Biện pháp quản lý việc phối hợp giữa các lực lượng giáo dục ở các trường trung học phổ thông ngoài công lập thành phố vinh - Pdf 33

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

TRẦN MINH HOẠT

BIỆN PHÁP QUẢN LÝ VIỆC PHỐI HỢP GIỮA
CÁC LỰC LƯỢNG GIÁO DỤC Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC
PHỔ THÔNG NGOÀI CÔNG LẬP THÀNH PHỐ VINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Nghệ An, 2015


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

TRẦN MINH HOẠT

BIỆN PHÁP QUẢN LÝ VIỆC PHỐI HỢP GIỮA
CÁC LỰC LƯỢNG GIÁO DỤC Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC
PHỔ THÔNG NGOÀI CÔNG LẬP THÀNH PHỐ VINH

Chuyên ngành:
Mã số:

QUẢN LÝ GIÁO DỤC
60.14.01.14

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC


NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
STT
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.

Chữ viết tắt
CBQL
CMHS
CNH-HĐH

Giáo viên chủ nhiệm
Hội đồng nhân dân
Học sinh
Khoa học
Kinh tế-xã hội
Lực lượng giáo dục
Nghiên cứu khoa học
Phụ huynh học sinh
Trung học phổ thông
Quản lý
Quản lý giáo dục
Quản lý phối hợp
Quản lý xã hội
Uỷ ban nhân dân
Văn hóa-kinh tế-xã hội


MỤC LỤC

A. MỞ ĐẨU
1. Lý do chọn đề tài.
Về mặt lý luận, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác-Lênin đã từng khẳng
định “Bản chất của con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội”. Lý luận
của tâm lý học, giáo dục học cũng khẳng định trong quá trình phát triển nhân
cách, con người luôn bị tác động của 4 yếu tố: Bẩm sinh di truyền; hoàn cảnh
tự nhiên, đặc biệt là quan hệ xã hội; tác động của giáo dục và hoạt động của
cá nhân. Vì vậy, muốn nâng cao hiệu quả, chất lượng giáo dục đòi hỏi các nhà
quản lý giáo dục phải tuân theo các quy luật phát triển và phải có những giải
pháp phát huy được sức mạnh tổng hợp của các lực lượng giáo dục trong toàn
xã hội tham gia vào quá trình giáo dục.

tượng tiêu cực vào nhà trường. Khắc phục tình trạng chúng ta mới chỉ quan
tâm đến dạy chữ, mà chưa quan tâm đến dạy người. Giáo dục gia đình không
nên khoán hết cho xã hội và nhà trường. Thực sự coi trọng giáo dục chủ
nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng,
chính sách của Nhà nước nhằm đào tạo những con người mới xã hội chủ
nghĩa, vừa hồng vừa chuyên” [3, tr 131].. Song, thực tiễn nhiều năm gần đây
một bộ phận không nhỏ học sinh THPT nói chung, học sinh THPT ngoài
Công lập nói riêng có những biểu hiện không lành mạnh về đạo đức, lối sống
và sự sút kém về kết quả học tập. Phải chăng nguyên nhân do nhà trường
chưa quan tâm đúng mức, chưa có những biện pháp quản lý khoa học tạo ra
sự thống nhất để kịp thời ngăn ngừa những biểu hiện không lành mạnh ở học
sinh, nhà trường chưa chủ động thực hiện Điều 93, Luật giáo dục 2005 “Nhà
trường có trách nhiệm chủ động phối hợp với gia đình và xã hội để thực hiện
mục tiêu, nguyên lý giáo dục”.
Từ những lý do trên, tác giả tiến hành nghiên cứu đề tài "Biện pháp
quản lý việc phối hợp các lực lượng giáo dục ở các trường THPT ngoài Công
lập thành phố Vinh " .


7
2. Mục đích nghiên cứu.
Trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết và thực tiễn, đề xuất các biện pháp quản
lý việc phối hợp các lực lượng giáo dục nhằm nâng cao chất lượng giáo dục của
các trường THPT ngoài Công lập ở thành phố Vinh tỉnh Nghệ An.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu: Vấn đề quản lý công tác phối hợp các lực lượng
giáo dục ở các trường THPT ngoài Công lập.
3.2. Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp quản lý việc phối hợp các lực lượng
giáo dục ở các trường THPT ngoài Công lập thành phố Vinh.
4. Giả thuyết khoa học.

