A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Ca dao, dân ca là “ tiếng hát từ trái tim lên miệng”. Thơ ca trữ tình dân gian
phát triển và tồn tại để đáp ứng những nhu cầu bộc lộ tình cảm, cảm xúc của
nhân dân. Nó đã, đang và sẽ ngân vang mãi trong tâm hồn con người Việt Nam.
“ Và nay mai, đến khi chủ nghĩa cộng sản thành công, thì câu ca dao Việt nam
vẫn rung động lòng người Việt Nam hơn hết”. (Lê Duẩn)
Trong “Bình luận văn chương”, nhà xuất bản Giáo dục Hà Nội 1998, nhà
phê bình văn học Hoài Thanh viết: “Văn chương sẽ là hình dung của sự sống
muôn hình vạn trạng. Chẳng những thế, văn chương còn sáng tạo ra sự sống.
[…] văn chương gây cho ta những tình cảm ta không có, luyện những tình cảm
ta sẵn có: cuộc đời phù phiếm và chật hẹp của cá nhân vì văn chương mà trở
nên thâm trầm và rộng rãi đến trăm nghìn lần”.
Trong “Tiếng nói của Văn nghệ” - tuyển tập III - Nhà xuất bản văn học Hà
nội 1997, Nguyễn Đình Thi cũng viết: “ Tác phẩm nghệ thuật vừa là kết tinh
của tâm hồn người sáng tác, vừa là sợi dây truyền cho mọi người sự sống mà
nghệ sĩ mang trong lòng. […] Nghệ thuật không đứng ngoài trỏ vẽ cho ta đường
đi. Nghệ thuật vào đốt lửa trong lòng chúng ta, khiến chúng ta phải tự bước lên
đường ấy. Bắt rễ ở cuộc đời hằng ngày của con người, văn nghệ lại tạo được sự
sống cho tâm hồn con người. Nghệ thuật mở rộng khả năng của tâm hồn, làm
cho con người vui buồn nhiều hơn, yêu thương và căm hờn được nhiều hơn, tai
mắt biết nhìn, biết nghe thêm tế nhị, sống được nhiều hơn”.
Xuất phát từ giá trị vô cùng to lớn của tác phẩm văn chương nói chung và
những bài ca dao nói riêng, người giáo viên dạy Ngữ văn qua mỗi giờ dạy ca
dao, cần chú trọng việc đổi mới phương pháp giảng dạy, nhằm rèn và bồi dưỡng
cho học sinh những phẩm chất và năng lực nhất định. Mỗi bài ca dao hay, được
cảm nhận đúng đắn, tích cực sẽ góp phần rất lớn vào việc hình thành và phát
triển nhân cách, bồi dưỡng tâm hồn, khơi gợi những tình cảm tốt đẹp như tình
cảm gia đình, tình yêu quê hương đất nước, biết đồng cảm với những cảnh đời,
số phận éo le… Từ đó nhằm phát huy thiên chức kỳ diệu của Văn học là khơi
gợi trong tâm hồn người học những cảm xúc mới mẻ, những tìn cảm đẹp đẽ, về
tình yêu con người, tình yêu quê hương đất nước, thắp lên trong tâm hồn các em
dụng giảng dạy trong tổ Ngữ Văn thuộc Cụm chuyên môn và đã mang lại những
hiệu quả nhất định.
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ
1. Các khái niệm và giải thích khái niệm
1.1. Khái niệm “Ca dao”
Ca dao, dân ca là những khái niệm tương đương, chỉ các thể loại trữ tình
dân gian, kết hợp lời và nhạc, diễn tả đời sống nội tâm của con người.
Hiện nay, người ta phân biệt hai khái niệm “dân ca” và “ca dao”. “Dân ca”
là những sáng tác kết hợp lời và nhạc, tức là những câu hát dân gian trong diễn
xướng. Ca dao là lời thơ của dân ca. Khái niệm “ca dao” còn được dùng để chỉ
một thẻ thơ dân gian – thể ca dao.
1.2. Khái niệm "Bình giảng ca dao"
Trong phân tích một bài ca dao, một việc làm không thể thiếu đó là bình
giảng ca dao. Bình ở đây có nghĩa là bình luận, nhận xét, đánh giá. Bình có thể
khen hay chê hoặc vừa khen vừa chê. Trong khi bình, không nên nặng về khen,
khen quá lời, mòn sáo, kém hiệu quả. Cái hay của tác phẩm không chỉ được
nhận xét đấnh giá mà còn được thể hiện trong cách đọc diễn cảm tác phẩm.
Vậy khái niệm bình giảng ca dao bao hàm cả việc phê bình nhận xét và
việc đọc tác phẩm một cách trực tiếp, sinh động, có nghệ thuật.
