5
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và xã hội công
dân là hai mặt của một quá trình dân chủ hóa đời sống xã hội. Xây dựng
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đòi hỏi trách nhiệm cao không chỉ
từ phía Nhà nước, mà còn chủ yếu là trách nhiệm của người dân. Trong đó,
việc tuyên truyền giáo dục nhằm nâng cao ý thức pháp quyền trong nhân
dân có tầm quan trọng hàng đầu. Hiểu biết pháp luật ngày càng đầy đủ sẽ
làm tăng niềm tin của người dân vào Nhà nước, vào pháp luật và làm cơ sở
định hướng đúng đắn cho các hành vi của người dân trong xã hội. Người
dân tuân thủ pháp luật chính là tuân thủ những quy định pháp lý bảo vệ lợi
ích của chính bản thân, gia đình và cộng đồng của mình. Một xã hội có kỷ
cương, kỷ luật phải được xây dựng trên ý thức tuân thủ pháp luật ngày càng
cao của mọi người, giáo dục mọi thành viên và các cộng đồng trong xã hội
thói quen và lối sống tuân thủ Hiến pháp, pháp luật. Đó là một nội dung
không thể thiếu của Nhà nước pháp quyền. Trình độ nhận thức và thực
hành các quyền và nghĩa vụ công dân là điều kiện thiết yếu của Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
Thực tế ở Việt Nam trong suốt thời gian qua cho thấy, sở dĩ pháp
luật chưa thực sự đi vào cuộc sống, chưa trở thành cái không thể thiếu khi
điều chỉnh các quan hệ xã hội là vì, một mặt, chúng ta chưa có một hệ
thống pháp luật hoàn chỉnh, theo kịp sự phát triển của xã hội; mặt khác, ý
thức pháp luật của người dân còn rất nhiều hạn chế.
Tình trạng kỷ cương, phép nước không nghiêm, các loại tội phạm
gia tăng, nhiều cán bộ nhà nước vi phạm pháp luật... là do nhiều nguyên
nhân, trong đó, một phần là do hiểu biết pháp luật không đầy đủ và không
chính xác. Trong mặt bằng dân trí nói chung còn thấp hiện nay, thì dân trí
vật. Liên quan tới đề tài luận án, việc làm sáng tỏ lôgíc khách quan, quy
7
luật khách quan của quá trình hình thành và phát triển của ý thức pháp luật
có vai trò quyết định. Chỉ trên cơ sở đó, chúng ta mới đưa ra được những
phương hướng, giải pháp đúng đắn để nâng cao hiệu quả tác động nhằm
phát triển ý thức pháp luật ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.
Từ thực tiễn lịch sử nhân loại cho thấy, với tư cách là một bộ phận
của ý thức xã hội, ý thức pháp luật cũng có quá trình ra đời, tồn tại và phát
triển. Ngoài việc phải tuân theo những quy luật chung phổ biến, quá trình
này còn bị chi phối bởi những quy luật rất đặc thù. Bởi vì, ý thức pháp luật
của mỗi quốc gia, dân tộc đều phụ thuộc vào điều kiện kinh tế-xã hội, chính
trị, truyền thống dân tộc, văn hóa của các quốc gia, dân tộc đó cùng những
quy luật đặc thù do điều kiện cụ thể đó quy định.
Vì vậy, muốn xây dựng và nâng cao ý thức pháp luật, trước hết phải
nhận thức đúng quy luật hình thành và phát triển của ý thức pháp luật,
những yếu tố ảnh hưởng tới quá trình này, trên cơ sở đó, chúng ta mới có
những giải pháp thúc đẩy quá trình này phát triển tích cực, tạo tiền đề cơ
bản cho việc nâng cao ý thức pháp luật của các công dân trong xã hội.
