Huy động các lực lượng xã hội để giúp đỡ học sinh có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục ở trường THCS Nga Trường, huyện Nga Sơn - Pdf 40

MỘT SỐ GIẢI PHÁP
HUY ĐỘNG CÁC LỰC LƯỢNG XÃ HỘI
ĐỂ GIÚP ĐỠ HỌC SINH CÓ HOÀN CẢNH ĐẶC BIỆT KHÓ KHĂN
GÓP PHẦN NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC
Ở TRƯỜNG THCS NGA TRƯỜNG - HUYỆN NGA SƠN
A. ĐẶT VẤN ĐỀ:
Chất lượng giáo dục là cái đích mà tất cả các nhà trường, các cơ sở giáo dục
quan tâm để đạt được mục tiêu giáo dục.
Mục tiêu của giáo dục Trung học cơ sở (THCS) là nhằm giúp học sinh củng cố
và phát triển những kết quả của giáo dục Tiểu học, có học vấn phổ thông ở trình
độ cơ sở và những hiểu biết ban đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học
trung học phổ thông, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động.
Mọi tổ chức, gia đình và công dân có trách nhiệm chăm lo sự nghiệp giáo dục,
phối hợp với nhà trường thực hiện mục tiêu giáo dục, xây dựng môi trường giáo
dục lành mạnh và an toàn.
Giai đoạn 2006 - 2009: Cơ sở vật chất đang trong tiến độ xây dựng bổ sung
theo hướng chuẩn Quốc gia. Toàn trường có 1196 học sinh mà có tới 661 học
sinh có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn (HSCHCĐBKK) và đã đạt được các chỉ
tiêu về chất lượng giáo dục theo tiêu chuẩn trường trung học đạt chuẩn Quốc
gia(Tỷ lệ học sinh bỏ học hàng năm không quá 1%, học sinh lưu ban không quá
3%. Học lực giỏi đạt từ 3% trở lên, học lực khá đạt từ 30% trở lên, học lực yếu kém không quá 5%. Thực hiện đúng quy định của BGD&ĐT về thời gian tổ
chức nội dung các hoạt động giáo dục ở trong và ngoài giờ lên lớp, mỗi năm học
tổ chức được ít nhất một lần hoạt động tập thể theo quy mô toàn trường. Hoàn
thành nhiệm vụ được giao trong kế hoạch phổ cập GDTHCS của địa phương).
Muốn nâng cao chất lượng giáo dục trong giai đoạn 2010 - 2013 với tình hình
kinh tế địa phương còn gặp nhiều khó khăn, số học sinh là con em gia đình có
hoàn cảnh đặc biệt khó khăn còn nhiều thì công tác huy động các lực lượng xã
hội để giúp đỡ học sinh có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn (học sinh khuyết tật, con
hộ nghèo, cận nghèo, mồ côi, gia đình chính sách…) vượt khó vươn lên trong
học tập và rèn luyện là một việc làm không dễ đối với một nhà trường nằm trong
vùng nông thôn khó khăn về kinh tế như xã Nga Trường.

em nhiễm HIV/AIDS, trẻ em là nạn nhân của chất độc hóa học, trẻ em khuyết tật
nặng và trẻ em bị ảnh hưởng bởi thiên tai, thảm họa.
Ngày13 tháng 6 năm 2012, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt ''Chiến lược
phát triển giáo dục 2011 - 2020". Phần giải pháp có đoạn: “Xây dựng và thực
hiện các chính sách nhằm đảm bảo bình đẳng về cơ hội học tập, hỗ trợ và ưu
tiên phát triển giáo dục và đào tạo nhân lực cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số,
vùng khó khăn, các đối tượng chính sách xã hội, người nghèo”.
Ngày 26 tháng 4 năm 2013, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số
647/QĐ-TTg Phê duyệt Đề án chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn
dựa vào cộng đồng giai đoạn 2013 - 2020. Mục tiêu chung của đề án là: Huy
động sự tham gia của xã hội, nhất là gia đình, cộng đồng trong việc chăm sóc,
trợ giúp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn để ổn định cuộc sống, có cơ hội
thực hiện các quyền của trẻ em và hòa nhập cộng đồng theo quy định của pháp
luật; phát triển các hình thức chăm sóc thay thế trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó
khăn dựa vào cộng đồng; từng bước thu hẹp khoảng cách về mức sống giữa trẻ
em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn với trẻ em bình thường tại nơi cư trú.
Với những căn cứ nêu trên cho thấy việc huy động các lực lượng xã hội để
giúp đỡ học sinh có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn là hết sức cần thiết. Khi được
sự quan tâm chăm sóc của cộng đồng, những học sinh có hoàn cảnh đặc biệt khó
khăn sẽ được lớn lên một cách lành mạnh và an toàn. Các em không chỉ là người
tiếp nhận thụ động lòng nhân từ của người lớn, mà các em còn là những thành
viên tham gia tích cực vào quá trình phát triển và hoàn thiện nhân cách, có đủ
đức đủ tài, có khả năng đóng góp công sức làm giàu đẹp quê hương, đất nước.
2


II. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ:
II.1. Thực trạng của địa phương:
Nga Trường là xã nằm ở phía Tây Bắc của huyện Nga Sơn, địa hình bán
chiêm bán màu, diện tích đất tự nhiên 477,8ha - đất nông nghiệp là 329ha, toàn

2.3. Về học sinh:
* Số HSCHCĐBKK được giúp đỡ giai đoạn 2006 - 2009.
Cận Khuyết Gia đình
Năm học
Nghèo
Mồ côi
Tổng
nghèo
tật
chính sách
2006 - 2007
173
1
8
9
0
191
2007 - 2008
164
0
6
9
0
179
2008 - 2009
144
0
4
5
0

so với học sinh toàn trường (HSTT):
Năm
học
2006
2007
2007
2008
2008
2009
2009
2010

Tổng
số

HSTT

Tỷ lệ học lực khá, giỏi
HSCHCĐBKK

HSTT

Tỷ lệ học lực TB
HSCHCĐBKK

HSTT

Tỷ lệ học lực yếu
HSCHCĐBKK


41,3

20,4

54,0

32,1

4,7

4,0

240

54,2

29,2

41,2

24,6

4,6

3,7

Bảng 2: Hạnh kiểm của học sinh có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn so với học sinh
toàn trường:
Năm
học


49,3

4,7

3,3

1,0

0,0

319

96,2

53,9

3,8

2,2

0,0

0,0

274

96,4

52,9

Xếp
Năm
Đối tượng học
theo quy
huyện
thứ
học
sinh
định
HSG

Học
sinh
giỏi tỉnh
4


Môn
văn hóa
(VH)

Môn
khác
(MK)

HSTT
1(VH)
36
12
14

(274)
4(MK)
2009
HSCHCĐBKK
4
5
2(MK)
(154)
HSTT
1(VH)
2009
36
16
23
4
(240)
4(MK)
2010
HSCHCĐBKK
7
10
1(MK)
(137)
* Ghi chú: Ký hiệu HSDT:
Học sinh dự thi
Ký hiệu HSTT:
Học sinh toàn trường.
Ký hiệu HSCHCĐBKK: Học sinh có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn.
Ký hiệu VH: Môn văn hóa
Ký hiệu MK: Môn khác

191
200.000đ
2007 - 2008
319
179
8.410.000đ
2008 - 2009
274
153
9.210.000đ
2009 - 2010
240
138
17.565.000đ
Tổng
1196
661
35.385.000đ
Từ cơ sở lý luận và thực trạng trên, tôi đã trăn trở để tìm ra các giải pháp
thiết thực nhất phù hợp với tình hình Địa phương và Nhà trường để tổ chức thực
hiện như sau:
III. CÁC GIẢI PHÁP TỔ CHỨC THỰC HIỆN GIAI ĐOẠN 2010 - 2013:
III.1. Làm tốt công tác tuyên truyền về lợi ích và vai trò của việc huy động
các lực lượng xã hội giúp đỡ HSCHCĐBKK trong trường học.
- Nội dung tuyên truyền:
+ Về lợi ích của việc huy động các lực lượng xã hội nhằm giúp đỡ học sinh
có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục ở
trường THCS Nga Trường: Việc làm này đã mang lại hiệu quả cao trong phong
trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện học sinh tích cực”. Tạo ra một môi
trường giáo dục giàu tình yêu thương nhân ái, những tấm lòng hảo tâm quan tâm