- Đối tượng khảo sát: Giáo viên, học sinh, phụ huynh học sinh, cán bộ
QLGD, cán bộ QL xã hội.
Chỉ nghiên cứu cách thức quản lý việc phối hợp giữa nhà trường với gia
đình và xã hội tạo ra môi trường giáo dục thống nhất và phát huy tiềm năng
xã hội vào các hoạt động giáo dục.
8. Những đóng góp của luận văn.
- Làm sáng tỏ cơ sở của việc quản lý phối hợp giữa các lực lượng giáo
dục trong hoạt động giáo dục.
- Đánh giá thực trạng quản lý việc phối hợp giữa các lực lượng giáo
dục ở các trường THPT ngoài Công lập thành phố Vinh
- Đề tài đã đề xuất một số biện pháp quản lý phối hợp giữa giữa các lực
lượng giáo dục ở các trường THPT ngoài Công lập .
9. Cấu trúc của luận văn.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị và tài liệu tham khảo. Luận
văn sẽ được trình bày qua 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của việc quản lý phối hợp các lực lượng giáo
dục ở các trường THPT ngoài Công lập.
Chương 2: Thực trạng việc quản lý phối hợp các lực lượng giáo dục ở
các trường THPT ngoài Công lập thành phố Vinh.


9
Chương 3: Một số biện pháp quản lý phối hợp các lực lượng giáo dục ở
các trường THPT ngoài Công lập thành phố Vinh.

B. NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC QUẢN LÝ PHỐI HỢP
CÁC LỰC LƯỢNG GIÁO DỤC Ở CÁC TRƯỜNG THPT
NGOÀI CÔNG LẬP

trong công việc.
Tư tưởng về quản lý con người và những yêu cầu về người đứng đầu
cai trị dân còn tìm thấy trong quan điểm của nhà triết học cổ đại Hy Lạp
Platôn (427- 347 TrCN). Theo ông, muốn trị nước thì phải biết đoàn kết dân
lại, phải vì dân. Người đứng đầu phải ham chuộng hiểu biết, thành thật, tự
chủ, biết điều độ, ít tham vọng về vật chất, đặc biệt là phải được đào tạo kỹ
lưỡng.
Vào thế kỷ thứ XVII, có những nhà nghiên cứu về quản lý tiêu biểu
như: Rober Owen (1771 - 1858), Charles Babbage (1792 - 1871), F. Taylo
(1856 - 1915) người được coi là “cha đẻ” của “Thuyết quản lý theo khoa học”
...
Do những lợi ích lớn lao của quản lý mà sang thế kỷ XIX, đầu thế kỷ
XX xuất hiện hàng loạt các công trình nghiên cứu với nhiều cách tiếp cận
khác nhau về quản lý như: Tính khoa học và nghệ thuật quản lý, làm thế nào
để việc ra quyết định quản lý đạt hiệu lực cao, những động cơ để thúc đẩy
một tổ chức phát triển ... Thành công trong quản lý đã tạo ra một số hiện
tượng nhảy vọt thần kỳ trong phát triển kinh tế - xã hội, như sự xuất hiện các
con rồng Châu Á: Nhật Bản, Singapo, Trung Quốc... ở thế kỷ XX.
1.1.2. Ở Việt Nam


11
Khoa học quản lý ở Việt Nam tuy được nghiên cứu muộn, nhưng tư
tưởng về quản lý cũng như “Phép trị nước an dân” đã có từ lâu đời. Trong
“Bình ngô đại cáo” Nguyễn Trãi viết: “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”... qua
đó chúng ta cũng thấy rằng các ông vua hiền tài đất Việt từ xa xưa đã biết lấy
dân làm gốc trong việc quản lý đất nước.
Nhiều công trình nghiên cứu gần đây về khoa học quản lý của các nhà
nghiên cứu và các giáo sư giảng dạy các trường đại học... viết dưới dạng giáo
trình, sách tham khảo, phổ biến kinh nghiệm... đã được công bố. Đó là các tác