1.3. Khái niệm “ Thi pháp văn học” và “Thi pháp ca dao”
Một bài ca dao là một tác phẩm văn học. Bởi vậy, khi phân tích, bình giảng
một bài ca dao, cần nắm vững đặc điểm về thi pháp văn học. Thi pháp văn học
là tổ hợp những đặc tính thẩm mỹ - nghệ thuật và phong cách của một hiện
tượng văn học, là cấu trúc bên trong của nó, là hệ thống đặc trưng của các thành
tố nghệ thuật và mối quan hệ giữa chúng. ((Nguyễn Xuân Kính - Viện Văn hóa
dân gian, Thi pháp ca dao, trang 25, NXB Khoa học xã hội, 1992).
Thi pháp ca dao là một khái niệm thuộc phạm trù về thi pháp văn học dân
2
1.1.Tình trạng diễn nôm ca dao. Người dạy chỉ nói lại, kể lại nội dung trực
tiếp của những câu ca dao bằng lời lẽ thông thường có tính chất nôm na.
Cách làm này làm cho người học không hào hứng. Nguyên nhân của cách
làm này là do giáo viên đánh giá thấp trình độ học sinh, cũng có khi do quan
niệm sai về sự giản dị dễ hiểu của ca dao. Cũng có khi do khả năng hạn chế hoặc
thiếu đi sâu nghiên cứu ca dao. Cách làm này đã dung tục hóa công việc giảng
dạy ca dao.
1.2 Tình trạng làm phức tạp hóa sự giản dị dễ hiểu của ca dao, lôi cuốn học
sinh bằng những lời lẽ văn hoa, bóng bảy, dùng nhiều khái niệm thuật ngữ
chuyên môn của nghiên cưú và giảng dạy văn học. Cách làm này thường làm
cho người học và người dạy cảm thấy giờ học như là hấp dẫn, sinh động, có
nhiều màu sắc văn chương nhưng xét về lợi ích thực tế của việc giảng dạy ca
dao thì cũng không hơn gì cách thứ nhất vì không đem lại cho học sinh những
cảm xúc mới mẻ về những bài ca dao mà họ được học.
3
1.3 Tình trạng lấy bài ca dao đang dạy làm điểm xuất phát để từ đó liên hệ, liên
tưởng dẫn dắt học sinh tới những câu thơ, tứ thơ trong những tác phẩm văn học
khác theo sở trường và cảm hứng tự do của người giảng.
Cách làm này thường cuốn hút cả thầy lẫn trò đi vào giờ học một cách say
sưa, nhiều khi quên cả giờ giấc. Nhưng sự say sưa đó không phải là kết quả bình
giảng những câu ca dao gây nên mà chủ yếu là do sự trích dẫn liên hệ văn thơ ở
ngoài bài ca dao mang lại. Người dạy đã biến bài ca dao thành nguyên cớ hợp
pháp để liên tưởng liên hệ tất cả những gì mình thích một cách tùy tiện thiếu
nguyên tắc.
2. Kết quả của thực trạng
Từ thực trạng vừa trình bày ở trên, bên cạnh những kết quả to lớn về chất
lượng dạy học môn Ngữ văn của thầy và trò nói chung như những số liệu về số
học sinh giỏi các cấp, số học sinh đang trưởng thành từ các nhà trường và đang
2013-2014
7
40
15
37.5
25
62.5
Qua bảng số liệu trên ta thấy: Ở các nhà trường THCS trong cụm chuyên
môn mà tôi trực tiếp tham gia sinh hoạt ở huyện Nga Sơn, số học sinh yêu thích
học ca dao và biết một số kĩ năng cơ bản để phân tích một bài ca dao còn quá ít.
Nói rộng ra là số học sinh yêu thích học tập bộ môn Ngữ Văn ở các nhà trường
trong cụm chuyên môn còn quá ít. Thực trạng ấy đòi hỏi người giáo viên phải
trăn trở tìm tòi đổi mới phương pháp, nhằm lôi cuốn các em tham gia học tập
bằng niềm hứng thú nhất định thì mới đáp ứng được yêu cầu học tập bộ môn.
III. GIẢI PHÁP VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1. Các giải pháp thực hiện
1.1. Đối với giáo viên:
Trong những lần sinh hoạt Cụm chuyên môn trong hai năm học 2013 –
2014 và năm học 2014 - 2015, với vai trò trách nhiệm của một Phó hiệu trưởng,
được phân công là tổ trưởng tổ chuyên môn bộ môn Ngữ Văn, tôi luôn luôn phối
kết hợp các hoạt động để thực hiện nội dung sáng kiến kinh nghiệm này.
4
Cụ thể là thông qua các buổi sinh hoạt chuyên môn cụm, tôi thường dành
một lượng thời gian để trao đổi với các đồng chí giáo viên bộ môn Ngữ Văn
trong cụm. Tôi đã nêu vấn đề này ra để cùng với các đồng chí giáo viên bộ môn
cùng nghiên cứu và bàn bạc nhằm đi đến thống nhất những giải pháp và phương
pháp tích cực nhằm nâng cao chất lượng mỗi giờ học Ngữ Văn nói chung và giờ
học Ca dao trong chương trình Ngữ Văn 7 nói riêng.
giảng trong quá trình phân tích một bài ca dao.
