Các biện pháp quản lý sinh viên nội trú các trường Đại học ngoài công lập nhằm nâng cao chất lượng đào tạo trong điều kiện đổi mới giáo dục đại học hiện nay - Pdf 25



Đại học quốc gia hà nội
Khoa s- phạm
D-ơng Thị Ngọc THuỷ Các biện pháp quản lý sinh viên nội trú
các tr-ờng đại học ngoài công lập
nhằm nâng cao chất l-ợng đào tạo
trong điều kiện đổi mới giáo dục đại học hiện nay.

Luận văn thạc sĩ Quản lý Giáo dục

Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60 14 05 Ng-ời h-ớng dẫn khoa học: TS. Trần Anh Tuấn

GD
GIÁO DỤC
GD & ĐT
Giáo dục và Đào tạo
GV
GIẢNG VIÊN
HSSV
Học sinh sinh viên
KTX
KÝ TÚC XÁ
NCKH
Nghiên cứu khoa học
XHH
XÃ HỘI HOÁ
XHHT
Xã hội học tập
Công nghệ Sài Gòn
Bảng 2.2.2.2.B. Hiệu quả hoạt động của Ban quản lý KTX ĐHDL Hải Phòng
Bảng 2.2.2.2.C. Hiệu quả hoạt động của Ban quản lý KTX ĐH Công nghệ
Sài Gòn
Bảng 2.2.2.2.D. Mức độ các hoạt động văn hoá, thể thao tại KTX trường
ĐHDL Hải Phòng và ĐHDL Công nghệ Sài Gòn
Bảng 3.3.2.1. Kết quả khảo sát tính cần thiết và tính khả thi của các biện
pháp quản lý HSSV nội trú Trường ĐH Phương Đông
Bảng 3.3.2.2.A. Kết quả khảo sát tính cần thiết và tính khả thi của các biện
pháp quản lý HSSV nội trú Trường ĐHDL Hải Phòng
Bảng 3.3.2.2.B. Kết quả khảo sát tính cần thiết và tính khả thi của các biện
pháp quản lý HSSV nội trú Trường ĐH Công nghệ Sài Gòn 1
MC LC

TRA
NG
M U
3
1. Lý do chn ti
3
2. Mc ớch nghiờn cu
5
3. Nhim v nghiờn cu
5
4. Khỏch th v i tng nghiờn cu
5
5. Gi thuyt khoa hc

1.3. Vn i mi giỏo dc i hc hin nay
31
1.3.1. Xu th th gii
31
1.3.2. Mt s nh hng i mi GDH Vit Nam
34
1.4. Tiu kt chng I
38
Chng 2. Thực trạng công tác quản lý học sinh sinh viên
nội trú tại các tr-ờng đại học ngoài công lập 2.1 . Quỏ trỡnh phỏt trin v c im KTX cỏc trng i hc NCL
39
2.1.1. Vi nột v quỏ trỡnh hỡnh thnh, phỏt trin ca i hc NCL
39
2.1.2. Khỏi quỏt c im KTX cỏc trng i hc NCL
42
2.2. Thc trng cụng tỏc qun lý HSSV ni trỳ cỏc trng i hc NCL
45 2
2.2.1. Trng HDL Phng ụng
45
2.2.2. Mt s trng i hc ngoi cụng lp khỏc
60
2.2.3. Nhng vn rỳt ra t thc trng
68
Chng 3. các biện pháp quản lý Học sinh sinh viên nội trú

qun lý thi gian t hc ca HSSV ni trỳ

83
3.2.5. Phi hp tt vi cỏc b phn qun lý o to trong trng
84
3.2.6. Tng cng phi hp vi on Thanh niờn, Hi Sinh viờn t chc cỏc sinh
hot tp th phc v cho HSSV ni trỳ

85
3.2.7. Phi hp tt vi cỏc b phn phc v o to trong trng m bo hot
ng t hc ca HSSV ni trỳ

86
3.2.8. Tng cng cỏc iu kin phc v v qun lý hiu qu c s vt cht
87
3.2.9. Tng cng hiu qu phi hp vi cỏc c quan chc nng, cỏc t chc
xó hi ti a bn dõn c

88
3.2.10. Tng cng hiu qu vic kim tra, ỏnh giỏ cụng tỏc qun lý KTX
90
3.3. Kho sỏt tớnh cn thit v kh thi ca cỏc bin phỏp xut
93
3.3.1. Mụ t cỏch thc thc hin
93
3.3.2. Kt qu kho sỏt
93
KT LUN V KHUYN NGH
100
TI LIU THAM KHO