ứng được đòi hỏi của giáo dục Nghệ An; góp phần nâng cao chất lượng giáo
dục, tạo ra bước chuyển biến cơ bản về chất lượng giáo dục theo hướng tiếp
cận trình độ thế giới, phục vụ thiết thực cho sự phát triển kinh tế trong thời kỳ
hội nhập của đất nước.
Vì vậy vấn đề phối hợp, quản lý sự phối hợp 3 lực lượng “Nhà trường,
gia đình và xã hội nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục cho học sinh ” đã trở
thành một đề tài nghiên cứu khoa học của các nhà giáo dục. Những nhà giáo
dục đã đi sâu vào đề tài này phải kể đến: GS -TS Hà Thế Ngữ, GS -TS Đức
Minh, GS-TS Đặng Vũ Hoạt đã đề cập đến vai trò, vị trí, ý nghĩa cực kỳ quan
trọng của sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội để nâng cao hiệu
quả giáo dục học sinh. Trong các giáo trình Giáo dục học của Phạm Cốc Đức Minh vào những năm 70, sau đó là của Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt Nxb giáo dục (1989) vấn đề này cũng được đưa vào một số giáo trình khác
như giáo dục gia đình của PGS - TS Phạm Khắc Chương - Nxb giáo dục (1997).
Trong những năm vừa qua cũng đã có những luận văn thạc sỹ liên quan
đến vấn đề quản lý giáo dục ở những cấp độ và phạm vi khác nhau. Cũng có
nhiều luận văn thạc sỹ nghiên cứu về vấn đề phối hợp giáo dục giữa nhà
trường, gia đình và xã hội ở tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông
của một số tác giả như: Hồ Văn Thơm với đề tài: “Thực trạng quản lý sự
phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong công tác giáo dục học sinh ở các
trường Trung học phổ thông huyện Cần Đước, tỉnh Long An”; Phạm Thị
Minh Tâm “Một số biện pháp tổ chức phối hợp các lực lượng giáo dục trong


13
công tác giáo dục cho học sinh trường THPT”; Đoàn Thị Thu Hà “Quản lý
sự phối hợp các lực lượng trong giáo dục đạo đức cho học sinh của hiệu
trưởng Trung học Cơ sở huyện Vũ Thư, Thái Bình ". Riêng với đề tài: "Biện
pháp quản lý việc phối hợp các lực lượng giáo dục ở các trường THPT ngoài
Công lập " vẫn còn là một vấn đề mới, những công trình nghiên cứu một cách
đầy đủ chỉ là từng mặt của vấn đề. Do đó khi chúng tôi lựa chọn đề tài này để
nghiên cứu từ ban đầu đã thấy khó khăn là có quá ít tài liệu để tham khảo.

lực lượng có tầm quan trọng, có nhiệm vụ, có phương pháp và tính ưu việt
riêng.
- Nhà trường: Là một tổ chức xã hội đặc thù với cấu trúc tổ chức chặt
chẽ, có nhiệm vụ chuyên biệt là giáo dục, đào tạo các thế hệ phát triển nhân
cách theo những định hướng của xã hội.
- Quá trình thể hiện chức năng trên là quá trình tổ chức các hoạt động
dạy, học, giáo dục...theo hệ thống chương trình nội dung được tổ chức một
cách chặt chẽ, bài bản.
- Gia đình: “Gia đình là tế bào của xã hội, là tập hợp của những người
cùng chung sống là một đơn vị nhỏ nhất trong xã hội, họ gắn bó với nhau
bằng quan hệ hôn nhân về dòng máu, thường gồm vợ chồng, cha mẹ, con
cái”. [9 - tr4]
Gia đình hạnh phúc dựa trên nguyên tắc cơ bản là mọi người đều phải
yêu thương quý mến nhau, giúp đỡ nhau trong công việc gia đình và xã hội
giữ đúng tư cách là trách nhiệm của mình trong gia đình.
- Các lực lượng xã hội bao gồm: Các cơ quan nội chính, các tổ chức
chính trị xã hội, các tổ chức kinh tế, các đoàn thể quần chúng, các cơ quan
chức năng. [39 - tr7]
1.2. 2. Phối hợp và phối hợp các lực lượng giáo dục:
1.2.2.1. Phối hợp giáo dục.
Phối hợp là hoạt động cùng nhau của hai hay nhiều cá nhân, tổ chức để
hỗ trợ cho nhau cùng thực hiện một công việc chung nhằm đạt được một hay
nhiều mục tiêu nào đó.