Thông qua kỹ năng phân tích một cách khoa học, làm cho người nghe,
người đọc hiểu đúng, hiểu rõ và hiểu sâu tác phẩm. Trên cơ sở hiểu đúng, sẽ
bình xét một cách tinh tế nghệ thuật làm cho người nghe, người đọc cảm thụ
được cái hay, cái đẹp của tác phẩm. Từ đó, học sinh có thể tự giáo dục, bồi
dưỡng tư tưởng tình cảm, tâm hồn cho bản thân.
5
c. Người giáo viên cần rèn luyện cho học sinh nắm được những yêu cầu
cụ thể khi bình và phân tích ca dao.
c.1. Cần tuyển chọn được những bài ca dao hay để bình và phân tích.
Một bài ca dao được chọn để bình giảng phải có ít nhất những điều kiện sau:
- Thứ nhất, phải là một bài ca dao hay, có giá trị thực sự về nội dung, nghệ
thuật, đồng thời phải là bài ca dao có vấn đề, có điểm sáng nghệ thuật đáng để
bình.
- Thứ hai, phải phù hợp với sở trường và khả năng của người học.
- Thứ ba, phải phù hợp với nhu cầu và thị hiếu của nguòi đọc, người nghe.
c.2. Người giáo viên cần giúp học sinh hiểu được cái chung và cái riêng
trong ca dao.
Không nên nghĩ rằng văn học dân gian nói chung và ca dao nói riêng là
sáng
tác tập thể, không phải là sản phẩm của cá nhân gắn liền với cá tính sáng tạo, do
đó cũng không có cá tính, không có cái riêng.
Cái riêng của ca dao là cái riêng về đời sống vật chất, tinh thần, phong tục
tập quán, ngôn ngữ của nhân dân trong từng địa phương, từng thời kỳ lịch sử,
từng cộng đồng xã hội cụ thể. Nếu học ca dao mà coi nhẹ hoặc phủ nhận cái
riêng thì không thể lý giải được cái hay cái đẹp, sự độc đáo của mỗi câu ca dao.
Không nên coi hầu hết những câu, những bài về một đề tài cụ thể ( tỏ tình, thề
Chính vì vậy mà trong ca dao có hiện tượng cùng một chủ đề, có hàng trăm
bài dài ngắn khác nhau, mỗi bài có một tứ riêng độc đáo.
Người sáng tác ca dao biến ý thành tứ, còn người phân tích, bình giảng ca
dao cần dựa vào tứ mà tìm ra ý. Khi đã hiểu rõ được chủ ý của tác phẩm, mới có
điều kiện và cơ sở chắc chắn để bình luận khen chê bài ca dao đó một cách chắc
chắn, kĩ càng, chính xác và tinh tế.
Trong ca dao còn có mối quan hệ giữa sự và tình. Ca dao là sản phẩm của
suy tư, cảm xúc, là tiếng nói của tâm hồn tình cảm. Trong ca dao, sự tình thường
đi đôi vói nhau, nương tựa vao nhau để tồn tại và phát triển. Sự có thể có thật
hay hư cấu, là phương tiện, là nguyên cớ để tác giả thể hiện tình cảm mà thôi.
Có thể coi sự là xác, tình là hồn của ca dao. Khi nào ý chuyển thành tình, tình
gắn với sự thì tứ mới nảy sinh và phát triển. Sự càng bất ngờ thì tứ càng độc đáo,
ý càng sâu sắc.
c.4. Người giáo viên cần giúp học sinh chú ý mối quan hệ giữa lời và ý, chữ
và nghĩa trong ca dao.
Ngôn ngữ trong ca dao là ngôn ngữ thông thường của quần chúng nhân dân
nhưng đã được sử dụng theo phương thức trữ tình của thơ ca. Muốn hiểu đúng,
hiẻu rõ, hiểu sâu sắc thấu đáo một bài ca dao cần bám vào từ ngữ của nó, thông
qua từ ngữ để tìm ra ý, tứ, sự tình ở trong đó.
Cái hay cái đẹp của ca dao được thể hiện ở nhiều yếu tố, nhiều phương diện
khác nhau, nhưng tất cả mọi yếu tố, mọi phương diẹn khác nhau ấy đều quan hệ
với từ ngữ. Cho nên từ ngữ trong ca dao có vai trò đặc biệt quan trọng. “Lời thơ
dân gian không những sẽ bước đầu cho ta làm quen với tâm tư tình cảm của
đồng bào xưa mà đồng thời sẽ còn giúp ta học được những cách nói năng tài tình
chính xác. Theo tôi, đối với một người Việt Nam mà thiếu những kiến thức này
thì có thể xem như là thiếu một trong những điều cơ bản.
c.5. Người giáo viên cần giúp học sinh nắm vững những yếu tố ngoài văn
bản và thi pháp ca dao.