Nhiệt tình trong giảng dạy và giáo dục, luôn làm việc với tinh thần trách
nhiệm cao, luôn cải tiến nội dung và phương pháp, không tự thỏa mãn với trình
độ hiểu biết và tay nghề của mình. Thường có niềm vui khi nhìn thấy học sinh
của mình trưởng thành và lớn lên(nhất là đối với những học sinh có hoàn cách
đặc biệtkhó khăn). Thầy giáo phải có hứng thú và say mê bộ môn mình phụ
trách. Người thầy giáo cảm thấy sung sướng khi được tiếp xúc với trẻ, khi đi sâu
vào thế giới độc đáo của trẻ, luôn đặt niềm tin nơi các em. Thái độ quan tâm đầy
thiện ý và ân cần đối với trẻ. Lúc nào cũng thể hiện tinh thần giúp đỡ học sinh
bằng ý kiến hoặc bằng hành động thực tế của mình một cách chân thành và giản
dị.
III.3. Bồi dưỡng đội ngũ giáo viên chủ nhiệm:
3.1. Về năng lực cảm hóa học sinh:
- Năng lực cảm hóa học sinh là năng lực gây được ảnh hưởng trực tiếp của mình
bằng tình cảm và ý chí đối với học sinh. Nói cách khác đó là khả năng làm cho
học sinh nghe, tin và làm theo mình bằng tình cảm và niềm tin.
Tôi đã bồi dưỡng cho tất cả mọi đồng chí giáo viên trong nhà trường hiểu
rằng: Một GVCN muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình trước hết phải thực
sự yêu thương học sinh, coi các em như người thân của mình. Khi đã có tình yêu
thương thì người thầy sẽ hiểu và biết cách dạy học sinh, tình thương cũng phải
được đặt đúng chỗ HS mới cảm nhận được tình cảm từ trái tim thầy cô. Nói cách
khác giữa thầy và trò luôn có sự đồng điệu về tâm hồn. Tôi đã đặt ra câu hỏi để
mỗi giáo viên phải suy ngẫm: Tại sao cùng một HS cá biệt nhưng đối với thầy
cô này thì em chống đối, còn với thầy cô khác thì phục tùng và nghe lời? Rõ
ràng, điều quan trọng là không phải học sinh đã phạm lỗi ra sao? Mà nằm ở chỗ
là các em đã nhìn thấy lỗi của mình như thế nào? Làm được điều này chính là
nhờ sự thu phục nhân tâm của GVCN. Ngoài cá tính của từng em, phải nói thật
rằng có một số HS nổi loạn là do việc xử lí không đúng của người thầy. Thầy có
những lời nói xúc phạm đến trò, phân biệt đối xử với trò thì lời nói trước lớp
khó có trọng lượng. Kinh nghiệm cho thấy học sinh thích khuyên bảo nhẹ nhàng
hơn là trách phạt.

lực ứng xử sư phạm của người thầy. Khi ấy, mỗi người giáo viên phải biết nhìn
bằng con mắt của tình thương và sự thông cảm thật sự, ta nên có cái hiền từ bao
dung của người mẹ, người cha; cái gần gũi cảm thông của người anh, người chị;
và cái thân thiết của một người bạn.
Nhẹ nhàng phân tích những mặt ưu, khuyết, đúng, sai trong nhận thức, suy
nghĩ của các em... Giúp các em nhận biết những ưu điểm của mình và biết phát
huy nó. Không nên nói những câu phũ phàng. Ví như "ở em chẳng có điểm nào
tốt cả". "Người như em thật chẳng ra gì". "Trong 12 con giáp em không giống
con nào". Hoặc bi đát hơn "Cuộc đời em rồi chẳng có ra làm sao đâu"....
Mỗi giáo viên chủ nhiệm nói riêng, người giáo viên nói chung cần rút ra một
quy luật: Quá cứng thì dễ gãy; quá mềm thì khó uốn. Trong sự nghiệp trồng
người thì học sinh chậm tiến giống như cái cây không mọc thẳng. Đối với loại
cây này người giáo viên chủ nhiệm phải gia công nhiều hơn. Thầy cô chủ nhiệm
như là người cha, người mẹ của các em, có tiếng nói điều chỉnh kịp thời các
hành vi chưa đúng của các em, là tấm gương cho các em noi theo. Thầy cô giáo
dục các em không chỉ bằng lời nói mà bằng cả hành động, cử chỉ, thái độ, tác
phong hàng ngày. Hãy thương yêu các em bằng tấm lòng của người thầy, người
cha, người chị, người mẹ.. Hãy nhìn các em với ánh mắt nhìn về tương lai,
không nên dựa vào hành vi nhất thời của các em mà đánh giá cả bản chất con
người các em. Học sinh chúng ta chỉ là những cành cây non, đang muốn vươn
lên trở thành cành cây vững chắc, hãy tạo điều kiện cho các em thể hiện mình,
vươn lên nơi có ánh sáng vững bền, hãy đối xử các em bằng thái độ thân thiện
và tích cực. Và xin được mượn câu nói này để kết thúc: "Những gì xuất phát từ
trái tim sẽ đi đến trái tim".
3.3. Về sự quan tâm và trách nhiệm đến từng HSCHCĐBKK:

8


Giáo viên chủ nhiệm phải nắm bắt và hiểu sâu sắc từng cá nhân học sinh

hình thành chủ yếu là do năng lực và phẩm chất của bản thân. Là người “dùng
nhân cách để giáo dục nhân cách”, người thầy phải là tấm gương mẫu mực về
đạo đức, tác phong. Không ngừng tu dưỡng đạo đức mới giữ gìn được sự đoàn
kết, có lối sống giản dị trong sạch. Hiểu được những chuẩn mực trong hoạt động
sư phạm, từ đó người giáo viên mới có ý thức rèn luyện phong cách sư phạm
phù hợp, mẫu mực từ lời nói đến hành vi cử chỉ… Ngoài ra, năng lực sư phạm
và trình độ chuyên môn nghiệp vụ cũng là một thước đo không thể thiếu của
người thầy. Người giáo viên “vừa hồng vừa chuyên” sẽ có sức mạnh cảm
hóa lớn lao, không chỉ thu hút, lôi kéo mà còn định hướng và điều khiển mọi
hoạt động học tập của học sinh.
Để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ mỗi giáo viên phải không

9


ngừng phấn đấu tự học, tự rèn nâng cao kiến thức, trình độ, năng lực chuyên
môn. Năng lực sư phạm bao hàm các phẩm chất trí tuệ như: Khả năng quan sát,
sáng tạo, các phẩm chất ngôn ngữ; các phẩm chất tư duy lí luận, biết đặt mình ở
vị trí của người học để hiểu họ và tự đánh giá về mình. Năng lực sư phạm còn
biểu hiện ở khả năng tổ chức cho người học, nhằm phát huy tính chủ động sáng
tạo, đáp ứng nhu cầu học tập. Biết kết hợp nhuần nhuyễn các phương pháp dạy
học hiện đại và nắm các kỹ năng dạy học cơ bản như kỹ năng định hướng, điều
khiển, trình bày, đặt câu hỏi, xử lý tình huống giảng dạy…
Có thể nói, xây dựng uy tín nhà trường là một quá trình liên tục và lâu dài.
Đó còn là một quá trình khổ luyện nên đòi hỏi mỗi chúng ta phải cố gắng không
ngừng.
III.5. Lập kế hoạch khảo sát đối tượng học sinh có hoàn cảnh đặc biệt khó
khăn ngay đầu các năm học.
Yêu cầu từng học sinh sau khi nghỉ hè đến trường đều phải trình bày hoàn
cảnh gia đình bằng văn bản nộp cho GVCN.

Hoàn cảnh gia đình
1
2

Đôn đốc giáo viên chủ nhiệm kịp thời nắm bắt tâm tư, sở thích, tính tình, tình
cảm của học sinh thông qua bạn bè cùng lớp, cùng trường báo cáo về hiệu
trưởng những trường hợp HSCHCĐBKK cần giúp đỡ về vấn đề gì?
III.6. Tổ chức họp với phụ huynh có học sinh cần giúp đỡ:
Như ta đã biết, gia đình là tế bào của xã hội, con trẻ hình thành nhân cách bắt
đầu từ gia đình. Vì vậy, nhà trường cần phối kết hợp với gia đình giúp đỡ học
sinh về tinh thần cũng như vật chất, trong các buổi họp phụ huynh toàn trường
xong, nhà trường dành thời gian họp riêng với phụ huynh có học sinh cần giúp
đỡ. Hiệu trưởng phải tham gia trực tiếp họp và lắng nghe ý kiến của phụ huynh
để bổ sung, điều chỉnh và rút kinh nghiệm. Thông qua giáo viên chủ nhiệm, chỉ
đạo nội dung họp với cha mẹ học sinh:
Giáo viên phải nắm chắc học sinh thuộc đối tượng nào, ghi chép ngắn gọn
đặc điểm của từng học sinh.
10


Trình bày phải ngắn gọn, rõ ràng và cụ thể, các bậc phụ huynh muốn biết thái
độ cư xử với thầy cô và bạn bè của con mình ra sao? nguyên nhân của việc học
giảm sút? lý do vi phạm nội quy nhà trường?...
Khi nói về HS với các bậc phụ huynh học sinh, giáo viên phải cẩn thận và
học sinh sống trong các hoàn cảnh khác nhau.
Giáo viên có thể sẽ thông báo trước với các bậc phụ huynh về vấn đề cần trao
đổi trong cuộc họp, nếu xảy ra những vấn đề nghiêm trọng cần thảo luận kín đáo
và lâu hơn. Bởi gia đình là nguồn động viên tinh thần quý giá và cũng là nơi
kiểm tra đánh giá thực tế, là nơi cung cấp phương tiện học tập cho học sinh. Vì
vậy, giáo viên đừng mang những điều quá bất ngờ đến với các bậc phụ huynh

và tìm nguyên nhân có nguy cơ bỏ học để có những biện pháp giúp đỡ kịp thời.
Nếu học sinh bỏ học vì khó khăn về kinh tế thì giúp đỡ bằng vật chất. Nếu học
11