15
Phối hợp giáo dục là sự hoạt động cùng nhau của các cá nhân, tổ chức
trong và ngoài nhà trường để thực hiện mục tiêu giáo dục.
Bản chất của quá trình phối hợp giáo dục là sự thỏa thuận chung để đi
đến nhất trí chung về nhận thức, mục tiêu, nội dung, phương thức thực hiện.

chung và học sinh THPT nói riêng. Trong việc kết hợp sự tác động của các
môi trường ấy vai trò của nhà giáo dục là rất quan trọng vì vậy: “Nhà giáo dục
phải có tầm nhìn, phải có kế hoạch, có chiến lược, phải hiểu đối tượng dự
định tiếp cận và huy động thì mới có thể đạt được những điều mong muốn".
[44 - tr31]
1.2.3. Quản lý và quản lý phối hợp các lực lượng giáo dục
1.2.3.1. Quản lý
Ngày nay thuật ngữ quản lý đã trở nên phổ biến nhưng chưa có một
định nghĩa thống nhất. Có người cho quản lý là hoạt động nhằm đảm bảo sự
hoàn thành công việc qua sự nổ lực của người khác. Cũng có người cho quản
lý là một hoạt động thiết yếu nhằm đảm bảo phối hợp những nổ lựccá nhân
nhằm đạt được mục đích của nhóm. Tuy nhiên, theo nghĩa rộng, quản lý là
hoạt động có mục đích của con người, cho đến nay nhiều người cho rằng:
Quản lý chính là các hoạt động do một hoặc nhiều người điều phối hành động
của những người khác nhằm thu được kết quả mong muốn. Từ những ý chung
của các định nghĩa và xét quản lý với tư cách là một hành động, có thể định
nghĩa: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý
tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra.
1.2.3.2. Quản lý phối hợp các lực lượng giáo dục.
Quản lý sự phối hợp theo nghĩa tổng quan là hoạt động điều hành, phối
hợp các lực lượng xã hội theo kế hoạch đã bàn và được cam kết nhằm đẩy
mạnh công tác giáo dục thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội. Có sự đánh
giá, rút kinh nghiệm sau mỗi hoạt động, lấy ý kiến đánh giá phản hồi từ phía
học sinh, giáo viên, các lực lượng xã hội về hiệu quả các hoạt động đã thực
hiện.
1.2.4. Biện pháp và biện pháp quản lý phối hợp các lực lượng giáo dục


17
1.2.4.1. Biện pháp.

18
Cần quản lý việc tham gia tích cực của cha mẹ vào hội phụ huynh của
trường, quan tâm giúp đỡ nhà trường xây dựng cơ sở vật chất, các phương
tiện dạy học để nhà trường có điều kiện nâng cao chất lượng giáo dục. Gia
đình cần xây dựng truyền thống “tôn sư trọng đạo”, bảo vệ uy tín thầy cô
giáo, tránh các hành vi coi thường thầy cô giáo trước mặt con cái…
Trong sự phát triển nguồn nhân lực cho đất nước đang đổi mới hiện
nay, rõ ràng nổi lên yêu cầu cấp bách là nâng cao chất lượng người lao động,
đào tạo nhân tài, đào tạo con người có nhân cách phù hợp với xã hội mới. Để
hình thành được những con người như vậy cần có sự kết hợp nhịp nhàng đồng
bộ và hỗ trợ giữa ba môi trường giáo dục : gia đình - nhà trường và xã hội, tác
động mạnh vào việc phát triển nhân cách toàn diện cho trẻ em. Muốn tạo ra
mối liên kết chặt chẽ đó, nhà trường cần phải phát huy vai trò trung tâm, tổ
chức phối hợp dẫn dắt nội dung, phương pháp giáo dục của gia đình và các
lực lượng trong xã hội. Để thống nhất và tập hợp được sức mạnh của toàn xã
hội trong việc giáo dục thế hệ trẻ, nhà trường một mặt phải làm tốt việc giảng
dạy giáo dục của toàn thể cán bộ giáo viên trong nhà trường. Mặt khác, phải
phối hợp chặt chẽ với gia đình, với các tổ chức xã hội hướng vào một số công
việc cụ thể sau đây:
- Đưa nội dung, mục tiêu giáo dục trong nhà trường vào các tổ chức xã
hội trong địa phương như đoàn thanh niên , hội phụ nữ, hội cựu chiến binh,
câu lạc bộ những người cao tuổi…nhằm thống nhất định hướng tác động đối
với quá trình hình thành và phát triển nhân cách của học sinh
- Phát huy vai trò nhà trường là trung tâm văn hóa giáo dục của địa
phương, tổ chức việc phổ biến các tri thức khoa học kỹ thuật, văn hóa xã
hội…đặc biệt là những kiến thức biện pháp giáo dục học sinh trong điều kiện
xã hội phát triển theo cơ chế thị trường đang rất phức tạp cho các bậc cha mẹ,
giúp họ hiểu được đặc điểm trong đời sống, tâm sinh lý của học sinh hiện nay
- Phối hợp với địa phương tổ chức cho học sinh tham gia tích cực vào
các hoạt động văn hóa xã hội như: xóa đói giảm nghèo, dân số kế hoạch hóa

mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước hoặc Ngân hàng Thương mại.
1.3.1.2. Nhiệm vụ và quyền hạn của trường THPT ngoài Công lập:


20
Trường phổ thông Tư thục có nhiệm vụ và quyền hạn như trường công
lập theo quy định tại Điều lệ trường tiểu học; Điều lệ trường trung học cơ sở;
trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học; quy chế về
tổ chức và hoạt động của các trung tâm kỷ thuật- hướng nghiệp tương ứng đối
với mỗi cấp học ( gọi tắt là điều lệ trường phổ thông) trong việc thực hiện
mục tiêu, nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục và các quy định liêm
quan đến giảng dạy, học tập, thi, kiểm tra, công nhận tốt nghiệp, cấp bằng
chứng chỉ và các quy định...
Trường phổ thông tư thục tự chủ và tự chịu trách nhiệm về quy hoạch,
kế hoạch phát triển nhà trường, tổ chức các hoạt động giáo dục, xây dựng và
phát triển đội ngũ nhà giáo, huy động, sử dụng và quản lý các nguồn lực để
thực hiện mục tiêu giáo dục phổ thông.
Văn bằng, chứng chỉ do trường tư thục, trường công lập cấp có giá trị
pháp lý như nhau. Trường tư thục chịu sự quản lý của cơ quan quản lý nhà
nước về giáo dục theo quy định của Chính phủ.
1.3.2. Vấn đề phối hợp các lực lượng giáo dục ở các trường THPT ngoài Công
lập
Việc phối hợp thống nhất các lực lượng giáo dục đã trở thành một
nguyên tắc cơ bản của giáo dục. Bản chất của việc phối hợp đó là đạt được sự
thống nhất về các yêu cầu giáo dục đúng đắn, đầy đủ và vững chắc, tạo được
môi trường giáo dục thuận lợi trong nhà trường, trong gia đình và ngoài xã
hội. Nhờ có môi trường giáo dục đó, học sinh buộc phải hành động theo đúng
các yêu cầu và các chuẩn mực ứng xử. Môi trường giáo dục bao gồm: Những
yêu cầu thống nhất của nhà trường, gia đình và xã hội đối với hành vi của học
sinh, những tình huống được tạo ra trong cuộc sống để các hành vi tích cực có

không thể không nói tới vai trò giáo dục của xã hội ảnh hưởng tới sự hình
thành và phát triển nhân cách toàn diện cho học sinh. Giáo dục xã hội bao
gồm hoạt động giáo dục do các đoàn thể nhân dân tham gia như đoàn thanh
niên, cộng đồng dân cư, hội phụ nữ, công an... tổ chức cho các em tham gia
vào các hoạt động xã hội tạo thành môi trường giáo dục rộng lớn cho các em.
Việc tổ chức hướng dẫn các hoạt động ngoài giờ lên lớp cho học sinh tạo điều