Một bài ca dao có thể cho phép hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau.
Hiện tượng nhiều nghĩa nằm ngay trong văn bản, ngay trong thành phần
“ Hôm nay ở đất nhà người
Kém ăn là một, kém cười là hai
Mai về ở với nhà tôi
Dù che ngựa cỡi, rong chơi cả ngày”.
Các từ láy chỉ thời gian có tác dụng diễn tả quá trình sự viẹc diễn ra, đồng
thời gợi tả tâm trạng sâu sắc:
VD:
“Chiều chiều ra đứng ngõ sau
Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều”.
“ Đêm đêm vuốt bụng thở dài
Thở ngắn bằng chạch, thở dài bằng lươn”.
“ Ngày ngày ra đứng cổng làng
Bâng khuâng như mất nhẫn vàng trên tay”.
Các công thức miêu tả thời gian: Tính chất công thức, ước lệ là đặc điểm nổi
bật trong việc miêu tả thời gian. Các từ bây giờ, hôm nay, đêm đêm, chiều chiều,
ngày ngày, hôm qua, đêm qua, thường mở đầu lời ca số lượng lớn. Có khi các từ
Đêm khuya, đêm nằm, sáng trăng, ngày ngày cũng được sử dụng nhiều. Các từ
chỉ thời gian đối lập quá khứ với hiện tại không những giúp cho việc thể hiện
tâm trạng mà còn tạo ra sự thay đổi, vận động của thời gian.
Vd:
“ Khi đi trúc chửa mọc măng
Khi về trúc đã cao bằng ngọn tre”.
* Không gian nghệ thuật : Trong ca dao, không gian động chiếm ưu thế. Bên
cạnh không gian vật lý còn có không gian xã hội. Những lời ca đượm buồn
thường đi liền với không gian xã hội vào ban đêm.
VD:
“ Đêm qua ra đứng bờ ao
Trông cá cá lặn trông sao sao mờ”.
Những không gian tên địa danh cụ thể không có nhiều. Những không gian
phiếm chỉ được sử dụng phổ biến, khi bộc lộ những tâm trạng chung chung.
Có 2 kiểu tỷ: Tỷ trực tiếp ( So sánh), tỷ gián tiếp : (ẩn dụ )
Thể tỷ làm cho ca dao thêm phong phú sâu sắc:
“Thân em như giếng giữa đàng
Người thanh rửa mặt, người phàm rửa chân”..
• Thể hứng Là tình cảm nảy sinh khi có một tác động của ngoại cảnh.
( Đối cảnh sinh tình)
VD:
“Ngó lên mây bạc trời hồng
Thương em hỏi thật có chồng hay chưa?”
c.10 . Người giáo viên cần giúp học sinh nắm vững phương pháp phân tích một
bài ca dao .
Quá trình phân tích một bài ca dao có thể tiến hành các thao tác sau:
- Xác định nhân vật trữ tình của bài ca dao.
- Xác định đối tượng trữ tình của bài ca dao.
- Nhân vật trữ tình bộc lộ cảm xúc tâm trạng gì ?
- Nhân vật trữ tình bộc lộ tình cảm ấy bằng cách nào?
- Rút ra chủ đề của bài ca dao.
- Vận dụng những hiểu biết về thi pháp học để phân tích, chủ yếu là khai
thác nghệ thuật. ( Tránh nhược điểm tách nội dung ra khỏi hình thức )
1.2. Đối với học sinh
9
- Học sinh cần có nhiều hứng thú trong học tập. Học sinh trong quá trình
tiếp thu kiến thức không còn cảm thấy nhà chán đơn điệu khi học ca dao như
phương pháp áp đặt như trước kia.
- Học sinh cần tự giác nhiệt tình chủ động tham gia suy nghĩ tìm cách giải
quyết vấn đề một cách triệt để hoàn thiện.
- Mỗi bài ca dao là một tác phẩm văn học. Học sinh được phát huy vai trò
chủ thể sáng tạo của mình trong quá trình tiếp nhận tác phẩm. Các em được
nông dân: Gắn bó với đồng ruộng, chịu khó, lặn lối kiếm sống...
Bài 2.
“ Thương thay thân phận con tằm
Kiếm ăn được mấy phải nằm nhả tơ
Thương thay lũ kiến li ti
Kiếm ăn được mấy phải đi tìm mồi
Thương thay hạc lánh đường mây
10
Chim bay mỏi cánh biết ngày nào thôi
Thương thay con cuốc giữa trời
Dầu kêu ra máu có người nào nghe”.
* Cho học sinh đọc diễn cảm bài ca dao. Chú ý nhấn giọng ở những từ
ngữ có khả năng biểu cảm cao: “thương thay”, “phải nằm nhả tơ”, “phải đi tìm
mồi”, “chim bay mỏi cánh”, “kêu ra máu”...