Hội nghị Hiệu trưởng các trường ĐH và CĐ (ngày 10 và 11/5/2006) bàn về
vấn đề thực hiện chủ trương đổi mới cơ bản và toàn diện GDĐH Việt Nam
giai đoạn 2006 – 2010 đã khẳng định: “Thực tế đổi mới của giáo dục đại học
không theo kịp đổi mới kinh tế của đất nước kể cả trong tư duy, trong hành
động, trong cơ chế chính sách và các giải pháp cụ thể. Để nhanh chóng đáp 4
ứng yêu cầu của đất nước trong giai đoạn mới, giáo dục đại học nước ta phải
đổi mới mạnh mẽ, cơ bản toàn diện theo đúng tinh thần của Nghị quyết số
14/2005/NQ-CP của Chính phủ.” [23, Tr.A]
Hội nghị cũng đề cập đến các vấn đề giao quyền tự chủ nhiều hơn cho
các trường, chuyển đổi các trường bán công, dân lập sang tư thục. Những điều
đó đồng nghĩa với việc muốn tồn tại, các trường ĐH nói chung và đại học
NCL nói riêng phải nâng cao chất lượng, phải đổi mới vấn đề quản lý người
học cho phù hợp với điều kiện mới.
1.2. Trong lý luận về quản lý giáo dục, vấn đề quản lý sinh viên nói chung,
sinh viên nội trú nói riêng luôn được coi là một trong những điều kiện quan
trọng đảm bảo chất lượng đào tạo. Tuy nhiên, cho đến nay thực tế công tác
quản lý sinh viên nói chung (bao gồm cả sinh viên ngoại trú và nội trú) còn
rất lỏng lẻo, yếu kém. Hiện tượng một số sinh viên sống tuỳ tiện, buông lỏng
bản thân, không chịu sự quản lý của nhà trường và địa phương dẫn đến các tệ
nạn xung quanh khu vực nội trú của sinh viên đang trở thành vấn đề nhức
nhối của gia đình, nhà trường và toàn xã hội.
Vì vậy, vấn đề quản lý sinh viên nội trú là một trong những vấn đề cấp
thiết đối với nhiều trường đại học hiện nay. Mặt khác, trong điều kiện kinh tế
– xã hội phức tạp như hiện nay, công tác quản lý sinh viên nội trú cũng cần
phải được đổi mới về quan điểm, nội dung và phương pháp công tác.
1.3. Các trường đại học NCL ở Việt Nam mới chỉ ra đời hơn mười năm gần
đây. Thoạt đầu chỉ gồm vài trường bán công và một vài trường dân lập như là

3.1. Tổng quan cơ sở lý luận về Quản lý giáo dục, quản lý nhà trường về
công tác quản lý sinh viên nội trú và các định hướng đổi mới GDĐH hiện
nay.
3.2. Khảo sát thực trạng công tác quản lý sinh viên nội trú tại các trường đại
học NCL.
3.3. Đề xuất các biện pháp quản lý SV nội trú tại các trường đại học NCL
nhằm nâng cao chất lượng đào tạo trong điều kiện đổi mới GDĐH hiện nay.
4. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu 6
+ Khách thể nghiên cứu: Quá trình hoạt động quản lý sinh viên ở KTX.
+ Đối tượng nghiên cứu: Các biện pháp quản lý sinh viên nội trú tại các
trường đại học NCL. 7
5. Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng được hệ thống các biện pháp quản lý sinh viên nội trú
phù hợp với điều kiện đổi mới GDĐH hiện nay và phù hợp với đặc điểm loại
hình đại học NCL thì sẽ nâng cao hiệu quả công tác quản lý sinh viên, từ đó
góp phần nâng cao chất lượng GDĐH tại các trường đại học NCL.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Về mặt lý luận: Đề tài góp phần tổng quan làm sáng tỏ cơ sở lý luận, cơ
sở pháp lý và các định hướng đổi mới GDĐH hiện nay, về quản lý giáo dục
và công tác quản lý sinh viên nội trú loại hình đại học NCL, đồng thời cũng
làm sáng tỏ những yêu cầu đối với công tác quản lý sinh viên ở các trường đại
học NCL trong điều kiện đổi mới GDĐH.
- Về mặt thực tiễn: Đề tài góp phần đề xuất các biện pháp quản lý sinh
viên nội trú nhằm nâng cao chất lượng đào tạo tại các trường đại học NCL