sinh bỏ học vì khó khăn về tinh thần thì giúp đỡ bằng tinh thần.
8.2. Giúp đỡ học sinh yếu về học lực:
Nhà trường tập trung phụ đạo thêm hai môn Toán và Ngữ văn với mục đích
nâng cao chất lượng đại trà vì hai môn này liên quan đến việc xếp loại học lực
của học sinh.
Sau khi khảo sát chất lượng đầu năm học, nếu HSCHCĐBKK không đạt
điểm trung bình thì nhà trường giao cho giáo viên đứng lớp tranh thủ lúc trưa
đối với giáo viên ở xa hoặc buổi tối đối với giáo viên là người địa phương đến
tận nhà học sinh để phụ đạo thêm cho học sinh vì các em còn phải dành thời
gian ban ngày để phụ giúp gia đình.
Ví dụ: Môn Toán: Giúp học sinh tự phát hiện lỗi của mình. Sau đó có kế
hoạch trình bày để học sinh hiểu được loại lỗi nào mình thường mắc phải mà
không cảm thấy xấu hổ. Vì vậy, giáo viên nên phát triển cảm nhận của học sinh
về loại câu trả lời đúng. Nhắc nhở học sinh về tầm quan trọng của việc luyện tập
khi học toán. Môn toán được học thông qua việc làm bài tập toán, không phải
ngồi xem người khác làm. Cho học sinh nhiều bài tập để thực hành, giúp củng
cố kiến thức còn thiếu. Như vậy, học sinh có nhiều tiến bộ và bớt căng thẳng lo
sợ khi học toán. Không nên đánh giá học sinh quá nhiều dựa trên tốc độ làm bài.
Ví dụ: Môn Ngữ văn: Khi dạy cần tạo không khí văn học, bối cảnh lịch sử,
bối cảnh xã hội, thời đại mà nhà văn sáng tác nên tác phẩm văn học đó. Trong
đánh giá thì nên tế nhị, khéo léo động viên khích lệ gây hứng thú học tập cho
học sinh. Văn học là Nhân học, bởi vậy, trong quá trình dạy Văn học, giáo viên
cần chú ý liên hệ thực tế, thông qua đó bồi dưỡng tâm hồn, giúp các em có thế
giới nội tâm phong phú, biết yêu thương con người, yêu cái Thiện cái Đẹp, ghét
cái Ác cái Xấu, từ đó góp phần hình thành nhân cách cho học sinh một cách toàn

hội cùng phối hợp giúp đỡ học sinh chậm tiến bộ và tuyên dương, khen thưởng
những học sinh tiến bộ kịp thời.
Ví dụ: Năm học 2013 - 2014:
TT Họ và tên

Lớp

Con ông(bà)

Xóm

Xếp
loại
học
lực

Xếp
loại
hạnh
kiểm

Tiến
bộ

Giảm Nguyên
sút
nhân

1
2

dương trước toàn trường trong các buổi chào cờ đầu tuần hay sau mỗi đợt sơ kết
thi đua. Bồi dưỡng cho HSCHCĐBKK khi ôn luyện gấp hai lần đối với học sinh
có hoàn cảnh bình thường. Nếu đạt học sinh giỏi huyện thì tiền thưởng cao gấp
ba, đạt HSG tỉnh thì thưởng gấp bốn lần những bạn có hoàn cảnh bình thường.
9.2. Giúp đỡ HSCHCĐBKK có điều kiện ôn tập để thi vào các trường THPT:
Tâm lý HSCHCĐBKK chỉ cố gắng học hết lớp 9, có bằng TNTHCS để đi
làm ăn, phụ giúp gia đình (nhất là các gia đình đông con).
Hoạt động hướng nghiệp có vai trò quan trọng đối với việc tạo cho các em có
động lực, có niềm say mê học tập.
Khi hướng nghiệp các em, tôi tận tình giúp các em hiểu biết về những mảng
ngành nghề thuộc các lĩnh vực khoa học, xã hội khác nhau. Đặc biệt là cần thiết
của việc chọn nghề sao cho phù hợp với năng lực sở trường của mỗi em thì mới
giúp các em phát huy hết tài năng và sở thích của bản thân. Và như vậy, con
đường học lên PTTH là con đường hứa hẹn nhiều cơ hội giúp các em có điều
kiện trang bị thêm cho mình vốn kiến thức cần thiết để sau này phục vụ cho
công việc đạt kết quả cao nhất, đặc biệt là tự lo cho bản thân và gia đình tương
lai sau này. Hiểu được điều đó, mỗi học sinh đều nỗ lực ôn tập quyết tâm phấn
đấu thi đỗ vào các trường THPT góp phần vào thành tích chung của nhà trường
(tỷ lệ thi đỗ vào các trường THPT của trường THCS Nga Trường luôn luôn xếp
nhất - nhì toàn huyện).
Giúp đỡ về vật chất cho các em trong thời gian ôn tập: Giáo viên dạy thêm
miễn tiền học ôn thi vào THPT…
Giúp đỡ về ngày công lao động: Nhà trường phát động học sinh lớp 8 thu
hoạch mùa giúp các gia đình có các anh, chị lớp 9 đang ôn tập.
III.10. Giúp các em khơi dậy niềm vui trong cuộc sống và tin tưởng vào
chính bản thân mình để vươn lên học tập tốt.
- Hiệu trưởng phải nắm chính xác những nỗi phiền muộn của học sinh, có số
điện thoại để liên lạc khi cần thiết, có thể đến tận nhà học sinh để tìm hiểu sự
việc, trao đổi trực tiếp, chia sẻ, động viên các em kịp thời.
Ví dụ: Em Lại Thị Tâm học sinh lớp 9B năm học 2010 - 2011 là con gia đình