* Hướng dẫn học sinh xác định nhân vật trữ tình trong bài ca
? Bài ca là lời của ai? Nói với ai?
Là lời người lao động thương cho thân phận của những người khốn khổ và
cũng là chính mình. Là tiếng than đầy thương cảm, xót xa.
* Hướng dẫn học sinh phân tích giá trị nghệ thuật của bài ca.
? Em hiểu thế nào về cụm từ “ thương thay” và việc lặp lại cụm từ này?
“ Thương thay” là tiếng than thể hiện sự thương xót ở mức độ cao. Điệp ngữ,
lặp lại 4 lần cụm từ này. Mỗi lần diễn tả một nỗi thương, thương thân phận mình
và thương thân phận người cùng cảnh ngộ. Bốn câu ca là bốn nỗi thương khác
nhau đã tô đậm mối thương cảm xót xa cho cuộc đời cay đắng nhiều bề của
người dân thường, có tác dụng kết nối và mở ra sự phát triển tình ý trong bài ca.
Thủ pháp tăng tiến: “nằm nhả tơ”_ “đi tìm mồi”_” “mỏi cánh”_”kêu ra
máu”: Cuộc đời số phận đắng cay tuyệt vọng của người nông dân bị dồn đến
chân tường của sự đau khổ, bế tắc, oan trái.
được mấy”. Điệp ngữ “kiếm ăn được mấy” cất lên hai lần đã tố cáo và phản
kháng xã hội cũ bất công, kẻ thì “ngồi mát hưởng bát vàng”, kẻ “ăn không hết,
người lần không ra”.
“Hạc”, “chim”, “con cuốc” là 3 ẩn dụ nói về những thân phận, số phận
nếm trải nhiều bi kịch cuộc đời”. “Hạc” muốn tìm đến mọi chân trời, muốn
“lánh đường mây” để thoả chí tự do phiêu bạt. “Chim” muốn bay cao bay xa,
tung hoành giữa bầu trời, nhưng chỉ mỏi cánh mà thôi. Đó là những cuộc đời
phiêu bạt, những cố gắng vô vọng của người lao động trong xã hội cũ, thật
“thương thay”, thật đáng thương!
“ Thương thay hạc lánh đường mây
Chim bay mỏi cánh biết ngày nào thôi”.
Thân phận con cuốc càng đáng “thương thay” ! Nó đã “kêu ra máu” giữa
trời mà “có người nào nghe”, nào có được cảm thông, san sẻ. “Con cuốc” trong
văn cảnh này biểu hiện cho nỗi oan trái, cho nỗi đau khổ của nhân dân lao động
không được lẽ công bằng nào soi tỏ. Càng kêu, máu càng chảy, càng đau khổ
tuyệt vọng:
“Thương thay con cuốc giữa trời
Dầu kêu ra máu có người nào nghe”.
Ngoài cách sử dụng điệp ngữ và ẩn dụ, những câu hát than thân này còn
được diễn tả dưới hình thức câu hỏi tu từ: “kiếm ăn được mấy”, “biết ngày nào
thôi”, “có người nào nghe”. Giá trị phản kháng và tố cáo càng trở nên sâu sắc,
mạnh mẽ.
* Hướng dẫn học sinh bình giá chung về bài ca dao :
Bằng cách phát biểu những suy nghĩ chủ quan của cá nhân về giá trị của bài
ca dao trong xã hội xưa và nay. Học sinh liên hệ với thực tế đời sống của người
nông dân trong xã hội hiện tại. Ngày nay, người nông dân đã hoàn toàn được
“đổi đời”, họ được làm chủ bản thân, làm chủ hoàn cảnh, làm chủ đất nước.
Những cảnh đời oan trái, đau khổ, nghèo đói không còn nữa, thay vào đó là cuộc
sống ấm no, hạnh phúc, được bảo vệ quyền sống, được lao động tạo ra những
thành quả to lớn dựng xây đất nước. Họ được học hành, được trang bị đầy đủ
sóng dồi xô đẩy quăng quất trên sông nước mênh mông, không biết tấp vào đâu.
Nó gợi số phận chìm nổi, lênh đênh vô định của người phụ nữ trong chế độ
phong kiến.
? Qua bài ca dao, em hiểu cuộc đời, thân phận người phụ nữ trong chế độ
phong kiến như thế nào?
Bài ca dao diễn tả xúc động chân thực cuộc đời, thân phận nhỏ bé đắng cay
của người phụ nữ xưa. Trong xã hội Phong kiến, người phụ nữ như trái bần nhỏ
bé bị gió dập sóng dồi chịu nhiều đau khổ. Họ hoàn toàn lệ thuộc vào hoàn cảnh.
Người phụ nữ không có quyền tự quyết định cuộc đời. Xã hội phong kiến luôn
muốn nhấn chìm họ. Bài ca dao có thẻ ví như tiếng kêu than thân, phản kháng
của những Hồ Xuân Hương bình dân.
