Nghiên cứu khả năng tăng sinh của tế bào gốc mỡ và ảnh hưởng của chúng đến tế bào da nuôi cấy định hướng trong điều trị vết thương - Pdf 40

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-------------------------

ĐOÀN HOÀNG THU

NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG TĂNG SINH CỦA TẾ BÀO
GỐC MỠ VÀ ẢNH HƢỞNG CỦA CHÚNG ĐẾN TẾ
BÀO DA NUÔI CẤY ĐỊNH HƢỚNG TRONG ĐIỀU
TRỊ VẾT THƢƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Hà Nội – 2014


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-------------------------

ĐOÀN HOÀNG THU

NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG TĂNG SINH CỦA TẾ
BÀO GỐC MỠ VÀ ẢNH HƢỞNG CỦA CHÚNG ĐẾN
TẾ BÀO DA NUÔI CẤY ĐỊNH HƢỚNG TRONG ĐIỀU
TRỊ VẾT THƢƠNG

Chuyên ngành : Sinh học thực nghiệm
Mã số

: 60420114

Đoàn Hoàng Thu


MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ........................................................... Error! Bookmark not defined.
Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU ....................... Error! Bookmark not defined.
1.1. Các tế bào chủ yếu tham gia liền vết thƣơng . Error! Bookmark not defined.
1.2. Công nghệ mô – tế bào làm lành vết thƣơng . Error! Bookmark not defined.
1.2.1. Tổn thƣơng da và nhu cầu chế tạo chế phẩm điều trị vết thƣơng ....... Error!
Bookmark not defined.
1.2.2. Một số loại tế bào và vật liệu điều trị vết thƣơng từ nuôi cấy tế bào . Error!
Bookmark not defined.
1.3. Vai trò tế bào gốc trong liền vết thƣơng ........ Error! Bookmark not defined.
1.4. Tế bào gốc trung mô từ mô mỡ ..................... Error! Bookmark not defined.
Chƣơng 2: ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨUError! Bookmark
not defined.
2.1. Đối tƣợng, nguyên - vật liệu nghiên cứu ....... Error! Bookmark not defined.
2.1.1. Đối tƣợng nghiên cứu ................................ Error! Bookmark not defined.
2.1.2. Hóa chất cơ bản cho nghiên cứu ................. Error! Bookmark not defined.
2.1.3. Trang thiết bị và vật tƣ ................................ Error! Bookmark not defined.
2.2. Phƣơng pháp nghiên cứu: .............................. Error! Bookmark not defined.
2.2.1. Thu mô mỡ và phân lập tế bào ................... Error! Bookmark not defined.
2.2.2. Nhân rộng tế bào ......................................... Error! Bookmark not defined.
2.2.3. Xác định số lƣợng tế bào: ........................... Error! Bookmark not defined.
2.2.4. Xác định khả năng tạo dòng (colony) của tế bàoError!

Bookmark

not


4.1. Về đặc điểm tế bào phân lập .......................... Error! Bookmark not defined.
4.2. Tinh lọc tế bào, đặc điểm hình thái và khả năng tạo colony ................. Error!
Bookmark not defined.
4.3. Ảnh hƣởng của tế bào gốc mỡ lên tế bào da nuôi cấy . Error! Bookmark not
defined.
4.3.1. Ảnh hƣởng của tế bào gốc tới nguyên bào sợi daError!

Bookmark

not

defined.
4.3.2. Ảnh hƣởng của tế bào gốc mô mỡ đến tế bào sừngError! Bookmark not
defined.
4.4. Chế phẩm tấm tế bào gốc trên giá đỡ ............ Error! Bookmark not defined.
KẾT LUẬN ............................................................... Error! Bookmark not defined.
KIẾN NGHỊ ..............................................................................................................60


DANH MỤC BẢNG
Bảng 1. Khả năng tạo dòng của tế bào mới tách ra từ mô mỡ (n=5) ................ Error!
Bookmark not defined.
Bảng 2. Khả năng tạo CFU-F theo các thế hệ tế bào (n=5)Error! Bookmark not
defined.
Bảng 3. Ảnh hƣởng của tế bào gốc đến tăng sinh nguyên bào sợiError! Bookmark
not defined.
Bảng 4. Thời điểm nguyên bào sợi gia tăng số lƣợng khi có tấm tế bào gốc .......... Error!
Bookmark not defined.
Bảng 5. Tỷ lệ sống của nguyên bào sợi sau khi trypsinError!