Bố mẹ ly dị (bố đi lấy vợ khác, mẹ đi lấy chồng khác) để em ở lại với bà nội trên
80 tuổi, không bao lâu bà nội lâm bệnh qua đời, em ở một mình thân gái sinh ra
chán nản muốn bỏ học để đi làm kiếm tiền sinh sống vì mẹ mỗi tháng gửi cho
con số tiền quá ít ỏi không có điều kiện để đến trường. Em được GVCN, chi hội
trưởng hội CMHS quan tâm chăm sóc cả về tinh thần và vật chất, đặc biệt em
được cô Trần Thị Thủy giáo viên bộ môn Địa lý đã đưa em về nhà mãi tận Bỉm
Sơn cách trường và nhà em 15 km để nuôi em và ôn luyện cho em suốt 1 tháng
trời. Vì thế, em đã vơi đi nỗi buồn và cảm động trước tình nghĩa thầy trò mà cố
gắng vươn lên học tập tốt. Kết quả, em đạt giải nhì học sinh giỏi cấp huyện môn
Địa lý và đỗ vào trường THPT Ba Đình Nga Sơn.
15


(Hình ảnh em Mai Thị Kiều Trang đang ngồi trước cửa nhà mình với tâm trạng
buồn bã và lo lắng về hoàn cảnh của gia đình)
- Giúp đỡ học sinh thuộc gia đình khá giả có bố mẹ đi làm ăn xa để con ở nhà
một mình hoặc nhờ ông bà và họ hàng chăm sóc nên các em thiếu thốn tình cảm
sinh ra chán nản, sống bất cẩn… dễ bị sa vào các tệ nạn xã hội.
Ví dụ: Em Mai Tuấn Thành là học sinh thuộc hộ cận nghèo năm học 2010
-2011, 2011 - 2012, do em được sống cùng bố mẹ và chị gái nên em đã chăm chỉ
học tập đạt HSG huyện lớp 6 và lớp 7. Đến năm học 2012 - 2013, gia đình em
thoát nghèo, kinh tế khá giả song em không đạt HSG huyện vì mẹ em ra Hà Nội
ở với bố, chị gái đi lấy chồng, em ở nhà một mình bị bạn xấu rủ rê đi chơi điện
tử làm ảnh hưởng đến kết quả học tập. Năm học 2013 - 2014 em được GVCN
và chi hội trưởng hội CMHS kịp thời giúp đỡ em về tinh thần, cô Nguyễn Thị
Trang nhiệt tình bồi dưỡng môn Toán cho em. Cảm động trước sự quan tâm của
mọi người em đã quyết tâm học tập đạt giải nhì HSG cấp huyện môn Toán tự
luận lớp 9, đạt giải nhì học sinh giỏi cấp tỉnh môn Máy tính Casio và đỗ vào
trường THPT Ba Đình Nga Sơn với số điểm rất cao. Đặc biệt, em được chọn
vào đội tuyển học sinh giỏi cấp Quốc gia môn Máy tính Casio.