* Hướng dẫn học sinh bình giá đôi nét về bài ca.
Từ việc cung cấp vốn sống cho học sinh hiểu biết thêm về biểu tượng “trái
bần trôi”, giúp học sinh hiểu sâu sắc hơn về ý nghĩa của bài ca. Trái bần dẹt, lại
chua và chát, ai ngắm, ai nếm, ai ăn? Một thứ trái chẳng ngọt ngon gì, có thể bị
coi là vô vị và vô dụng. trái bần ấy đã rụng, đã trôi nổi trên dòng sông, bị “gió
dập sóng dồi”, bị va đập, bị tung lên nhấn xuống liên tiếp, dồn đập. Cô gái tự ví
mình, so sánh thân phận mình, số phận mình với “trái bần trôi” là lời tự than
đáng thương. Trước sóng gió cuộc đời “biết tấp vào đâu”, lênh đênh lưu lạc vào
bến bờ nào. Một tương lai mờ mịt. Biết bao lo lắng xót xa...
Tương tự hai bài ca dao trên, cho học sinh chỉ ra giá trị của bài ca dao này
trong xã hội xưa và nay, bằng việc so sánh liên hệ về cuộc đời, số phận người
phụ nữ trong hai thời đại xã hội khác nhau. Ở xã hội phong kiến, người phụ nữ
bị tước đoạt quyền sống, bị coi rẻ, họ không được quyết định cuộc đời mình.
Trong ca dao xưa và trong văn học trung đại đã cất lên những tiếng kêu thương
13
ai oán về muôn nghìn nỗi khổ của họ trong những cảnh đời đen tối, bế tắc và
tuyệt vọng. Người phụ nữ trong thời đại ngày nay được sống một cuộc đời mới
Cuối giờ học, giáo viên ra đề cho học sinh về nhà làm bài.
* Sau đây tôi xin nêu một bài làm cụ thể của em Lê Thị Trang, học sinh lớp 7B
trường THCS Nga Trường - Năm học 2014-2015 (Là học sinh đạt giải Nhì
trong kỳ thi chọn học sinh giỏi cấp Huyện môn Ngữ Văn lớp 7 năm học 2014 –
2015) Bài viết này là một trong những bài làm tốt nhất trong số 40 bài dự Khảo
sát kết quả triển khai vận dụng SKKN kinh nghiệm này vào giảng dạy ở cụm
chuyên môn gồm 4 nhà trường: THCS Nga Trường, THCS Nga Vịnh, THCS
Nga Giáp, THCS Nga Thiện. (Tuy nhiên, bài viết đã được giáo viên bộ môn là
cô giáo Phan diệu Linh sửa chữa một số lỗi dùng từ và diễn đạt.)
Đề bài: Suy nghĩ của em về bài ca dao sau:
Con cò mà đi ăn đêm
14
Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao
Ông ơi ông vớt tôi nao
Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng
Có xáo thì xáo nước trong
Đừng xáo nước đục đau lòng cò con
(Sách giáo khoa Ngữ văn 7 tập I, trang 50)
Bài làm
Trong Văn học dân gian Việt Nam nói chung và thơ ca dân gian nói riêng, em
đã được đọc, được học khá nhiều những câu, những bài ca dao nói đến con cò và
mượn hình ảnh con cò làm phương tiện nghệ thuật để gửi gắm, thể hiện những
tâm tư tình cảm thân phận con người. Nhưng có lẽ không ở đâu, hình tượng con
cò được xây dựng độc đáo sắc nét, giàu sức gợi cảm và ý nghĩa nhân sinh, triết
lý như ở bài ca dao này.
Bài ca dao không dài, tất cả chỉ có 6 câu nhưng trong đó vừa có thơ vừa có
truyện vừa có kịch. Kịch tính của bài ca dao không chỉ được thể hiện rất rõ nội
dung câu chuyện và sự xung đột bên trong. ( Mâu thuẫn nội tâm của nhân vật
lời nói cuối cùng của nhân vật ngụ ngôn. Nhân vật ngụ ngôn chủ yếu trong bài
ca dao này là con cò, nhân vật thứ hai được con cò gọi bằng ông, là nhân vật
phụ. Bài ca dao có 6 câu được cấu tạo thành hai phần rõ rệt. Hai câu đầu là lời
kể chuyện và cốt truyện cơ bản do tác giả tạo ra và kể lại. Đây chính là cái nền,
cái cớ, là điều kiện cần thiết không thể thiếu để cho tác giả thực hiện và thể hiện
những điều muốn nói ở phần thứ hai, trong ngôn ngữ và bằng ngôn ngữ trực tiếp
của nhân vật.
