SKKN THCS Toán: Nâng cao hiệu quả dạy – học trong một số tiết Toán 9 bằng kĩ thuật “Khăn phủ bàn” ở trường THCS Nga Thái - Pdf 40

A. ĐẶT VẤN ĐỀ
I. Lý do chọn đề tài.
Trong thời đại ngày nay, trước sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ
thuật, nền tri thức của nhân loại đã được nâng nên một tầm cao mới. Trước thực
tiễn đó, nhà trường cần giáo dục và đào tạo học sinh trở thành những người lao
động có tiềm lực sáng tạo trên mọi lĩnh vực để các em có thể vững vàng bước vào
cuộc sống. Phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh là điều hết sức cần thiết. Hơn
nữa, trong nhịp độ khẩn trương của cuộc sống xã hội hiện nay, đòi hỏi mỗi người
phải có sự sáng tạo, chủ động và hoạt động tích cực, năng động để đáp ứng với sự
nghiệp CNH – HĐH đất nước.
Trước những đòi hỏi của thực tiễn, nước ta đang trên con đường hội nhập và
phát triển thì đổi mới giáo dục là quan trọng hàng đầu.
Trong những năm gần đây, chương trình SGK mới của bộ GD-ĐT đã có rất
nhiều những thay đổi về nội dung của bài học, về số lượng câu hỏi, bài tập, bài thực
hành, … Những sự thay đổi đó nhằm mục đích nâng cao chất lượng giáo dục ở đối
tượng học sinh, mà chất lượng của học sinh phụ thuộc chủ yếu vào phương pháp
dạy học của giáo viên.
Việc áp dụng các phương pháp tích cực trong dạy học cũng cần phải quan
niệm như thế nào cho đúng. Áp dụng các phương pháp tích cực không có nghĩa là
gạt bỏ các phương pháp truyền thống. Ngay cả những phương pháp tập trung vào
giáo viên như thuyết trình, giảng giải…. vẫn rất cần thiết trong quá trình dạy học.
Phát triển các phương pháp tích cực cũng không có nghĩa là phải tiếp thu một số
phương pháp quá xa lạ đối với giáo viên. Cần kế thừa, phát triển những mặt tích
cực trong hệ thống các phương pháp dạy học vốn đã quen thuộc, đồng thời phải
học hỏi, vận dụng một số phương pháp dạy học mới phù hợp với hoàn cảnh, điều
kiện dạy và học ở nước ta để tiến lên từng bước vững chắc.
Tuy nhiên, việc dạy và học trong nhiều trường phổ thông vẫn còn chịu tác
động nặng nề bởi mục tiêu thi cử, học để thi, dạy để thi. Do đó, việc dạy học chủ
yếu vẫn là truyền thụ một chiều, thông báo kiến thức mang tính đồng loạt, thiên về
lí thuyết, xa rời thực tiễn, tập trung ôn luyện kiến thức đáp ứng kiểm tra thi cử,
chưa thực sự quan tâm đến việc hình thành thói quen tự học, tự khám phá kiến