- Không gian: Luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng việc quản lý sinh
viên nội trú tại một số trường đại học NCL: Trường ĐHDL Phương Đông (Hà
Nội), ĐHDL Hải Phòng (Hải Phòng) và Trường ĐHDL Công nghệ Sài Gòn
(TP.HCM).
- Thời gian: Thu thập số liệu từ năm 2003 đến nay.
9. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận – Khuyến nghị, Tài liệu tham khảo và
Phụ lục, nội dung nghiên cứu luận văn gồm 3 chương:

Chƣơng 1. Cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý của vấn đề nghiên cứu.
Chƣơng 2. Thực trạng công tác quản lý học sinh sinh viên nội trú tại
các trường đại học ngoài công lập.
Chƣơng 3. Các biện pháp quản lý học sinh sinh viên nội trú tại các
trường đại học ngoài công lập.

9
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Các khái niệm về quản lý giáo dục, quản lý nhà trƣờng
1.1.1. Khái niệm quản lý và các chức năng quản lý
1.1.1.1. Khái niệm quản lý
Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động, chính sự
phân công hợp tác lao động nhằm đến hiệu quả nhiều hơn, năng suất cao hơn.
Nói đến hoạt động quản lý, K.Marx đã viết : “Tất cả mọi lao động xã hội
trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn thì ít
nhiều cũng cần có một sự chỉ đạo, điều hoà những hoạt động cá nhân nhằm
thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ

Quản lý là chức năng đặc biệt của mọi tổ chức: “Hoạt động quản lý là tác
động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến
khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức
vận hành và đạt được mục đích của tổ chức.” [15, Tr.1]
Như vậy, tuy có nhiều cách diễn đạt khác nhau về quản lý nhưng các
tác giả đều thống nhất quan điểm về hoạt động quản lý như sau:
Quản lý là sự tác động chuyên biệt, có hướng đích của chủ thể quản
lý đến khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu kinh tế – xã hội đã đặt ra
của một tổ chức/ một hệ thống với hiệu quả cao nhất.
1.1.1.2. Các chức năng của quản lý:
Hoạt động quản lý có những chức năng đặc biệt, Henri Fayol là người
đầu tiên đã phân biệt được các chức năng của quản lý. Xuất phát từ các loại
hình “hoạt động quản lý”, ông đã phân biệt chúng thành năm chức năng cơ
bản: kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra mà sau này chúng
được kết hợp thành bốn chức năng cơ bản là: Kế hoạch hoá (Planning), tổ
chức (Organizing), lãnh đạo - chỉ đạo (Leading) và kiểm tra (Controlling).
Sự phân định các chức năng quản lý theo cách của Fayol dựa trên
nguyên tắc phân công lao động/ xác định phần việc có tính tương đối và hữu 11
ích trong ứng dụng thực tiễn để làm tường minh các hoạt động của người
quản lý trên căn bản của tư duy phân tích. [15, Tr.52]
Bốn chức năng cơ bản của quản lý đã được lý luận khái quát hoá gồm:
* Kế hoạch hoá:
Kế hoạch hoá trong hoạt động quản lý có nghĩa là xác định mục tiêu,
mục đích đối với thành tựu tương lai của tổ chức và xác định rõ các con
đường, biện pháp, cách thức để đạt được mục tiêu, mục đích đó.
* Tổ chức:
Xét về mặt chức năng quản lý, tổ chức là quá trình hình thành nên cấu