Vì vậy, nếu chỉ dừng lại và dựa vào hai câu đầu để phân tích, suy luận và bình
giảng ý nghĩa tượng trưng ẩn dụ của các chi tiết, từ ngữ, hình ảnh này nọ (Ăn
đêm, cành mềm, lộn cổ, ao...) thì chưa đủ cơ sở, lạc hướng, dễ đi vào gán ghép
chủ quan. ( Có người đã coi hầu hết các chi tiết, sự việc nêu ở hai câu đầu có ý
nghĩa tượng trưng ám chỉ: “ con cò ” là người lao động nghèo đói, “ăn đêm “ là
việc làm phi pháp, gian phi trộm cắp. Cành mềm và ao là cạm bẫy của nhà nước
phong kiến. “Ông” tượng trưng cho nhà nước phong kiến. Hiểu như vậy hoàn
toàn sai vì nó không phù hợp với đặc trưng cơ bản của thể loại ngụ ngôn vừa
không phù hợp với mục đích của tác giả).
Phần thứ hai của bài ca dao dài gấp hai lần của phần thứ nhất, tất cả đều là
ngôn ngữ trực tiếp của con cò đang lâm nạn, đang ở dưới ao, đang ngoi lên kêu
cứu. Câu thứ nhất: Nghe rất tự nhiên thảm thiết: “Ông ơi ông vớt tôi nao!”
Đúng là tiếng kêu lạc giọng, đứt đoạn, ngắt quãng của một kẻ sắp bị chết
chìm trong nước đang ngoi lên kêu cứu . Cả câu chỉ có một từ “Vớt” vút lên cao,
còn tất cả những từ khác đều ngang bằng không dấu như không thể vượt lên
khỏi giới hạn của mặt nước. Có lẽ do cảm thông sâu sắc với con cò đang lâm
nạn nên tác giả của bài ca dao đã tưởng tượng và diễn đạt được đầy đủ tiếng kêu
cứu của nó, còn trong thực tế thì con cò cũng chỉ có thể kêu to và kêu rõ tiếng
vớt mà thôi? Sự tài tình của tác giả và cái hay hiếm có của câu ca dao này chính
là ở chỗ đó. Câu ca dao trên còn diễn tả sự ham sống của con cò.
Câu thứ hai : “ Tôi có lòng nào, ông hãy xáo măng”
Mặc dù đang ở trong hoàn cảnh hoạn nạn cấp cứu, ngàn cân treo sợi tóc, con
cò vẫn hết sức tỉnh táo, minh mẫn, biết rõ và nhớ rõ sự đời. Cho nên nó đã lường
khác nhau. Qua hai lần lựa chọn (giữa sống với chết và giữa hai cái chết), em
thấy điều băn khoăn day dứt nhiều nhất không phải là sống hay chết mà là giữa
chết trong hay chết đục.
Sở dĩ như vậy là vì con cò ở đây, tuy rất thiết tha sống nhưng không chủ quan
ảo tưởng tin vào lòng tốt của con người một cách ngây thơ, mà dám bình tĩnh
nhìn thẳng vào thực tế, vào khả năng hiện thực và cái chết không tránh khỏi của
mình để chủ động lựa chọn và bày tỏ thái độ. Câu “ Có xáo thì xáo nước trong”
phản ánh sự lựa chọn cái chết và cách chết rất cao thượng và đáng quý, vừa rất
thành thực và đáng thương của con cò. Câu cuối cùng: “ Đừng xáo nước đục
đau lòng cò con” nghe thiết tha đau đớn và cảm động biết bao !
Hai tiếng “cò con” có thể hiểu theo ba cách khác nhau mà cách nào cũng có
nghĩa và phù hợp với chủ đè tư tưởng của tác phẩm.
Thứ nhất: Cò con có thể hiểu là cách xưng hô khiêm tốn tự hạ mình của bản
thân con cò đang lâm nạn mặc dù nó đã trở thành cò lớn. Hiểu theo cách này thì
sự đau lòng ở trong câu ca dao chính là nỗi đau của bản thân con cò lâm nạn sau
khi đã chết.
Thứ hai : Cò con có thẻ hiểu là cò bé, cò còn nhỏ dại, chưa đủ lông đủ cánh.
Hiểu theo cách này thì bai ca dao càng thêm hay, thêm hấp dẫn và giàu sức
thuyết phục. Bởi vì cò con còn bé bỏng, chưa đủ lông đủ cánh, cho nên khi đậu
phải cành mềm mới lộn cổ xuống ao và không thể tự bay lên được. Tuy còn bé
bỏng nhưng nó đã biết phân biệt điều hay lẽ phải và biết đau lòng nếu phải chết
trong nước.
Thứ ba: Cò con được hiểu là con của con cò đang lâm nạn. Hiểu theo cách
này thì nỗi đau lòng trong bài ca dao là nỗi đau của con cháu, của thế hệ tương
lai, chứ không phải là nỗi đau của con cò đang lâm nạn. Nghĩa là con cò lâm nạn
đang suy nghĩ về sự sống cái chết và lựa chọn cách sống chết đã hướng nhiều về
thế hệ nối tiếp , tương lai của nó và lo cho sự đau lòng vì hổ thẹn và sỉ nhục của
cháu con nếu bản thân nó bị xáo trong nước đục.