I. Cơ sở lý luận của vấn đề
Vấn đề phát huy tính tích cực của học sinh đã dược đặt ra từ những năm đầu
của thập kỉ 60 của thế kỉ XX. Trong những năm gần đây, ngành giáo dục đã có
nhiều đổi mới về chương trình, sách giáo khoa và phương pháp dạy học.
Luật giáo dục công bố năm 2005, Điều 82.2 có ghi “Phương pháp dạy học
phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù
hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả
năng làm việc theo nhóm, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác
động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”.
Trong chương trình giáo dục & đào tạo chung hiện nay đòi hỏi phải thay đổi
cách tiếp cận đối với quá trình dạy – học. Hoạt động giảng dạy với vai trò chủ đạo
là giáo viên không còn là hoạt động chính nữa, mà thay vào đó là vai trò trung tâm
của người học với hoạt động chính là hoạt động nhận thức, tự chiếm lĩnh tri thức.
Học sinh cùng tranh luận nghiên cứu chứ không phải là ghi nhớ máy móc và tái
hiện tri thức sẵn có. Những điều này đòi hỏi phải có sự đổi mới phương pháp dạy
học thật sự theo hướng tăng cường sự tham gia của học sinh, tạo môi trường để các
em tích cực tranh luận đưa ra những ý kiến điều chỉnh lại cho phù hợp, biến những
kiến thức thành niềm tin của bản thân, thành tri thức của mình. Thực trạng trên đòi
hỏi giáo viên khi dạy học phải sử dụng linh hoạt các phương pháp dạy học tích cực,
phù hợp với nội dung từng bài và từng đối tượng học sinh để phát huy được tính
tích cực học tập của học sinh.
Có thể nói, cốt lõi của việc đổi mới phương pháp dạy học là hướng tới việc
học tập chủ động , chống lại thói quen học tập thụ động, nghĩa là phải phát huy tính
tích cực của học sinh trong học tập.
Vì vậy, làm thế nào để giúp học sinh tiếp nhận tri thức một cách chủ động,
câu hỏi đặt ra cho chúng ta là phải tổ chức dạy và học như thế nào? Nội dung của
câu hỏi này chính là phương pháp hoạt động của thầy giáo và học sinh, để thực
hiện được nhiệm vụ này người giáo viên phải xác định được nhiệm vụ dạy học. Dó
đó, để có thể vận dụng tốt dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập của
học sinh trong giờ học môn Toán 9 ở trường THCS Nga Thái, đòi hỏi giáo viên

Kém
Lớp Sĩ số
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
9A
37
8
21,6 13 35,2 12 32,4
4
10,8
0
0
9B
35
2
5,7
7
20,0
9
25,7 14 40,0
3
8,6

của người học, học sinh là trung tâm,
vai trò chủ động, quyết
giáo viên tổ chức và điều khiển các
định.
hoạt động.
4


Mục tiêu

Chú trọng đến việc hình
thành kiến thức cho học
sinh, chuẩn bị cho học
sinh vào đời và tiếp tục
học lên

Chú trọng hình thành các năng lực
nhận thức, năng lực hoạt động, năng
lực tự học, các kĩ năng giải quyết vấn
đề. Chuẩn bị cho học sinh sớm thích
ứng với đời sống xã hội, hòa nhập và
phát triển cộng đồng.
Nội dung
Chú trọng cung cấp tri
Không chỉ quan tâm đến kiến thức lí
thức, kĩ năng, kĩ xảo.
thuyết. Chú trọng kĩ năng thực hành
Nhiều kiến thức đã học ít vận dụng kiến thức , năng lực phát
được dùng đến trong cuộc hiện và giải quyết các vấn đề của thực
sống hàng ngày.

Mục tiêu:
- Kích thích, thúc đẩy sự tham gia tích cực của học sinh.
- Tăng cường tính độc lập, trách nhiệm của cá nhân học sinh.
- Phát triển mô hình có sự tương tác giữa học sinh với học sinh.
Tác dụng đối với học sinh:
- Học sinh được cách tiếp cận với nhiều giải pháp và chiến lược khác nhau.
- Rẽn kĩ năng suy nghĩ, quyết định và giải quyết vấn đề.
5


- Học sinh đạt được những mục tiêu học tập cá nhân cũng như hợp tác.
- Sự phối hợp làm việc cá nhân và làm việc theo nhóm nhỏ tạo cơ hội nhiều hơn
cho học tập có sự phân hóa.
- Nâng cao mối quan hệ giữa học sinh. Tăng cường sự hợp tác, giao tiếp, học
cách chia sẻ kinh nghiệm và tôn trọng lẫn nhau.
- Nâng cao hiệu quả học tập.
Cách tiến hành:
- Chia học sinh thành các nhóm và phát cho mỗi nhóm một tờ giấy A0.
- Trên giấy A0 chia thành các phần, gồm phần chính giữa và các phần xung
quanh. Phần xung quang được chi theo số thành viên của nhóm. Mỗi người
ngồi vào vị trí tương ứng với phần xung quanh.
- Mỗi cá nhân làm việc độc lập trong khoảng vài phút, tập trung suy nghĩ, trả
lời câu hỏi, nhiệm vụ theo cách nghĩ cách hiểu riêng của mỗi cá nhân và viết
vào phần giấy của mình trên tờ giấy A0.
- Trên cơ sở những ý kiến của mỗi cá nhân, học sinh thảo luận nhóm, thống
nhất ý kiến và viết vào phần chính giữa của tờ giấy A0 “Khăn phủ bàn”.
- Sơ đồ kĩ thuật “Khăn phủ bàn”
Viết ý kiến cá nhân