not defined.
Hình 11. Các đĩa colony sau khi nhuộm giemsa ....... Error! Bookmark not defined.
Hình 12. Biểu đồ so sánh số lƣợng tế bào thu đƣợc giữa các thí nghiệm đồng nuôi
cấy tấm tế bào gốc mô mỡ với nguyên bào sợi ở ngày thứ 2.Error! Bookmark not
defined.
Hình 13. Tác động của tấm tế bào gốc mô mỡ lên sự tăng sinh của nguyên bào sợi
(50X) ......................................................................... Error! Bookmark not defined.
Hình 14. Sự gia tăng số lƣợng nguyên bào sợi theo thời gian.Error! Bookmark not
defined.
Hình 15. So sánh số lƣợng tế bào thu đƣợc giữa các thí nghiệm đồng nuôi cấy tấm
tế bào gốc với tế bào sừng ......................................... Error! Bookmark not defined.


Hình 16. Tác động của tấm tế bào gốc mô mỡ lên sự tăng sinh của tế bào sừng .. Error!
Bookmark not defined.
Hình 17. Tế bào sừng độ che phủ đạt 100

, tế bào sừng hình ovan và đa diện mọc

dày xếp khít nhau ngay trƣớc khi tạo vết cạo để đồng nuôi cấy với tấm tế bào gốc
mỡ và tấm nguyên bào sợi (50X). ............................. Error! Bookmark not defined.
Hình 18. Ảnh hƣởng của tế bào gốc mỡ lên di cƣ và biệt hóa của tế bào sừng (50X).
................................................................................... Error! Bookmark not defined.

Hình 19. So sánh hình thái tế bào gốc mô
mỡ…………………………….Error! Bookmark not defined.
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

AB


ITS-X

Insulin, Transferin, Selen - X

KGF

Keratinocyte Growth Factor - Yếu tố tăng trƣởng tế bào sừng

MCS

Mesenchymal stem cells - Tế bào gốc trung mô

P

Passage- Cấy chuyển

PBS

Phosphat Buffer Saline - Dung dịch đệm phosphat

PDGF

Pletelet-Derived Growth Factor


TB

Tế bào

TGF

nhiều dòng khác nhau. Mô mỡ là loại mô có sẵn với số lƣợng lớn và dễ dàng thu
hồi nên đây là nguồn tế bào đầy hứa hẹn cho y học tái tạo trong tƣơng lai có thể
sử dụng để ghép tự thân và đặc biệt là không gặp phải những vấn đề y đức. Đối
với lĩnh vực nghiên cứu liền vết thƣơng thấy rằng, tế bào gốc mô mỡ là một
trong những dạng tế bào quan trọng di cƣ đến vùng tổn thƣơng để thực hiện
nhiều khâu trong pha tăng sinh của quá trình liền vết thƣơng.


Tế bào gốc trung mô đã đƣợc nghiên cứu tách từ mô mỡ nhƣng trong
thành phần tế bào đƣợc tách còn nhiều dạng tế bào khác nhƣ bạch cầu, hồng
cầu…Tỷ lệ tế bào gốc trung mô thay đổi nên khó xác định chính xác cần sử dụng
bao nhiêu tế bào là cần thiết và bao nhiêu tế bào trong hỗn dịch tế bào mới tách
là đủ để cho một lần ghép điều trị vết thƣơng. Do đó, cần nghiên cứu xây dựng
hoàn chỉnh quy trình tách và tinh lọc tế bào gốc trung mô. Nếu nhƣ các tế bào
gốc trung mô tách ra lại có tác dụng kích thích tăng sinh hoặc di cƣ của 2 loại tế
bào chủ yếu của da thì đó sẽ là cơ sở khoa học cần thiết cho việc tiếp tục các
nghiên cứu ứng dụng tế bào gốc mô mỡ trên lâm sàng và định hƣớng cho các
nghiên cứu chế tạo các chế phẩm sinh học phục vụ điều trị các tổn thƣơng thuộc
hệ thống trung mô đặc biệt là vết thƣơng và vết bỏng.
Ngày nay, nhu cầu điều trị vết thƣơng bằng ghép tế bào gốc là rất lớn, cụ
thể tại Mỹ với 260 triệu dân thì hàng năm có khoảng 6,5 triệu ngƣời mang các
vết thƣơng mạn tính. Hàng năm tại miền tây Châu Âu có khoảng 150.000 ngƣời
cần đƣợc điều trị bằng da nhân tạo. Riêng tại Đức có khoảng 3 triệu ngƣời bị loét
và chi phí lên tới hơn 1 tỷ Euro dành cho điều trị.
Tại Việt Nam hàng năm ƣớc tính khoảng 791.000 ngƣời gặp tai nạn về
bỏng [8]. Tuy chƣa có con số thống kê cụ thể nhƣng chỉ tính riêng tại Viện Bỏng
Quốc Gia, hàng năm có khoảng 5000 bệnh nhân bỏng điều trị thì nhu cầu về
ghép da cũng đã chiếm khoảng 2500 bệnh nhân
Xuất phát từ những cơ sở khoa học và tiềm năng ứng dụng của tế bào gốc
mỡ, chúng tôi tiến hành nghiên cứu: “Nghiên cứu khả năng tăng sinh của tế