Hội Cựu giáo chức xã về nội dung kêu gọi các lực lượng tham gia giúp đỡ
HSCHCĐBKK trong trường. Viết thư kêu gọi các nhà tài trợ ủng hộ học sinh có
xác nhận của Chủ tịch UBND xã và Chủ tịch hội khuyến học xã. Khi nhận tiền
của các nhà tài trợ đều có sự chứng kiến của Chủ tịch UBND, Chủ tịch hội
khuyến học xã và BGH cùng ban thanh tra của nhà trường. Nộp danh sách
HSCHCĐBKK đã nhận tiền hỗ trợ cho UBND - Hội khuyến học xã theo dõi và
lưu giữ. Thông báo danh sách cá nhân, tập thể ủng hộ cho HSCHCĐBKK trên
loa truyền thanh của xã. Ghi danh cá nhân, tập thể điền hình vào sổ vàng truyền
thống nhà trường. Viết thư cảm ơn những cá nhân, tập thể điển hình với số tiền
từ 2.000.000đồng trở lên.
(Danh sách các tập thể, cá nhân hảo tâm trong và ngoài nhà trường giúp đỡ về
vật chất cho HSCHCĐBKK giai đoạn 2010 - 2013 được minh chứng cụ thể ở
trang 23,24 của sáng kiến)
IV. KIỂM NGHIỆM:
IV.1. Chất lượng đội ngũ giáo viên giai đoạn 2010 - 2013:
Nhiệt tình, yêu nghề, mến trẻ, đoàn kết, luôn cố gắng hoàn thành xuất sắc
nhiệm vụ được giao. Đủ về số lượng và đồng bộ về cơ cấu. Chất lượng đội ngũ
đáp ứng được yêu cầu giáo dục.
CBGV có trình độ trên chuẩn chiếm tỷ lệ cao. Tỷ lệ giáo viên có phẩm chất
đạo đức tốt đạt 100%, nhiều giáo viên chủ nhiệm giỏi (có 5 đến 6 GVCN giỏi
17


trong tổng số 8 GVCN/ 8 lớp/năm), GVG cấp trường liên tục xếp thứ nhất toàn
huyện. GVG cấp huyện hai năm liền được xếp thứ nhất toàn huyện. GVG cấp
tỉnh đạt chỉ tiêu.
IV.2. Chất lượng học sinh:
- Bỏ học: Toàn trường có 3em (trong đó không có HSCHCĐBKK), giảm 4em
so với 2006 - 2009. Lưu ban: Toàn trường có 3 em (trong đó chỉ có 1 em là
HSCHCĐBKK), giảm 3 em so với giai đoạn 2006 - 2009.

Tỷ lệ học lực TB
Tỷ lệ học lực yếu
HSTT HSCHCĐBKK HSTT HSCHCĐBKK HSTT HSCHCĐBKK

226

58,9

19,9

36,7

13,3

4,4

2,2

233

60,1

18,0

35,6

13,7

4,3


Bảng 2: Hạnh kiểm của HSCHCĐBKK so với học sinh toàn trường(HSTT):
Năm
học
2010
2011
2011
2012
2012
2013
2013
2014

Tổng
Tỷ lệ hạnh kiểm
Tỷ lệ hạnh kiểmTB
Tỷ lệ hạnh kiểm yếu
số
khá, tốt
HSTT HSTT HSCHCĐBKK HSTT HSCHCĐBKK HSTT HSCHCĐBKK
226

98,7

34,5

1,3

0,9

0,0


220

100,0

40,9

0,0

0,0

0,0

0,0

(Theo dõi kết quả học lực- hạnh kiểm của từng HSCHCĐBKK theo từng năm
học và bảng tổng hợp HL- HK cả giai đoạn 2006 - 2013 được ghi trong đĩa CD)
18


Bảng 3: Chất lượng HSG huyện, tỉnh thể hiện trong bảng số liệu sau:
Năm học

Đối tượng
học sinh

2010
2011

HSTT

hóa
(MK)
(VH)

36

36

36

36

24

27

13

`14

26

41

6

5

25



1(VH)
1(MK)
0

( Danh sách học sinh có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn đạt HSG cấp huyện, cấp
tỉnh được ghi trong đĩa CD).
IV.3. Kết quả huy động các nguồn lực:
3.1. Số HSCHCĐBKK giai đoạn 2010 - 2013: 343 em giảm 318 em so với
giai đoạn 2006 - 2009.
Năm học

Nghèo

2010 - 2011
2011 - 2012
2012 - 2013
2013 - 2014
Tổng

43
36
37
38
154

Cận
nghèo
25
31

81
81
91
90
343

3.2. Kinh phí huy động: Số tiền nhiều hơn giai đoạn 2006 - 2009, thể hiện
trong bảng số liệu so sánh sau:
Giai đoạn

HSTT

HSCHCĐBKK

Số tiền huy động

2006 - 2009
1196
661
35.385.000đ
2010 - 2013
910
343
127.825.000đ
IV.4. Kết quả thi đua khen thưởng của nhà trường