Viết ý kiến

tiếp tuyến vào các bài tập tính toán và chứng minh. Rèn luyện kỹ năng vẽ hình.
3.Về tư duy - thái độ: Có thái độ học tập nghiêm túc, tự giác, cẩn thận chính xác khi
vẽ hình
II.Chuẩn bị:
1.GV: Bài soạn, thước thẳng, compa, êke, bảng phụ, thước Pan-me
2.HS: Đọc trước bài mới, thước thẳng, compa, êke, bảng phụ nhóm, bút dạ.
III.Các hoạt động dạy học
1.Kiểm tra bài cũ
? Nêu các vị trí tương đối của đường thẳng và đường tròn và viết các hệ thức liên
hệ giữa khoảng cách từ tâm đường tròn đến đường thẳng và bán kính của đường
tròn ?
2.Dạy học bài mới
Hoạt động của giáo viên và học sinh

Yêu cầu cần đạt
1.Dấu hiệu nhận biết tiếp tuyến của
đường tròn
-Đường thẳng chỉ có một điểm chung
với đường tròn → là tiếp tuyến của
đường tròn.

GV: ? Qua bài học trước em đã biết
cách nào nhận biết một tiếp tuyến của
đường tròn. (GV chia lớp làm 4 nhóm
cho HS hoạt động kỹ thuật khăn phủ
bàn)
HS: - Mỗi cá nhân suy nghĩ, trả lời câu -Khoảng cách từ tâm đường tròn đến
hỏi vào phần giấy của mình trên “khăn đường thẳng bằng bán kính → đường
phủ bàn”
thẳng là tiếp tuyến của đường tròn.

HS: Khoảng cách từ A đến BC bằng
bán kính của đường tròn => BC là tiếp
tuyến
? Còn cách nào khác không
HS: cách khác: BC ⊥ AH; AH là bán
kính => BC là tiếp tuyến.
GV: -Xét bài toán: Qua điểm A nằm
ngoài đường tròn (O), hãy dựng tiếp
tuyến của đường tròn.
GV vẽ hình tạm để hướng dẫn Hs phân
tích đề toán.

*Định lý:
C ∈ a; C ∈ (O)

 a ⊥ OC

O

=> a là tiếp tuyến
của (O)

a
C

A

?1

C

-Kẻ AB;AC ta được các tiếp tuyến cần
OA
HS: B ∈ (M;
)
dựng
2
8


?Nêu cách dựng tiếp tuyến AB
?2: Hãy chứng minh cách dụng trên là
đúng.
?2. Chứng minh
OA
? Vậy qua A ta dựng được mấy tiếp ∆
AOB có BM =
=> ∠ABO = 900
2
tuyến với (O)


AB
OB
tại
B => AB là tiếp
HS: hai tiếp tuyến với (O)
tuyến của (O)
GV: vậy bài toán có hai nghiệm hình.
-Tương tự: có AC là tiếp tuyến của (O)
3.Củng cố.

HS1: - Định nghĩa phương trình bậc nhất hai ẩn. Cho ví dụ
9


- Cho phương trình: 3x – 2y = 6
Viết nghiệm tổng quát và vẽ đường thẳng biểu diễn tập nghiệm của phương trình.
HS2: Chữa bài tập 3 tr7 SGK
2. Bài mới:
Hoạt động của giáo viên và học sinh
Nội dung cần đạt
1. Khái niệm về hệ hai phương trình
GV sử dụng hai pt của bài tập 3.
bậc nhất hai ẩn:
Hai phương trình trên có nghiệm chung Xét hai pt: x + 2y = 4
(1)
là gì?
x–y=1
(2)
GV giới thiệu và ghi bảng
ta thấy cặp số (2;1) vừa là nghiệm của
Yêu cầu HS làm ?1
pt (1) vừa là nghiệm của pt (2)
Hệ pt này là dạng của hệ pt bậc nhất Ta nói cặp số (2;1) là một nghiệm của
hai ẩn.
 x + 2y = 4
hệ
pt