myofibroblasts tạo nên sự co rút và liền vết thƣơng nhanh hơn. Nguyên bào sợi
còn tham gia vào giai đoạn sửa chữa sẹo diễn ra trong nhiều năm sau khi vết
thƣơng. Ngày thứ 2 sau khi bị thƣơng bị bỏng, nguyên bào sợi xuất hiện ở vết
thƣơng do sự dịch chuyển từ mô liên kết bên cạnh. Sản xuất các siêu sợi actin


của cơ trơn chuyển nguyên bào sợi thành myofibroblast, gây co kéo làm hẹp vết
thƣơng (1-2 mm/24 giờ). Tổng hợp men Metalloproteinase, collagenase gây
thoái huỷ protein khoảng kẽ; men Stomalysin thoái huỷ protein màng nền. Điều
hoà tổng hợp và thoá biến collagen thông qua FGF-, TGF-. Sắp xếp collagen
theo cấu trúc mô. Trong khoảng thời gian từ 5-7 ngày, các nguyên bào sợi tăng
sinh, và đƣợc kích thích tiết PDGF, TGF-beta để điều khiển quá trình tổng hợp
và lắng đọng các thành phần đệm gian bào bao gồm: fibronectin, laminin,
glycosaminoglycans (GAGs) và collagen. Nguyên bào sợi còn tham gia vào giai
đoạn sửa chữa sẹo diễn ra trong nhiều năm sau khi vết thƣơng đã liền.
Tế bào sừng (Keratinocytes) tạo nên lớp biểu bì bảo vệ cơ thể. Biểu bì
gồm nhiều lớp tế bào biểu mô lát tầng sừng hóa, thành phần chính là các tế bào
sừng gồm nhiều lớp tế bào sắp xếp chặt chẽ với nhau [1]. Lớp mầm hay còn gọi
là lớp đáy chứa các tế bào gốc biểu bì có khả năng tự tồn tại, tự tái sinh nhiều lần
và nhanh trong suốt cuộc sống của con ngƣời. Giữa các tế bào sừng có các cầu
nối gian bào làm kết nối chặt chẽ giữa chúng với nhau. Các tế bào lớp đáy có cấu
trúc cầu nối khác với các lớp ở trên, chúng có thể dễ dàng bị xoá bỏ và cũng tự
tái tạo lại để các tế bào sừng mới sinh ra di chuyển lên trên tạo ra các lớp tế bào
biệt hoá ở phía trên. Trong các tế bào của lớp mầm biểu bì thì chỉ có 10

là tế

bào mầm biểu bì còn lại là các tế bào đang ở các giai đoạn gián phân. Bình
thƣờng sự phân chia tế bào sừng lớp mầm cân bằng với sự sừng hoá bong vảy
của biểu bì nhƣng khi da bị tổn thƣơng thì chúng tăng cƣờng phân chia để tạo ra