23
kiện cho sự phối hợp các lực lượng chặt chẽ hơn và đồng bộ hơn giúp cho
việc giáo dục toàn diện học sinh một cách tốt nhất và có hiệu quả nhất.
1.4.1. Ý nghĩa của việc quản lý phối hợp các lực lượng giáo dục trong giai
đoạn hiện nay.
Trong điều kiện hiện nay, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế đang là xu
thế chung của thế giới. Tiến trình hội nhập và sự tham gia chính thức của Việt
Nam vào WTO đã mang lại những cơ hội và những thách thức đòi hỏi nhà
trường phải vượt qua, cần phải có những chiến lược phù hợp để thích nghi với
môi trường mới, đáp ứng những yêu cầu về sản phẩm giáo dục cho xã hội.
Việc tìm kiếm giải pháp thống nhất giữa các lực lượng giáo dục chính
là tạo ra sức mạnh tổng hợp và đồng bộ trong toàn xã hội đáp ứng được yêu
cầu của xã hội và hạn chế tối đa những ảnh hưởng tiêu cực của cơ chế thị
trường, từ đó xây dựng một môi trường sư phạm lành mạnh tạo ra những tác
động tích cực cho quá trình giáo dục học sinh, là điều kiện tiến quyết cho sự
phát triển thành công.
Việc trang bị kiếm thức cơ bản, định hướng cho học sinh THPT ngoài
Công lập về nghề nghiệp các chuẩn mực giá trị đạo đức hạn chế những ảnh
hưởng không lành mạnh là rất cần thiết. Yêu cầu đó không chỉ là trách nhiệm
của nhà trường mà cần phải có sự phối hợp và quản lý phối hợp chặt chẽ giữa
các lực lượng giáo dục.
Việc phối hợp các lực lượng giáo dục tạo ra sự ràng buộc lẫn nhau, tạo

chính trị xã hội, thông qua các phong trào như xây dựng đời sống văn hoá cơ
sở, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, hoạt động các ban phòng chống tệ
nạn xã hội, nội dung tuyên truyền, vận động định hướng tư tưởng, giáo dục
của các cơ quan và phương tiện thông tin đại chúng …
Một trong những yêu cầu để tạo ra môi trường giáo dục lành mạnh là
dân chủ hoá, điều đó thể hiện ở chủ trương giáo dục cho mọi người. Mọi
người dân có quyền bình đẳng về giáo dục. Dân chủ hoá giáo dục gắn liền với
công bằng giáo dục. Dân chủ hoá GD THPT đòi hỏi mọi học sinh đều được
hưởng quyền chăm sóc giáo dục, đảm bảo mục tiêu trẻ đến trường lớp ở các
loại hình công lập, ngoài công lập và ở gia đình đều được chăm sóc giáo dục


25
như nhau. Dân chủ hoá giáo dục là nội dung cơ bản của sự nghiệp đổi mới
giáo dục, và là con đường biến hệ thống giáo dục và trường học từ một thiết
chế hành chính, thành một thiết chế giáo dục hoàn toàn là của dân, do dân và
vì dân.
Như vậy, nội dung và biện pháp nâng cao vai trò phối hợp quản lý tạo
ra môi trường giáo dục thực sự dân chủ và lành mạnh là giải pháp cấp thiết
hiện nay trong quá trình phối hợp quản lý giáo dục.
1.4.2. Việc quản lý công tác phối hợp các lực lượng giáo dục tạo nên
sức mạnh tổng hợp phát huy được những tiềm năng phong phú của toàn
xã hội tham gia vào quá trình giáo dục hình thành và phát triển nhân cách
học sinh.
Mục tiêu của quản lý phối hợp các lực lượng giáo dục là tạo ra sự thống
nhất, đồng thuận và gắn trách nhiệm của cộng đồng xã hội vào sự nghiệp phát
triển giáo dục, tăng cường các lực lượng tham gia làm giáo dục tạo nên sức
mạnh tổng hợp cùng chăm lo cho giáo dục.
Quản lý phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội nhằm giáo dục
cho học sinh là tác động vào các đối tượng tạo ra mối liên hệ tác động hướng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status