hiện và tồn tại dưới mọi chế độ xã hội. Các nhà nghiên cứu trong và ngoài
nước đã đưa ra một số định nghĩa về Quản lý giáo dục như sau:
Theo tác giả M.I. Kônđacốp thì: “Quản lý giáo dục là tập hợp các biện
pháp tổ chức cán bộ giáo dục, kế hoạch hoá, tài chính … nhằm đảm bảo sự
vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục để tiếp tục
phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt số lượng cũng như chất lượng” [31,
Tr.22]
Ở Việt Nam, theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang thì: “Quản lý giáo dục là
hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch hợp với quy luật của chủ
thể quản lý, nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục
của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt
Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo
dục đến mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất”. [36, Tr.12]
Diễn đạt ngắn gọn hơn, tác giả Phạm Minh Hạc cho rằng: “Việc quản
lý nhà trường phổ thông (có thể mở rộng ra là việc quản lý giáo dục nói
chung) là quản lý hoạt động dạy – học, tức là làm sao đưa hoạt động từ trạng
thái này sang trạng thái khác để dần dần tiến tới mục tiêu giáo dục” [24,
Tr.71]
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo [12, Tr.31] thì quản lý giáo dục không chỉ
ở hoạt động dạy – học mà còn rộng hơn nhiều: “ Quản lý giáo dục theo nghĩa
tổng quát là hoạt động điều hành, phối hợp của các lực lượng xã hội nhằm
đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu xã hội”. 13
Từ các ý kiến trên, chúng tôi có thể khái quát được nội hàm cơ bản của
Quản lý giáo dục:
Quản lý giáo dục là một hoạt động chuyên biệt của chủ thể quản lý,
bao gồm một tập hợp các tác động có chủ đích thực hiện tốt các chức năng
kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra nhằm đảm bảo sự vận hành tối

Hoạt động đặc trưng của trường học là hoạt động dạy học. Đó là hoạt
động có tổ chức, có nội dung, có phương pháp, có mục đích, có sự lãnh đạo
của nhà giáo dục đồng thời có sự hoạt động tích cực, tự giác của người học
trong tất cả các loại hình hoạt động học tập.
Trong nhà trường, lực lượng quyết định của nhà trường là người dạy,
nhân tố trung tâm nhất là người học. Do vậy, để làm tốt chức năng nhiệm vụ
của mình, mọi hoạt động trong nhà trường đều phải xoay quanh đối tượng là
người học. Hướng trung tâm vào hoạt động người học là quan điểm giáo dục
- đại học hiện đại. Hoạt động của người học – nhất là người học với tư cách là
sinh viên không chỉ là hoạt động học tập – nghiên cứu mà còn bao gồm những
hoạt động khác như hoạt động giao tiếp, hoạt động sinh hoạt tập thể, hoạt
động văn hoá thể thao… trong đó có hoạt động của họ ở ký túc xá.
Để thấy đầy đủ nội dung của quản lý nhà trường, chúng tôi chỉ dẫn ra
quan điểm tiêu biểu về quản lý nhà trường của M.I. Kônđacốp: “Không đòi
hỏi một định nghĩa hoàn chỉnh chúng ta hiểu quản lý nhà trường là một hệ
thống xã hội- sư phạm chuyên bịêt, hệ thống này đòi hỏi những tác động có ý
thức, có kế hoạch và hướng đích của chủ thể quản lý đến tất cả các mặt của
đời sống nhà trường, nhằm đảm bảo sự vận hành tối ưu về các mặt xã hội –
kinh tế, tổ chức - sư phạm của quá trình dạy học và giáo dục thế hệ trẻ đang
lớn lên.” [31, Tr.216]
Xét một cách chung nhất, Quản lý nhà trường chính là tác động có
định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý lên tất cả các nguồn lực
nhằm đẩy mạnh hoạt động của nhà trường theo nguyên lý giáo dục và phù
hợp với yêu cầu của mục tiêu đào tạo. 15
Theo đó, công tác quản lý HSSV chính là một tác nhân quan trọng
của quản lý nhà trường và HSSV chính là một trong các “nguồn lực”của
một cơ sở GD -ĐH.