cơ quan bảo vệ cơ thể trƣớc các tác động với môi trƣờng xung quanh. Da bảo vệ
các cơ quan phía dƣới da và bảo vệ cơ thể chống lại các mầm bệnh và vi sinh
vật. Da trực tiếp tiếp xúc với các yếu tố độc hại tiềm tàng nhƣ vi khuẩn, nhiệt,
các tác động cơ học và hóa học. Trong 25 năm qua, các cố gắng lớn đã tạo ra các
vật liệu thay thế mang tính bắt chƣớc da ngƣời [50]. Ở da công nghệ mô, các vật
liệu tổng hợp hay sinh học đƣợc kết hợp với các tế bào nuôi cấy để tạo ra các mô
có chức năng của da [74].
Các vật liệu thay thế da này đƣợc chế tạo dựa trên các tiến bộ về công nghệ
mô và đã đƣợc ứng dụng trong lâm sàng, chúng thúc đẩy sự liền vết thƣơng cấp
và mạn tính và đƣợc sử dụng nhƣ một cơ quan phức hợp cho hệ thống thử
nghiệm cơ bản hoặc các nghiên cứu về dƣợc [59]. Một vấn đề chính trong việc tăng
sinh tế bào là đáp ứng yêu cầu cần đạt đủ số lƣợng các tế bào cần thiết, trong khi
vẫn đảm bảo đƣợc tính chất bình thƣờng của tế bào và cả chức năng của chúng. Các
tế bào này sau đó chỉ đƣợc sử dụng cho các mục đích hoặc là tạo vật liệu thay thế da
phù hợp cho cấy ghép hoặc là cho các thử nghiệm in vitro [27], [66].

Có rất nhiều lý do gây nên tổn thƣơng da bao gồm các hội chứng do gen,
chấn thƣơng cấp tính, vết thƣơng mạn tính hoặc các can thiệp ngoại khoa. Một
trong các lý do phổ biến nhất là tổn thƣơng da do bỏng. Ngay khi da bị tổn
thƣơng, hàng loạt các vấn đề phức hợp bắt đầu diễn ra: các tế bào miễn dịch bị
lôi kéo tới vùng thƣơng tổn, mô đệm mới đƣợc sinh ra bởi nguyên bào sợi, tiếp
theo là tái biểu mô hóa do tế bào sừng đảm nhiệm và cuối cùng là sự tái phân bố
mạch của vết thƣơng [54]. Quá trình liền vết thƣơng phức tạp này đƣợc kích
thích và kiểm soát bởi các cytokine và các yếu tố tăng trƣởng khác nhau [25].
Kích thƣớc vết thƣơng là yếu tố chủ đạo cho biểu mô hóa. Tổn thƣơng toàn bộ
lớp da với kích thƣớc lớn hơn 1 cm đƣờng kính thì cần phải ghép da để đề phòng


tạo sẹo dẫn đến di chứng về chức năng hay thẩm mỹ [55]. Mảnh ghép hoàn hảo
nên phải sẵn có, không gây đáp ứng miễn dịch, che phủ và bảo vệ nền vết


một tổ chức hoàn toàn tổng hợp mang đến bởi sự kết hợp tế bào từ 3 nguồn gốc
phôi gồm ngoại bì trung bì và ống thần kinh. Những thành công hiện đại về tạo
ra những sản phẩm thay thế da đã trở nên bị hạn chế hơn so với mong đợi và bây
giờ những sản phẩm da công nghệ mô đang đƣợc mô tả nhƣ vật liệu thay thế da
giúp liền vết thƣơng và sửa chữa, thay thế da tạm thời và thƣờng hỗ trợ cho việc
tái sinh. Quá trình liền vết thƣơng, vết bỏng có nhiều cơ chế phức tạp nhƣng kết
quả cuối cùng là tái lập các mô tế bào đã bị tổn thƣơng. Do đó, quan niệm mới
trong điều trị các tổn thƣơng ở bất cứ cơ quan nào trên cơ thể là các tế bào tổn
thƣơng phải đƣợc thay thế bằng các tế bào khỏe mạnh [4].
Cho đến ngày nay, ngƣời ta đã chế tạo đƣợc các tấm nguyên bào sợi, tấm tế
bào sừng, thậm chí cả các tấm vật liệu chứa cả hai loại tế bào trên mà ngƣời ta
gọi là các vật liệu tƣơng đƣơng da hoặc da nhân tạo…[57], [70]. Tuỳ theo nguồn
gốc tế bào sừng trên tấm vật liệu là tự thân hay khác gen đồng loài (gọi tắt là
đồng loài) mà ngƣời ta chế đƣợc vật liệu có tính chất vĩnh viễn (không thải ghép)
hoặc tạm thời.
Các tấm tế bào da nuôi cấy hoặc vật liệu tƣơng đƣơng da đƣợc ứng dụng
trong điều trị bỏng, vết thƣơng mạn tính trong thẩm mỹ và nghiên cứu thuốc….
So với ghép da tử thi, các vật liệu này có thuận lợi lớn là không phụ thuộc nguồn
da ngƣời cho, việc sản xuất chúng gần nhƣ vô hạn và hầu nhƣ không có nguy cơ
lây nhiễm bệnh do có thể kiểm soát trƣớc đƣợc nguồn cho tế bào bằng các xét
nghiệm tầm soát các bệnh lây truyền qua ghép mô/tế bào. Có hai thành phần
chính của vật liệu tƣơng đƣơng da là thành phần khuôn và thành phần tế bào.
Thành phần khuôn hay đƣợc sử dụng là collagen, acid hyaluronic, polymer tổng
hợp hoặc sinh tổng hợp. Thành phần tế bào bao gồm các tế bào da nhƣ nguyên
bào sợi, tế bào sừng là hai tế bào chủ yếu, ngoài ra có thể có tế bào sắc tố… Đã
có những sản phẩm thƣơng mại sẵn có trên thị trƣờng nhƣ Epicell, Integra,
Transcyte, Apligraft, Dermagraft…