Vậy dạng tổng quát của hệ pt bậc nhất
 x− y =1

y= - +2
toạ độ của điểm M là nghiệm của hệ pt

Yêu cầu HS đọc thông tin ở SGK
Để xét xem một hệ pt có thể có bao
nhiêu nghiệm ta xét các ví dụ sau.
Cho HS tìm hiểu các ví dụ ở SGK
GV nêu các câu hỏi cho từng ví dụ
Sau khi xét xong các ví dụ GV hỏi
Từ các bài toán trên hãy nêu số nghiệm
của hệ phương trình (I)?
Để dự đoán số nghiệm của hệ (I) ta
làm như thế nào?
(GV chia 4 nhóm cho HS hoạt động kỹ

 x + 2y = 4

 x− y =1

a) Các ví dụ: (SGK / Tr 9, 10)

b) Tổng quát:
Hệ (I) có một nghiệm duy nhất nếu
(d) cắt (d’) ⇔

a b

a' b'

10

GV giới thiệu kí hiệu “”
 x + 2y = 4
 x + 2y = 4

dụ:



Lưu ý cho HS mỗi nghiệm của hệ là
 x− y =1
 2x − 2 y = 2
một cặp số
3. Củng cố:
- Yêu cầu HS làm bài tập 4 SGK/Tr11
- Chú ý cho HS biến đổi hệ tương đương (nếu cần) như câu c, d
Từ đó sử dụng vị trí tương đối của hai đường thẳng để xét số nghiệm
4. Hướng dẫn về nhà:
- Học bài theo vở ghi và SGK
- Bài tập về nhà: 5, 6, 7 (SGK Tr11, 12). Bài tập: 8, 9, 10, 11 (SBT Tr4, 5)
Nhận xét: Khi dự đoán số nghiệm của hệ phương trình thường là học sinh
được tiếp nhận một chiều từ giáo viên đưa ra, do đó nhiều học sinh không hiểu sâu
và nhớ lâu, cho nên khi áp dụng vào giải quyết các bài tập liên quan đến nội dung
kiến thức này thì nhiều học sinh hiểu sai và không làm được. Khi học sinh được
tiếp cận với kĩ thuật khăn phủ bàn thì hiệu quả mang lại rõ rệt, không những các
em hiểu sâu, nhớ lâu, mà các em tự tìm ra mối quan hệ giữa các hệ số a, b, c của
hai phương trình trong hệ, từ đó đưa ra vị trí tương đối của hai đường thẳng để xét
số nghiệm của hệ. Không những vậy các em còn biết vận dụng một cách hiệu quả,
không dập khuôn, khi giải quyết dạng bài tập này.

11

5
13,5
0
0
0
0
9B
35
4
11,4 11 31,4 13 37,2
7
20,0
0
0
Tổng 72
19 26,4 28 38,9 18 25,0
7
9,7
0
0
Từ kết quả trên, so sánh với kết quả khảo sát đầu năm ở lớp 9A, 9B tôi thấy
đã có sự thay đổi rõ rệt về chất lượng môn toán của học sinh. Điều đó chứng tỏ
việc áp dụng kĩ thuật “Khăn phủ bàn” thông qua một số tiết dạy môn Toán 9 là
hết sức cần thiết và việc áp dụng sáng kiến kinh nghiệm này vào quá trình giảng
dạy đã mang lại hiệu quả cao.

12


C. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT

- Học sinh cần chuẩn bị bài chu đáo trước khi lên lớp.
- Học sinh cần có thái độ học tập một cách nghiêm túc trong các giờ học.
Thanh Hóa, ngày 01 tháng 4 năm 2015
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG
CAM KẾT KHÔNG COPY
ĐƠN VỊ

Lê Quang Công

13




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status