hiểu đặc điểm tâm lý sinh viên. Đã có không ít những nghiên cứu về đặc điểm
tâm lý ‎ của sinh viên như tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc và Đặng Xuân Hải [27,
Tr. 199] chúng tôi xin tổng quát lại như sau:
Sinh viên trong các trường đào tạo là những con người thuộc lứa tuổi
nhất định và là một nhân cách nên có thể được xác định về ba phương diện:
sinh lý, tâm lý và xã hội. Các nhà tâm lý học trên thế giới đều có chung một
quan niệm cho rằng tuổi thanh niên là giai đoạn chuyển tiếp từ trẻ em đến
người lớn và bao gồm một khoảng đời từ 11, 12 tuổi đến 23, 24 hoặc 25 tuổi.
Giai đoạn này có thể chia làm hai thời kỳ (cũng có tác giả chia làm ba, tuỳ
quan niệm): thời kỳ chuyển tiếp trước (early adolescence) bắt đầu từ 11, 12
tuổi và kết thúc vào 16, 17 tuổi và thời kỳ chuyển tiếp sau (late adolescence)
bắt đầu từ 17, 18 tuổi và kết thúc lúc thành người lớn thực sự (24, 25 tuổi).
Như vậy, sinh viên đại học là những thanh niên ở vào thời kỳ chuyển tiếp sau,
từ 17 đến 25 tuổi, đã và đang hình thành nhân cách ở một trình độ tương đối
ổn định.
+ Sinh viên có độ tuổi từ 17 – 23, là giai đoạn chuyển từ sự chín muồi
về thể lực sang trưởng thành về phương diện xã hội. Nghiên cứu của Ananhev
cho thấy rằng lứa tuổi sinh viên là thời kỳ phát triển tích cực nhất về tình cảm,
đạo đức và thẩm mỹ, là giai đoạn hình thành và ổn định tính cách, đặc biệt là
họ có vai trò xã hội của người lớn (quyền công dân, quyền xây dựng gia
đình…). Người sinh viên có kế hoạch riêng cho hoạt động của mình và độc
lập trong phán đoán và hành vi. Đây là thời kỳ có nhiều biến đổi mạnh mẽ về
động cơ, về thang giá trị xã hội. Họ xác định con đường sống tương lai, tích
cực nắm vững nghề nghiệp và bắt đầu thể hiện mình trong mọi lĩnh vực của
cuộc sống [27, Tr.205].
+ Một trong những đặc điểm tâm lý quan trọng của lứa tuổi thanh
niên – sinh viên là sự phát triển tự ý thức. Tự ý thức là một loại đặc biệt của ý
thức trong đời sống cá nhân có chức năng điều chỉnh nhận thức và thái độ đối 18
 Nội dung quản lý sinh viên trong nhà trường:
Công tác quản lý sinh viên là một trong những nhiệm vụ trọng tâm
của các trường đại học – cao đẳng nhằm đảm bảo chất lượng đào tạo. Công
tác quản lý sinh viên không chỉ được thực hiện ở lĩnh vực học tập trên giảng
đường mà còn ở nhiều lĩnh vực khác.
Điều III – Quy chế công tác học sinh, sinh viên trong các trường đào
tạo với 7 nội dung công tác HSSV của trường đại học – cao đẳng, bao gồm:
- Tổ chức tiếp nhận HS – SV trúng tuyển vào học.
- Tổ chức quản lý việc học tập của HS – SV theo đúng chương trình,
kế hoạch đã định và thực hiện đúng các quy chế, quy định hiện hành.
- Tổ chức và quản lý đời sống vật chất của HS – SV: ăn, ở, sinh hoạt
của HS – SV nội trú trong ký túc xá.
- Tổ chức và quản lý đời sống của HS – SV: công tác chính trị tư
tưởng, hoạt động khác của HS – SV.
- Tổ chức thực hiện các chế độ chính sách của Nhà nước quy định đối
với HS – SV về học bổng, học phí, bảo hiểm xã hội và các chế độ khác có liên
quan đến đời sống vật chất, tinh thần của HS – SV.
- Phối hợp với các ngành, các cấp chính quyền địa phương nơi trường
đóng (phường, xã, quận, huyện, thị, tỉnh, thành phố tuỳ theo nội dung, quy mô
của vấn đề) xây dựng kế hoạch đảm bảo an ninh chính trị, trật tự và an toàn xã
hội trên địa bàn nơi trường đóng; giải quyết kịp thời, đúng đắn các vụ việc,
các vấn đề liên quan đến HS – SV. Hướng dẫn HS – SV nghiêm chỉnh chấp
hành pháp luật và nội quy, quy chế.
- Biểu dương khen thưởng những HS – SV đạt thành tích cao trong
học tập, rèn luyện, nghiên cứu khoa học, trong các hoạt động xã hội, xử lý kỷ
luật đối với HS – SV vi phạm pháp luật và nội quy, quy chế. Chỉ đạo thực
hiện tốt công tác thanh tra.