trọng cho các tế bào biểu bì phát triển và trƣởng thành chúng tiết ra các yếu tố
nhƣ các sợi fibrin gắn kết, các yếu tố kết dính để gắn biểu bì vào trung bì. Vết
bỏng sâu thiếu các thành phần trung bì hoặc lớp trung bì chƣa hình thành hoặc
hình thành chậm. Cần thiết phải tạo ra một lớp trung bì mới để tạo điều kiện cho
da ghép tự thân hoặc tế bào sừng nuôi cấy che phủ lên vết thƣơng cho kết quả tối
ƣu nhất [40]. Hiện nay, các nhà nghiên cứu đều cho rằng, vật liệu thay thế da lý
tƣởng nhất là phải thay thế đƣợc cả lớp trung bì và biểu bì. Sự tƣơng tác giữa
các yếu tố thuộc lớp biểu bì và trung bì sẽ kích thích sự trƣởng thành của từng
lớp. Boyce và Hansbrough đã tạo ra vật liệu thay thế da hỗn hợp (composite
subtitues) gồm nguyên bào sợi ngƣời nuôi cấy đƣợc cấy lên tấm màng collagenglycosaminoglycan sau đó cho tế bào sừng phát triển lên trên, vật liệu này đã
đƣợc thử nghiệm thành công trên mô hình chuột, nhƣng còn một số hạn chế khi
thử nghiệm lâm sàng. Một xu hƣớng khác, đơn giản hơn và không đòi hỏi cao về
công nghệ đó là sử dụng fibroblasts nuôi cấy đƣa lên vết thƣơng. Nguyên bào
sợi sẽ tổng hợp các thành phần của trung bì, tạo điều kiện cho việc ghép da tự
thân hoặc cấy ghép tế bào sừng thành công [33], [40], [70].
Để điều trị bỏng sâu, cả lớp biểu bì và lớp trung bì của da cần đƣợc thay
thế, việc điều trị bằng tấm tế bào biểu bì đơn thuần sẽ dẫn đến chất lƣợng liền
vết thƣơng thấp. Tƣơng phản với tấm biểu bì nuôi cấy, các cấu trúc trung bì từ
công nghệ có thể dự phòng co kéo vết thƣơng và tạo ra tính bền vững cơ học tốt
hơn. Vật liệu tƣơng đƣơng trung bì và biểu bì phải đƣợc ghép kế tiếp nhau việc
làm cho tuần hoàn hóa trung bì tốt sau khi loại bỏ nền vết thƣơng là cần thiết
trƣớc khi ghép lớp biểu bì [35]. Một số vật liệu này là mảnh ghép đồng loại đã
đƣợc xử lý bằng hóa chất, ví dụ Alloderm không có thành phần tế bào gây ra đáp
ứng miễn dịch thải ghép [77]. Ngƣợc lại, Dermagraft lại có các nguyên bào sợi
từ da bao quy đầu của ngƣời đƣợc nuôi cấy trên lƣới polyglactin có khả năng
giáng hóa [72]. Trong các vật liệu này, các tế bào tiết protein đệm gian bào, hàng


loạt các yếu tố tăng trƣởng và cytokin vào trong vết thƣơng cho đến khi chúng
trải qua quá trình tự hủy bình thƣờng sau vài tuần ghép.