Trong khi vấn đề đặt ra như vậy thì việc nghiên cứu quy luật và tính
quy luật, lôgíc của quá trình hình thành, phát triển ý thức pháp luật ở nước
ta lại chưa được quan tâm đúng mức. Do đó, chúng tôi chọn đề tài: "Lôgíc
khách quan của quá trình hình thành và phát triển ý thức pháp luật ở
Việt Nam" để nghiên cứu và trình bày thành công trình khoa học nhằm
giành học vị tiến sĩ triết học.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Đến nay, lĩnh vực ý thức pháp luật đã được một số tác giả nghiên
cứu dưới nhiều góc độ và ở những mức độ khác nhau, tùy thuộc vào mục
chỉ có tham vọng bước đầu chỉ ra con đường vận động nội tại tất yếu của ý
thức pháp luật Việt Nam, trên cơ sở đó đưa ra một số giải pháp phù hợp với
sự phát triển của quá trình này trong thời kỳ lịch sử mới, nhằm tạo được
những tiền đề cơ bản góp phần xây dựng và nâng cao ý thức pháp luật ở
nước ta hiện nay.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Từ phạm vi đã xác định trên, mục đích của luận án là: bước đầu
làm rõ lô gíc khách quan của quá trình hình thành và phát triển ý thức
11
pháp luật ở Việt Nam; xuất phát từ lôgíc khách quan đó, nêu ra một số kiến
nghị về giải pháp nhằm góp phần nâng cao ý thức pháp luật và lối sống
theo pháp luật trong xã hội ta hiện nay.
Để thực hiện mục đích trên, luận án có nhiệm vụ:
- Xác định nội hàm của khái niệm "ý thức pháp luật", các đặc điểm
và vai trò của ý thức pháp luật đối với sự phát triển xã hội; chỉ ra những
yếu tố cơ bản ảnh hưởng tới quá trình hình thành và phát triển của ý thức pháp
luật.
- Làm rõ lôgíc khách quan nội tại của quá trình hình thành và phát
triển ý thức pháp luật Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử.
- Từ việc làm rõ những vấn đề đang đặt ra, luận án đề cập một số
giải pháp cơ bản giải quyết những vấn đề đó nhằm thúc đẩy quá trình hình
thành, phát triển ý thức pháp luật Việt Nam vận động theo đúng quy luật của
mình để nâng cao ý thức pháp luật của nhân dân ta trong giai đoạn hiện
nay.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Luận án dựa trên những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt
Nam trong các phần có liên quan đến các nội dung của đề tài.
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận
án gồm 3 chương, 6 tiết.
13
14
Chương 1
Ý THỨC PHÁP LUẬT VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ
ẢNH HƯỞNG TỚI QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN
CỦA Ý THỨC PHÁP LUẬT
1.1. Ý THỨC PHÁP LUẬT - MỘT BỘ PHẬN CẤU THÀNH Ý THỨC
XÃ HỘI
1.1.1. Ý thức pháp luật và cơ cấu của nó
1.1.1.1. Ý thức pháp luật
Ý thức pháp luật là một hình thái của ý thức xã hội trong xã hội có
giai cấp, nó là phản ánh tồn tại xã hội từ góc nhìn pháp luật.
Trong nghiên cứu lý luận cũng như trong thực tế xã hội có nhiều
quan niệm khác nhau về ý thức pháp luật.
Theo quan niệm thông thường, người ta không trình bày ý thức
pháp luật với những dấu hiệu đặc trưng của nó (nội hàm của khái niệm) mà
thường đồng nhất ý thức pháp luật với một trong các biểu hiện cụ thể của
nó - đó là ý thức chấp hành những quy định pháp luật ở một cá nhân hay
tập thể nào đó. Do vậy, căn cứ để đánh giá mức độ cao hay thấp của ý thức
pháp luật là ở mức độ của hành vi mà các chủ thể chấp hành những yêu cầu
của các quy định pháp luật. Quan niệm này giúp cho ta có thể đánh giá
ý thức pháp luật, quan niệm này còn đề cập đến cả nguồn gốc, mối liên hệ
phổ biến, tất yếu của ý thức pháp luật đối với đời sống xã hội. Theo quan
niệm này:
Ý thức pháp luật là một hình thái ý thức xã hội, là tổng
thể những quan điểm, khái niệm, học thuyết pháp lý, tình cảm
của con người (cá nhân, tầng lớp, giai cấp) thể hiện thái độ của
họ đối với pháp luật hiện hành, pháp luật đã qua và pháp luật
16
trong tương lai, về hành vi hợp pháp, hành vi không hợp pháp
của cá nhân, các cơ quan nhà nước, tổ chức [90, tr. 79].
Trên cơ sở tổng hợp các quan niệm về ý thức pháp luật đã nêu ở
trên, có thể rút ra được những dấu hiệu bản chất trong nội hàm của khái
niệm ý thức pháp luật như sau:
- Ý thức pháp luật là một trong những hình thái ý thức xã hội được
quyết định bởi các nhu cầu khách quan của sự phát triển xã hội.