nghiên cứu sinh và lưu học sinh) nhằm giúp họ ổn định cuộc sống, đảm bảo
hoạt động học tập và rèn luyện phù hợp với yêu cầu của mục tiêu đào tạo.
Theo quy chế công tác HSSV nội trú thì: “Công tác HSSV nội trú đặt
dưới sự chỉ đạo và quản lý thống nhất của Giám đốc Đại học hoặc Hiệu 20
trưởng nhà trường (sau đây gọi chung là Hiệu trưởng). Hiệu trưởng có trách
nhiệm chỉ đạo công tác HSSV nội trú theo đúng pháp luật hiện hành và theo
đúng quy chế công tác HSSV.” [2, Tr.13]
Khoản 6 điều 5 của quy chế công tác HSSV nội trú đã chỉ rõ nội dung
công tác quản lý HSSV nội trú: “Chỉ đạo và kiểm tra việc tổ chức ăn, ở, tự
học, sinh hoạt cho HSSV nội trú. Phối hợp với các đoàn thể trong trường tổ
chức các hoạt động phục vụ đời sống văn hoá, tinh thần cho HSSV nội trú.
Phối hợp với chính quyền địa phương sở tại tổ chức các hoạt động bảo
đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn trong khu nội trú và các bịên pháp xử lý
các vụ việc liên quan.” [2, Tr.14]
Như đã nói ở trên, công tác quản lý sinh viên nói chung, quản lý sinh
viên nội trú nói riêng cần phải được xem xét trong những điều kiện của đổi
mới quy trình đào tạo hiện nay. Có như vậy, mới góp phần đạt được mục tiêu
đào tạo và hiệu quả công tác cao.
1.1.3.3. Quy chế quản lý sinh viên (ở Việt Nam)
Quy chế quản lý sinh viên được ra đời khoảng những năm 1980 do Bộ
Giáo dục & Đào tạo ban hành, trực tiếp là Vụ Công tác HS – SV biên soạn,
ban hành và hướng dẫn thực hiện. Trên cơ sơ đó, các trường đại học, cao đẳng
ban hành nội quy và các chế độ quản lý sinh viên của cơ sở đào tạo.
Các quy chế về công tác HSSV, xét theo lịch sử chủ yếu bao gồm:
- Quy chế công tác HSSV trong các trường đào tạo (QĐ số 1584/GD-
ĐT ngày 27/7/1993).
- Quy chế Công tác HSSV nội trú trong các trường ĐH, CĐ, THCN

Theo Quy chế công tác học sinh, sinh viên nội trú trong các trường
đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề do Bộ Giáo dục và
Đào tạo ban hành thì : “Ký túc xá hay còn gọi là khu nội trú học sinh, sinh
viên là những cơ sở thuộc quyền quản lý của nhà trường bao gồm: nhà ở, nhà
ăn, sân chơi, bãi tập, câu lạc bộ và những phương tiện khác để phục vụ học
sinh, sinh viên nội trú ăn, ở, sinh hoạt, học tập và rèn luyện nhằm góp phần
thực hiện tốt mục tiêu, nhiệm vụ đào tạo của trường.” [2, Tr.11] 22
Ký túc xá cũng chính là nơi diễn ra các hoạt động ngoài giờ lên lớp
của sinh viên nội trú. Các hoạt động này bao gồm: hoạt động tự học, giao lưu,
thể thao, văn hoá… Các hoạt động này góp phần hình thành và phát triển
nhân cách, phẩm chất cho học sinh, sinh viên, nâng cao chất lượng và hiệu
quả nhằm phục vụ mục tiêu đào tạo của nhà trường.
1.1.4.2. Nhiệm vụ quản lý HSSV nội trú của KTX
Dựa theo quy chế công tác HSSV và quy chế KTX, có thể xác định
nhiệm vụ của công tác quản lý sinh viên nội trú như sau:
- Quản lý, sắp xếp chỗ ở cho học sinh, sinh viên các khoá vào đầu năm
học.
- Quản lý giờ giấc của HSSV nội trú: HSSV nội trú trong giờ học ở
trường chịu sự quản lý về giờ giấc của ban cán sự lớp, các thầy cô giáo và
giáo vụ khoa. Ngoài giờ học chịu sự quản lý của ban quản lý KTX về giờ giấc
học tập, nghỉ ngơi, sinh hoạt cũng như giờ đóng mở cửa, đón tiếp khách tại
phòng ở theo nội quy, quy định của KTX.
- Quản lý hoạt động tự học của HSSV nội trú: Quy định giờ tự học của
sinh viên nội trú, thường xuyên đôn đốc kiểm tra và nghiêm cấm những hành
vi làm ảnh hưởng đến học tập và sinh hoạt của tập thể.
- Quản lý các mối quan hệ trong và ngoài KTX của sinh viên nội trú
nhằm xây dựng cho HSSV các mối quan hệ lành mạnh, trong sáng (gồm mối


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status