MSC làm nhanh quá trình liền vết thƣơng là do ít nhất có 2 cách thức khác nhau
bao gồm thông qua tăng biệt hóa tế bào và thông qua các tín hiệu ngoại lai. Các
MSC tủy xƣơng đã đƣợc báo cáo là có thể biệt hóa thành tế bào sừng trong các
nghiên cứu có sử dụng EGFP [82]. Trong các vết thƣơng này, một phần trăm các
tế bào có biểu hiện EGFP dƣơng tính ở cả trung bì và biểu bì cũng có biểu hiện
với keratin vốn là marker chuyên biệt của tế bào sừng. Tuy nhiên, với tỷ lệ đƣợc
đƣa ra là quá thấp nên MSC vẫn chƣa đƣợc coi chắc chắn là có trách nhiệm đối
với quá trình sửa chữa mô thông qua tăng biệt hóa chuyển dạng và tái sinh hoặc
phá hủy mô [58], [82]. Những chứng cớ tích cực hơn cũng đã cho thấy, MSC có
thể thúc đẩy liền vết thƣơng thông qua các tín hiệu ngoại lai đƣợc tiết ra mà cải
thiện các đáp ứng với tổn thƣơng của các tế bào da cƣ trú tại đó. Các báo cáo gần
đây bắt đầu xác định những tƣơng tác ngoại lai này giữa MSC và các dạng tế bào
chuyên biệt khác trong vết thƣơng da [15], [22], [81]. Khi nghiên cứu các vết
thƣơng đƣợc điều trị bằng dịch nổi nuôi cấy MSC (dịch chiết ngoại bào MSC),
các tác giả nhận thấy dịch chiết ngoại bào MSC đã làm vết thƣơng nhanh đóng
kín và nó tăng hấp dẫn với các đại thực bào và các tế bào nội mô đầu dòng thâm
nhập đến vết thƣơng [22] và các thí nghiệm in vitro chỉ ra rằng dịch ngoại bào
MSC cũng thúc đẩy tế bào sừng và tế bào nội mô tăng sinh. Hơn nữa, MSC tủy
xƣơng còn tiết ra các chất hóa ứng động với đại thực bào, tế bào sừng và các tế
bào nội mô. Các quan sát này rõ ràng chỉ ra rằng MSC tủy xƣơng là một nguồn
các tín hiệu ngoại lai có tác dụng điều khiển các đáp ứng tế bào quan trọng trong
sửa chữa vết thƣơng da.
Do đó, một trong những hƣớng nghiên cứu khác trong điều trị vết thƣơng
là sử dụng các tế bào gốc. Ngƣời ta thấy chúng đảm nhiệm việc đánh giá sự thiếu
hụt sinh lý học về các thành phần đệm và các cytokine, chúng sửa chữa các thiếu


hụt đó bằng cách tạo ra những yếu tố thích hợp thúc đẩy liền vết thƣơng. Điều
này có nghĩa là tế bào gốc hoạt động nhƣ một cỗ máy có kiểm soát tƣơng tác các
thông tin ngƣợc một cách thông minh có thể tự điều chỉnh hệ thống sinh học.

trong nuôi cấy có biểu hiện protein không phải của ngƣời và giả thiết đặt ra là có
thể từ protein chuột từ fibroblasts chuột của lớp nuôi (feeder layer), do đó tính an
toàn của tế bào gốc phôi còn phải tiếp tục nghiên cứu [51].
Một số nguồn tế bào gốc khác nhau từ máu cuống rốn, tế bào gốc máu
ngoại vi và tuỷ xƣơng cũng đang đƣợc nghiên cứu [19], [32], [37], [75]. Một
nghiên cứu trên in vivo chỉ ra rằng sự tổng hợp collagen và mức độ bFGF và
VEGF trong tế bào Stroma của tuỷ xƣơng cao hơn rất nhiều so với fibroblasts
trung bì. Điều này gợi ý khả năng sử dụng tế bào tuỷ xƣơng tại chỗ vết thƣơng
để thúc đẩy liền vết thƣơng.
Một nghiên cứu trên in vivo chỉ ra rằng sự tổng hợp collagen và mức độ
bFGF và VEGF trong tế bào Stroma của tuỷ xƣơng cao hơn rất nhiều so với
fibroblasts trung bì. Điều này gợi ý khả năng sử dụng tế bào tuỷ xƣơng tại chỗ
vết thƣơng để thúc đẩy liền vết thƣơng [32].
Tuy nhiên có tác dụng liền vết thƣơng vết bỏng nhƣng các nguồn tế bào
gốc từ các mô của cơ thể nhƣ máu tuỷ xƣơng, máu ngoại vi, máu cuống rốn, não,
mỡ, gan… đều rất hạn chế về số lƣợng nên tính ứng dụng chƣa cao. Trong khi
đó, khai thác các nguồn tế bào gốc trung mô trƣởng thành cũng đang là một
trong những hƣớng nghiên cứu điều trị vết thƣơng. Ngoại trừ các trƣờng hợp
ghép tế bào gốc trung mô đồng loại vốn sẵn có nguồn tế bào rất trẻ nhƣ tế bào
gốc trung mô từ màng ối, dây rốn và máu cuống rốn thì đối với các trƣờng hợp
ghép tế bào gốc trung mô tự thân chỉ có thể lấy từ 2 nguồn chính là tủy xƣơng và
mô mỡ, các nguồn khác từ mô gan, não và cơ hầu nhƣ không có khả năng ứng
dụng trong điều trị vết thƣơng. Nguồn tế bào gốc từ tuỷ xƣơng chủ yếu là tế bào
gốc tạo máu đã và đang đƣợc ứng dụng trong điều trị các bệnh về cơ quan tạo
máu nhƣng chúng có rất ít các tế bào trung mô vốn tham gia vào việc tái tạo vết