- Ý thức pháp luật là sự phản ánh một cách tích cực và sáng tạo của
con người về tồn tại xã hội từ góc nhìn pháp luật. Vì thế, mặc dù bị quy
định bởi tồn tại xã hội, nhưng trình độ của ý thức pháp luật không chỉ phụ
thuộc trình độ phát triển kinh tế - xã hội, mà còn phụ thuộc vào các nhân tố
chủ quan của con người.
- Quá trình hình thành và phát triển của ý thức pháp luật cũng tuân
theo con đường chung của quá trình nhận thức. Nó cũng xuất phát từ quá
trình nhận thức cảm tính với những xúc cảm, tâm trạng, thái độ, tình cảm
của con người đối với pháp luật và các hiện tượng pháp lý khác. Sau đó, là
quá trình nhận thức lý tính với các khái niệm, quan điểm, học thuyết về các
vấn đề đó.
- Nội dung của ý thức pháp luật là sự thể hiện thái độ của con
Tâm lý pháp luật chính là nấc thang đầu tiên của nhận thức con
người về những vấn đề liên quan đến pháp luật. Sự tồn tại của tâm lý pháp
luật chính là sự thể hiện của tâm lý con người một cách trực diện với các
hiện tượng tồn tại bên ngoài có liên quan đến pháp luật. Tâm lý pháp luật là
kết quả của nhận thức trực tiếp, mang nhiều yếu tố chủ quan.
Về đại thể, tâm lý pháp luật được hình thành như sau: Trong đời
sống pháp luật, hành vi của con người không diễn ra một lần, mà thường
lặp đi lặp lại nhiều lần; từ đó, nảy sinh nhu cầu điều chỉnh các hành vi xử
18
sự của con người. Nhu cầu sử dụng các quy tắc để điều chỉnh hành vi của
con người trong đời sống cộng đồng vốn tồn tại khách quan, nhưng các cá
nhân khác nhau nhìn nhận và nảy sinh tâm lý về nhu cầu đó khác nhau. Do
đó, tâm lý pháp luật hình thành một cách tự phát dưới dạng tình cảm, tâm
trạng, cảm xúc đối với đời sống pháp luật. Từ đó dần dần hình thành nên
những hiểu biết về pháp luật. Chính sự hiểu biết về pháp luật giữ một vai
trò quan trọng trong việc hình thành ý thức pháp luật. Như chúng ta đã biết,
tri thức là phương thức tồn tại của ý thức; sự hình thành và phát triển của ý
thức liên quan mật thiết với quá trình con người nhận thức thế giới, tích lũy
những tri thức, những hiểu biết về thế giới. Không nằm ngoài quy luật này,
ý thức pháp luật cũng chỉ được hình thành trên cơ sở của những tri thức. Tri
thức pháp luật càng đầy đủ thì trình độ của ý thức pháp luật càng cao. Rõ
ràng, với tư cách là chủ thể của các quan hệ pháp luật, công dân cũng như
các cơ quan tổ chức cần phải hiểu rõ quyền và nghĩa vụ của mình để làm
căn cứ cho những quyết định và lựa chọn những gì cần phải làm và những
gì là bị cấm đoán. Đây chính là những cơ sở đầu tiên của hành vi có ý thức,
tự giác tuân theo pháp luật. Tri thức pháp luật đồng thời còn là yếu tố hình
thành tình cảm đối với pháp luật. Đó là sự tin tưởng hay không tin tưởng,
* Mối quan hệ giữa tâm lý pháp luật và hệ tư tưởng pháp luật
Giữa tâm lý pháp luật và hệ tư tưởng pháp luật có quan hệ biện
chứng. Tâm lý pháp luật ra đời một cách tự phát, nhưng nó chịu sự chi phối
của hệ tư tưởng pháp luật. Mức độ xúc cảm, tình cảm pháp luật của cá nhân
phụ thuộc vào đặc điểm và trình độ nhận thức về pháp luật của cá nhân đó.