Giai đoạn
2006
2009
2010

Mặt khác, đội ngũ CBGV phải được nâng cao về phẩm chất đạo đức nhất là giáo
viên chủ nhiệm phải có năng lực cảm hóa học sinh, năng lực đối xử sư phạm
khéo léo, quan tâm và trách nhiệm đến từng HSCHCĐBKK. Đặc biệt, nhà
trường phải làm tốt công tác tham mưu với Đảng - Chính quyền các cấp và phối
hợp chặt chẽ với các tổ chức đoàn thể trong và ngoài nhà trường.
Một trường học đóng trên địa bàn xã đến thời điểm năm 2013 mới đạt 6/19
tiêu chí xây dựng nông thôn mới(quá chậm so với các xã khác trong toàn huyện)
mà phấn đấu đạt danh hiệu"tập thể lao động xuất sắc" 4 năm liền. Phải khẳng
định Hiệu trưởng đã có những giải pháp hữu hiệu phù hợp với tình hình thực tế
của địa phương và nhà trường. Các giải pháp đó là:
1. Làm tốt công tác tuyên truyền.
2. Tập trung nâng cao phẩm chất đạo đức của người thầy.
3. Bồi dưỡng đội ngũ giáo viên chủ nhiệm.
4. Xây dựng uy tín nhà trường.
5. Lập kế hoạch khảo sát học sinh có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn cần giúp đỡ.
6. Tổ chức họp với phụ huynh có học sinh cần giúp đỡ.
7. Làm tốt công tác tham mưu với Đảng - Chính quyền địa phương; với Hội
khuyến học - Huyện đoàn - Hội CTĐ huyện.
8. Giúp đỡ học sinh có nguy cơ bỏ học và yếu về học lực - hạnh kiểm, học sinh
khuyết tật.
9. Giúp đỡ HSCHCĐBKK phấn đấu đạt HSG cấp huyện, tỉnh và có điều kiện ôn
tập để thi vào các trường THPT.
10. Giúp các em khơi dậy niềm vui trong cuộc sống và tin tưởng vào chính bản
thân mình để vươn lên học tập tốt.
11. Phát huy nội lực trong nhà trường và tranh thủ sự ủng hộ của cá nhân, tập
thể hảo tâm ngoài nhà trường.
Một số giải pháp "Huy động các lực lượng xã hội để giúp đỡ học sinh có
hoàn cảnh đặc biệt khó khăn" được đúc rút tại trường THCS Nga Trường huyện Nga Sơn, nó thể hiện sự cố gắng hết sức của bản thân và HĐSP nhà
trường. Rất mong sự góp ý của các bạn đồng nghiệp và Hội đồng giám khảo.
Xin chân thành cảm ơn!

VÀ GHI DANH TRONG SỔ VÀNG TRUYỀN THỐNG CỦA NHÀ TRƯỜNG
GIAI ĐOẠN 2010 - 2013

Năm
học

2010
2011

Số tiền

Nội dung

2.075.000đ - Tặng vở nhân ngày
khai giảng năm học
mới.
22.500.000đ - Tặng 45 xuất học
bổng
cho
45
HSCHCĐBKK học khá
giỏi.
3.000.000đ - Bồi dưỡng và khen
thưởng.

Tập thể, cá nhân, địa chỉ
- Ông Nguyễn Văn Công xóm
2 hiện công tác tại Hà Nội.
- Tổ chức ASA Hà Nội


Nga Trường.
- Tặng 58 áo hè và 58 - Công ty cổ phần Bảo Linh
áo đông.
Nam Định do ông Lê Quang
Thưởng kêu gọi tài trợ.
- Bồi dưỡng và khen - Hoàng Thị Yến - Hiệu
thưởng.
trưởng nhà trường.
- Tặng 1 sổ tiết kiệm.
- CBGV và HS trường THCS
Nga Trường.
- Tặng quà và áo ấm - CBGV và HS trường THCS
nhân dịp tết NĐ.
Nga Trường.
- Bồi dưỡng và khen - Ông Nguyễn Văn Công xóm
thưởng.
2 hiện công tác tại Hà Nội.
- Bồi dưỡng và khen - Ông Trần Bảo Hoàng xóm 8
thưởng.
Nga Trường hiện đang công tác
tại công ty CP các dân tộc VN.
- Bồi dưỡng và khen -- Anh Mai Văn Dũng công
23


thưởng.
2.300.000đ - Khen thưởng

nhân xây lắp Bỉm Sơn.
-- Hoàng Thị Yến - Hiệu trưởng

2.000.000đ - Tặng 1 sổ tiết kiệm.

- CBGV và HS toàn trường

- Tặng 10 xuất quà tết
2.000.000đ Nguyên Đán.
- CBGV và HS toàn trường
10.000.000đ

- Khen thưởng.

- Cô Mai Thị Nguyệt xóm 6
Nga Trường hiện đang công
tác ở Hà Nội.

3.000.000đ - Bồi dưỡng và khen - Anh Mai Văn Đô Gia Lâm
Hà Nội.
thưởng.
Tổng 127.825.000
(Một trăm hai mươi bẩy triệu tám trăm hai lăm ngàn đồng)

24




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status