạo cô nuôi dạy trẻ, quản lý nhà trẻ thì được gắn với GDMN. Nguồn kinh
phí cho các nhà trẻ, trường mẫu giáo là do Nhà nước, các tập thể doanh nghiệp và
19
Nhìn vào các hình thức GDMN, có thể khẳng định đây là bậc học được
XHH cao hơn bất kỳ bậc học nào. GDMN là sự thể hiện sinh động nguyên tắc
Nhà nước, xã hội và nhân dân cùng làm. Song việc nghiên cứu XHH sự nghiệp
GDMN còn hết sức hạn chế.
Đứng trước những yêu cầu và thách thức của việc thực hiện chiến lược
phát triển GDMN, nhằm phát triển GDMN theo tinh thần Nghị quyết Trung
ương II( khoá 8) và Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX ngày
25/6/2002 , Thủ tướng Chính phủ đã tổ chức hội nghị bàn về công tác GDMN.
Hội nghị đã đề ra giải pháp cơ bản trong đó nhấn mạnh: Tiếp tục đẩy mạnh biện
pháp XHH sự nghiệp GDMN, đa dạng hoá các loại hình GDMN. Ngày
15/11/2002, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 161/2002/QĐ-TTg về
một số chính sách phát triển GDMN đã khẳng định rõ ở điều 1 nhiệm vụ phát
triển GDMN đến năm 2010 “ Nhà nước tiếp tục tăng đầu tư phát triển GDMN
đồng thời đẩy mạnh XHH sự nghiệp GDMN, mở rộng hệ thống nhà trẻ và
trường, lớp mẫu giáo trên mọi địa bàn dân cư…”
Quyết định số 161/2002/QĐ-TTg có hiệu quả, Bộ GD&ĐT, Bộ Nội vụ, Bộ Tài
chính ngày 24/2/2003 đã ra Thông tư liên tịch số 05/2005/ TTLT/BGD&ĐT-BNVBTC hướng dẫn một số chính sách phát triển GDMN trong đó đã chỉ ra các bước
của việc thực hiện quy hoạch mạng lưới trường lớp Mầm non công lập, ngoài
công lập, thực hiện XHH sự nghiệp giáo dục đối với GDMN.
Nhờ đó GDMN có sự chuyển biến quan trọng, qui mô trường lớp khắc phục
được chiều hướng giảm sút, mở rộng khả năng đóng góp của mọi người. Đặc biệt trẻ
5 tuổi được huy động ở mức cao 95% - 98% góp phần đáng kể vào hoàn thành mục
tiêu phổ cập Tiểu học. Chất lượng CSGD trẻ được nâng lên đáng kể.
Cơ sở vật chất trong những năm gần đây được quan tâm cải tạo, sửa
chữa, xây dựng để từ không có trường chuẩn Quốc gia đến nay đã có 03 trường
đạt chuẩn Quốc gia.
21
1.3.2. Vai trò của công tác xã hội hoá sự nghiệp giáo dục Mầm non
trong giai đoạn hiện nay:
1.3.2.1. Xã hội hoá sự nghiệp giáo dục Mầm non góp phần nâng cao chất
lượng giáo dục Mầm non.
Xã hội hoá sự nghiệp giáo dục Mầm non huy động được các nguồn lực
cho giáo dục Mầm non góp phần tạo nên những chuyển biến căn bản về chất
lượng giáo dục. Nhờ xã hội hoá sự nghiệp giáo dục Mầm non mà cộng đồng có
thể tham gia vào việc cụ thể hoá mục tiêu giáo dục phù hợp với yêu cầu của địa
phương và cộng đồng. Giáo dục hình thành và phát triển nhân cách góp phần
tạo ra “Nguồn lực người” qua các thành tố tri thức, thái độ, hành động kỹ năng
cuộc sống.
1.3.2.2. Xã hội hoá sự nghiệp giáo dục Mầm non sẽ huy động được các nguồn
lực, tiềm năng của xã hội, khắc phục những khó khăn của quá trình phát triển
cơ sở giáo dục Mầm non.
Xã hội hoá sự nghiệp giáo dục Mầm non sẽ mang lại nhiều nguồn lực
phục vụ cho mọi hoạt động của giáo dục Mầm non. Huy động các nguồn và đa
dạng hoá các nguồn lực là tính đến một phạm vi rất rộng rãi. Những nguồn lực
này sẽ góp phần giải quyết được mâu thuẫn, khắc phục những khó khăn của quá
trình phát triển giáo dục Mầm non.
1.3.2.3. Xã hội hoá sự nghiệp giáo dục Mầm non tạo ra sự công bằng, dân chủ
trong hưởng thụ và trách nhiệm xây dựng giáo dục Mầm non.
Nghị quyết lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VII đã chỉ rõ “
Thực hiện công bằng trong giáo dục người đi học phải đóng học phí, người sử dụng
qua đào tạo phải đóng góp chi phí đào tạo, có chính sách bảo đảm cho người nghèo
và các đối tượng chính sách đều được đi học” (51 - trang 62).
23
Xã hội hoá sự nghiệp giáo dục Mầm non tạo điều kiện cho các lực lượng
đình, nhà trường và xã hội với các trường Mầm non ở địa phương.
Quản lý xã hội hoá sự nghiệp giáo dục giáo dục Mầm non:
Phải đảm bảo thực hiện nghiêm túc Quy chế “Nhà nước thống nhất quản
lý” và “Tăng cường quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các cơ sở giáo dục”.
Quản lý xã hội hoá sự nghiệp giáo dục Mầm non là quản lý sự phối hợp các lực
lượng xã hội tham gia các hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ trên
từng địa bàn dân cư. Thể hiện các cấp chính quyền, các cơ sở giáo dục, các tổ
chức chính trị - xã hội phải được tham gia hoạch định xã hội hoá sự nghiệp giáo
dục từ khâu: kế hoạch hoá, tổ chức thực hiện, lãnh đạo và chỉ đạo, kiểm tra,
hạch toán, tính toán, đánh giá hiệu quả.
Quản lý nguồn đầu tư từ ngân sách của Nhà nước và sự đóng góp của
nhân dân, các tổ chức phi Chính phủ trong và ngoài nước.
Quản lý công tác nuôi dưỡng, chăm sóc, các hoạt động ngoài xã hội của
giáo viên trên cơ sở kết hợp 3 môi trường giáo dục: Gia đình - nhà trường - xã hội.
Việc phân cấp quản lý giữa Trung ương, địa phương, cơ sở là sự thể hiện dân
chủ hoá trong quản lý giáo dục. Đồng thời tạo quyền tự chủ, tự chịu trách
nhiệm và năng động của địa phương, của các cơ sở giáo dục.
1.3.4. Biện pháp quản lý công tác XHHSNGDMN.
Biện pháp công tác XHHSNGDMN là cách thức, phương pháp, cách giải
quyết một vấn đề nào đó của chủ thể - chủ thể chịu trách nhiệm nhằm thoá gỡ,
giải toả các khách thể được quản lý vận động và phát triển theo những định
hướng và mục tiêu đã định.
Biện pháp quản lý XHHSNGDMN là các nội dung, cách thức tiến hành giải
quyết cụ thể của các chủ thể quản lý GDMN, nhằm tác động, giải quyết làm biến
25