Ngược lại, sự phát triển của hệ tư tưởng pháp luật cũng chịu ảnh hưởng của
tâm lý pháp luật. Tâm lý pháp luật của cá nhân là tiền đề của những tư
tưởng pháp luật mà cá nhân đó có thể đạt tới, tâm lý pháp luật là nguồn sữa
nuôi sống hệ tư tưởng. Lênin viết: "Thiếu cảm xúc, con người không thể và
không bao giờ tìm kiếm được chân lý" [46, tr. 112]. Điều đó cho thấy việc
20
coi tâm lý pháp luật là giai đoạn thấp và hệ tư tưởng pháp luật là giai đoạn
cao của ý thức pháp luật chỉ là một sự phân chia tương đối. Trong thực tế,
chúng là những bộ phận tồn tại trong mối liên hệ chặt chẽ, tác động qua lại
lẫn nhau, thúc đẩy nhau cùng phát triển.
- Căn cứ vào trình độ nhận thức, ý thức pháp luật được phân chia
thành ý thức pháp luật thông thường và ý thức pháp luật lý luận.
* Ý thức pháp luật thông thường
Ý thức pháp luật thông thường phản ánh mối liên hệ bên ngoài của
hiện tượng pháp luật với tư cách là các sự kiện riêng biệt của hiện thực đời
sống pháp luật. Nó ra đời một cách trực tiếp, tự phát từ hoạt động giao tiếp
hàng ngày, trong quá trình con người sống và va chạm với các sự kiện, hiện
tượng pháp luật. Nó thể hiện kinh nghiệm của chủ thể nhận thức về việc xử
lý các thông tin pháp luật, về khả năng giải thích các sự kiện pháp luật. Nó
mang tính kinh nghiệm là chủ yếu, thiếu sâu sắc và ổn định. Tuy nhiên,
không vì thế mà đồng nhất nó với tâm lý pháp luật cũng như đồng nhất ý
thức pháp luật thông thường với ý thức pháp luật tầm thường, ít có giá trị.
Là tâm lý, tư tưởng pháp luật của mỗi cá nhân trong xã hội. Ý thức
pháp luật của mỗi cá nhân trong xã hội rất phong phú, đa dạng, nó phụ
thuộc vào rất nhiều yếu tố (như điều kiện sống, hoàn cảnh gia đình, môi
trường giáo dục, trình độ học vấn v.v.).
* Ý thức pháp luật giai cấp
Trong xã hội có giai cấp, ý thức pháp luật giai cấp là sự phản ánh vị
thế của từng giai cấp trong xã hội tương ứng. Các giai cấp khác nhau có
những điều kiện sinh hoạt vật chất, lợi ích khác nhau do địa vị xã hội của
mỗi giai cấp quy định, lên ý thức pháp luật của các giai cấp có nội dung và
hình thức phát triển khác nhau, thậm chí đối lập nhau. Ý thức pháp luật của
các cá nhân thuộc một giai cấp nhất định, về bản chất, là biểu hiện mức độ
này hay mức độ khác ý thức giai cấp của họ.
22
* Ý thức pháp luật xã hội
Ý thức pháp luật xã hội là tổng thể những tư tưởng, tình cảm chung
của các cá nhân, các cộng đồng trong xã hội, nó phản ánh những vấn đề của
pháp luật. Ý thức pháp luật này xuất phát từ ý thức pháp luật cá nhân,
nhưng không phải là tổng số giản đơn các năng lực phản ánh của các cá
nhân, mà là một chỉnh thể mới về chất của những ý thức pháp luật cá nhân;
nó được hình thành nhờ sự tác động, cọ xát của ý thức pháp luật cá nhân
với cá nhân, cá nhân với tập thể, với cộng đồng xã hội. Nó toàn diện hơn
rất nhiều so với ý thức pháp luật cá nhân, giai cấp và chịu sự quyết định bởi
ý thức pháp luật của giai cấp thống trị trong xã hội..
Ý thức pháp luật xã hội, ý thức pháp luật giai cấp và ý thức pháp
luật cá nhân có mối liên hệ qua lại với nhau, trong đó mỗi loại ý thức pháp
luật có vai trò, vị trí, đặc điểm khác nhau. Ý thức pháp luật xã hội thể hiện
và phản ánh trong ý thức pháp luật giai cấp, đến lượt mình, ý thức pháp giai
Ý thức pháp luật là sự nhận thức về những vấn đề của pháp luật
trong thực tiễn xã hội. Thông qua nhận thức đó mà con người có được
những tri thức về pháp luật; từ đó, hình thành các quan điểm, quan niệm,
lòng tin về pháp luật. Để thực hiện được quá trình này, chủ thể nhận thức bằng hành động có ý thức, có mục đích của mình - tiến hành phân tích hiện
thực pháp luật và nhận thức được cái bản chất của hiện thực đó. Vậy, quá
trình phát triển của ý thức pháp luật chính là quá trình tăng cường sự nhận
biết, quá trình tích lũy tri thức pháp luật, từ đó, hình thành nên những hành
vi pháp luật.