Trong ba cách hiểu nói trên, có lẽ em thấy cách thứ ba là cách hiểu hay nhất,
17
Ghi chú
bộ môn Ngữ
Ngữ Văn
ở 4 nhà
Văn
trường
SL
%
SL
%
thuộc
2013-2014
7
40
15
37.5
25
62.5
Bảng 2:
Năm
học
HS
lớp
Tổng số
Số học sinh không yêu
Số học sinh yêu thích
học sinh
thích học tập bộ môn
50
2
5
57.5
2015
2. Đánh giá chung về kết quả nghiên cứu :
Sau một thời gian tìm tòi nghiên cứu và đưa vào ứng dụng sáng kiến kinh
nghiệm này trong quá trình giảng dạy và chỉ đạo chuyên môn trong các nhà
18
trường thuộc cụm chuyên môn (THCS Nga Trường, THCS Nga Thiện, THCS
Nga Giáp, THCS Nga Vịnh), phương pháp này đã mang lại những kết quả như
sau:
Qua việc dự giờ, kiến thực tập của bản thân tôi ở từng nhà trường trong cụm
chuyên môn và nắm bắt từ các đồng chí giáo viên bộ môn Ngữ Văn ở 4 nhà
trường trong cụm chuyên môn trong mỗi kỳ sinh hoạt chuyên môn cụm (Mỗi
tháng 1 lần), tôi nhận thấy rằng, với cách làm này, ở 4 nhà trường được vận
dụng đề tài sáng kiến kinh nghiệm này vào giảng dạy, tình trạng dạy “diễn nôm
ca dao” ở giáo viên và “học đối phó” ở học sinh không còn nữa. Chất lượng bộ
môn Ngữ Văn được nâng lên rõ rết ở mỗi nhà trường.
Học sinh có nhiều hứng thú học ca dao nói riêng và học tập bộ môn Ngữ
Văn nói chung. Học sinh yêu thích học ca dao hơn, có ý thức sưu tầm học hỏi,
đọc và thuộc nhiều câu ca dao hay,
Học sinh được phát huy cá tính sáng tạo, óc thông minh, khả năng tư duy,
bộc lộ cảm xúc một cách tích cực chủ động
Qua giờ học, việc phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi đạt kết quả tốt hơn.
Nhiều em có những bài bình giảng nội dung sâu sắc tinh tế. được chấp nhận và
có tính thuyết phục cao.
Bằng việc thực hiện các giải pháp đã trình bày ở phần trên, ngoài ra, trong
cầu, nhiệm vụ của nhà trường THCS. Học sinh đã tạo được hứng thú học tập,
chủ động tích cực tiếp nhận những vấn đề đặt ra của môn học.
Những đổi mới tiến bộ của dạy học theo phương pháp đổi mới nói chung
và bộ môn Ngữ Văn nói riêng trong nhà trường Trung học cơ sở đã giúp người
giáo viên có khả năng tìm tòi nghiên cứu, phát huy sự sáng tạo và sự lành nghề
trong năng lực chuyên môn, tạo hiệu quả cao trong giảng dạy.
II. ĐỀ XUẤT:
Để tiếp tục đáp ứng những yêu cầu thiết yếu về dạy học môn Ngữ văn
trong nhà trường theo tinh đổi mới phương pháp, đặc biệt nhằm nâng cao chất
lượng dạy học, phù hợp với nhu cầu đào tạo con người, phát triển toàn diện của
xã hội hiện đại, tôi mong muốn được sự quan tâm của ngành Giáo dục các cấp
Phòng, Sở trong việc tổ chức những lớp học chuyên đề, trao đổi sáng kiến kinh
nghiệm, hội thảo khoa học về đổi mới phương pháp dạy học nói chung và bộ
môn Ngữ Văn nói riêng.
Sáng kiến kinh nghiệm này của tôi mới chỉ là bước đầu tìm tòi nghiên cứu
học hỏi và là những suy nghĩ mang tính chủ quan của cá nhân. Vì vậy sẽ không
tránh khỏi những thiếu sót. Tôi rất mong được góp ý và bổ sung của các đồng
chí đồng nghiệp để vấn đề được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Hoàng Thị Yến
Thanh Hóa, ngày 6 tháng 4 năm 2015
CAM KẾT KHÔNG COPY
Tạ Thị Lài
D. CÁC MINH CHỨNG:
Hình1, 2: Một số hình ảnh tại giờ học Ngữ Văn lớp 7A Trường THCS Nga
Hình 6: Hình ảnh các em học sinh lớp 7A trường THCS Nga Thiện trong phần
luyện tập Tiết 13 “Những câu hát than thân” do cô giáo Đặng Thị Nga và các
em học sinh lớp 7A trường THCS Nga Thiện – Nga Sơn thực hiện. ( Tiết 3 thứ 3
ngày 16/9/2014)
23