thƣơng. Tuy có một số nghiên cứu cho thấy tế bào gốc trung mô tủy xƣơng làm
tăng khả năng liền vết thƣơng mạn tính nhƣng tính ứng dụng chƣa cao bởi rất
hạn chế về số lƣợng tế bào trung mô. Do đó tế bào gốc trung mô từ mô mỡ đƣợc

CMRL1066... ngay DMEM thì cũng có tác giả dùng môi trƣờng cơ bản là
DMEM có hàm lƣợng glucose cao nhƣng có tác giả dùng môi trƣờng có hàm
lƣợng glucose thấp, hoặc nhƣ thành phần các yếu tố bổ sung cũng chƣa thống
nhất... Khối tế bào thu đƣợc có thành phần tế bào khác nhau gồm tế bào gốc
trung mô, tế bào máu... có tác giả sử dụng nguyên khối tế bào sau khi phân lập
để điều trị vết thƣơng nhƣng cũng có tác giả sử dụng có chọn lọc chỉ tế bào gốc
trung mô thuần nhất... Cách thức sử dụng tế bào để tăng tối đa hiệu quả các lần
ghép điều trị vết thƣơng cũng khác nhau, có tác giả dùng khối tế bào tiêm vào
vết thƣơng, có tác giả phun hỗn dịch tế bào lên vết thƣơng nhƣng cũng có tác giả
nuôi cấy tế bào gốc trung mô trên giá đỡ và ghép vào bề mặt vết thƣơng. Chính
vì các lý do trên mà cần có những nghiên cứu đánh giá để xây dựng nên quy
trình phù hợp cũng nhƣ tiêu chuẩn khối tế bào dùng điều trị cũng nhƣ chỉ định
hay cách thức sử dụng tế bào gốc trung mô trong điều trị vết thƣơng.
Hiện nay, có rất nhiều nghiên cứu và ứng dụng của tế bào gốc mỡ đối với
các bệnh liên quan đến liền vết thƣơng. Theo Hyoju Kim và cộng sự (2012) điều
trị bằng laser công suất thấp với cấy ghép tế bào gốc mỡ trên chuột hủy miễn
dịch. Nhóm tác giả cho rằng sự kết hợp này tăng cƣờng phản ứng của tế bào về
biểu hiện gen và sự bài tiết của các yếu tố tăng trƣởng và phát triển tế bào thông
qua màng ty thể, giúp tăng đáng kể số lƣợng nang lông và tuyến bã nhờn[39].
Sheng-Ping Huang (2013), trên chuột Sprague-Dawley bị gây loét bằng chùm tia
điện tử sau đó đƣợc điều trị bằng ghép tế bào gốc mỡ. Kích thƣớc vết thƣơng sau
khi điều trị nhỏ hơn đáng kể sau 3 tuần. Tác giả cho rằng tế bào gốc mỡ có liên
quan với sự phát triển của các mạch máu mới [69]. Ann Katharin Reckhenrich
và cộng sự (2014), chậm liền vết thƣơng và hình thành sẹo là một trong những
biến chứng thƣờng gặp nhất sau khi can thiệp phẫu thuật. Do vậy sử dụng tế bào



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status