* Chức năng mô hình hóa
Như trên đã phân tích, từ quá trình nhận thức, tiếp thu những tri
thức về pháp luật, con người thông qua hoạt động của mình để hình thành
nên các mô hình hành vi nhất định (trong thuật ngữ luật học, người ta gọi
24
đó là các quy tắc xử sự chung). Đó là các mô hình cần thiết và tất yếu để
các quan hệ xã hội phát triển có kết quả. Chức năng này được thể hiện rõ
nhất trong các hoạt động hoạch định chính sách, xây dựng pháp luật theo
những ý tưởng, mô hình, dự án định sẵn.
* Chức năng điều chỉnh
Khi con người đã có nhận thức một cách toàn diện, chính xác, bản
chất về đời sống pháp luật đang tồn tại thì quá trình nhận thức tiếp theo là
"từ tư duy trừu tượng trở lại thực tiễn". Lúc này, ý thức pháp luật có tác
dụng chỉ đạo hành vi pháp luật thực tiễn. Nếu ý thức pháp luật đúng thì
hoạt động thực tiễn pháp luật mang tính tích cực, thúc đẩy sự phát triển,
còn ngược lại, hoạt động thực tiễn pháp luật sẽ mang tính tiêu cực, kìm
hãm sự phát triển. Nói trực tiếp hơn, trong lĩnh vực của ý thức pháp luật, có
thể hình dung như sau: từ nhận thức về đời sống pháp luật, ý thức pháp luật
thực hiện chức năng điều chỉnh của mình bằng cách tác động tới hành vi
nét đặc thù, độc lập tương đối so với các hình thái ý thức xã hội khác. Tính
độc lập tương đối của ý thức pháp luật được thể hiện ở những điểm sau:
Thứ nhất, các hình thái ý thức xã hội khác nhau không những phản
ánh trạng thái đang tồn tại của các quan hệ xã hội mà còn phản ánh khuynh
hướng phát triển của nó. Sự phản ánh vượt trước đối với các quan hệ xã hội
phụ thuộc vào trình độ nhận thức các quy luật khách quan. Cùng với khả
năng phản ánh vượt trước đó, ý thức pháp luật cũng có khả năng lạc hậu
hơn so với trình độ phát triển của tồn tại xã hội. Thực tế chứng minh rằng
tồn tại xã hội cũ đã mất đi, nhưng ý thức nói chung, trong đó có ý thức
pháp luật do nó sinh ra vẫn tồn tại dai dẳng trong một thời gian dài - đặc
biệt là trong lĩnh vực tâm lý pháp luật, nơi mà thói quen và truyền thống
đóng vai trò to lớn. Tuy nhiên, trong điều kiện nhất định, tư tưởng pháp
luật, đặc biệt là các tư tưởng pháp luật tiến bộ, khoa học có thể vượt lên
trên sự phát triển của tồn tại xã hội, mở ra con đường phát triển tiếp theo
cho tồn tại xã hội.
26
Thứ hai, ý thức pháp luật có sự tác động qua lại với các hình thái ý
thức xã hội khác. Các hình thái ý thức xã hội đều phản ánh và đánh giá các
hiện tượng xã hội theo cách của mình. Trong quá trình đó, các hình thái ý thức
xã hội tác động lẫn nhau, từ đó, các chủ thể của các hình thái ý thức xã hội
hình thành các hành vi phù hợp. Trong tổng thể các hình thái ý thức xã hội, ý
thức pháp luật có quan hệ gần gũi nhất với ý thức chính trị và ý thức đạo đức.
Nếu ý thức chính trị là sự phản ánh những nguyên tắc trong quan hệ
lẫn nhau giữa các tập đoàn xã hội đối với quyền lực nhà nước thì ý thức
pháp luật lại là những phạm trù phản ánh quan hệ cá nhân với nhà nước với
tư cách là những chủ thể mang quyền lợi và có nghĩa vụ. Tuy khác nhau
như vậy, nhưng chúng lại có quan hệ rất mật thiết, ảnh hưởng và gắn bó lẫn
Từ khi nhà nước xuất hiện, tức là xã hội đã phân chia giai cấp mới
có pháp luật, ý thức pháp luật. Trong xã hội có giai cấp, pháp luật luôn là
pháp luật của giai cấp thống trị, nhưng về mặt ý thức pháp luật, thì tất cả
các giai cấp (cả giai cấp thống trị lẫn giai cấp bị trị) đều có ý thức pháp luật
của riêng mình. Ý thức pháp luật của giai cấp thống trị được thể hiện trong
nội dung, trong hình thức, trong quá trình thực hiện của pháp luật hiện
hành; nó thể hiện quan điểm, tư tưởng, đường lối, chính sách cai trị của giai
cấp thống trị đối với toàn xã hội nhằm phục vụ cho lợi ích của mình. Ý
thức pháp luật của giai cấp bị trị thể hiện thông qua quan điểm, thái độ,
hành vi của họ đối với nhà nước và pháp luật của giai cấp thống trị nhằm
bảo vệ quyền lợi của mình. Như vậy, không có ý thức pháp luật chung cho
mọi giai cấp, ý thức pháp luật của giai cấp nào cũng chứa đựng nét đặc thù
của giai cấp đó. Nó là sự phản ánh những điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội
làm nảy sinh, duy trì sự tồn tại và thúc đẩy sự phát triển hoặc sự diệt vong của
giai cấp tương ứng. Ý thức pháp luật xã hội là ý thức của các giai cấp, tầng
lớp trong xã hội. Trong xã hội có giai cấp chỉ tồn tại một hệ thống pháp luật
phản ánh ý chí của giai cấp nắm quyền lực Nhà nước. Các giai cấp bị trị
chịu ảnh hưởng và tác động bởi ý thức pháp luật của giai cấp thống trị. C.
Mác, Ph. Ăngghen viết: "Giai cấp nào chi phối những tư liệu sản xuất vật
chất thì cũng chi phối luôn cả những tư liệu sản xuất tinh thần, thành thử
28
nói chung tư tưởng của những người không có tư liệu sản xuất tinh thần
cũng đồng thời bị giai cấp thống trị đó chi phối " [54, tr. 66].
C.Mác đã khái quát về tính giai cấp của ý thức pháp luật trong xã
hội tư bản như sau:
Bản thân những tư tưởng của các người là sản phẩm của
những quan hệ sản xuất tư bản và quan hệ sở hữu tư bản, cũng
sống xã hội. Sự tác động đó thể hiện như sau:
Thứ nhất, đời sống xã hội muốn phát triển bền vững, trước hết phải
có ổn định. Ý thức pháp luật thể hiện qua hệ thống pháp luật là nhân tố
quan trọng trong việc tổ chức, quản lý xã hội, duy trì xã hội trong vòng trật
tự, ổn định để phát triển.
Thứ hai, trong sự phát triển của đời sống xã hội thì kinh tế bao giờ
cũng giữ vai trò quyết định. Sự phát triển của đời sống kinh tế sẽ kéo theo
nó sự phát triển của đời sống xã hội nói chung. Trong quá trình phản ánh
đời sống kinh tế, ý thức pháp luật có thể góp phần khuyến khích phát triển
những yếu tố tích cực và hạn chế (hoặc loại trừ) những quá trình, những
yếu tố tiêu cực trong sự vận hành của cơ chế kinh tế. Chẳng hạn, để tạo
điều kiện cho sự cạnh tranh lành mạnh, phải có tư tưởng về sự cần thiết
phải có đạo luật chống độc quyền; để khuyến khích phát triển kinh doanh
thì phải ý thức về sự cần thiết của đạo luật bảo vệ người tiêu dùng; để
chống khai thác triệt để tài nguyên thiên nhiên, phải thấy sự cần thiết có
đạo luật bảo vệ môi trường... Qua đó cho thấy, khi ý thức pháp luật phát
triển, với một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh sẽ tạo điều kiện cho các quan
hệ kinh tế ra đời và phát triển. Mặt khác, chính sự ra đời và phát triển của
các quan hệ kinh tế lại tạo ra những nhu cầu khách quan để hoàn thiện hệ
thống pháp luật, tạo ra môi trường pháp lý thuận lợi cho kinh tế và cho xã
hội phát triển.