MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế ở nước ta, nông nghiệp,
nông thôn có vai trò rất quan trọng. Trong nhiều nhiệm kỳ Đại hội, Đảng ta
đã xác định rõ vai trò của phát triển nông nghiệp, từ Đại hội V (1982), nông
nghiệp được Đảng ta coi là “mặt trận hàng đầu”.
Thực hiện quá trình đẩy mạnh CNH,HĐH đất nước, Đại hội VIII đã
xác định CNH,HĐH nông nghiệp, nông thôn là nhiệm vụ trọng tâm trong
những năm trước mắt. Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 do
Đại hội XI của Đảng thông qua đã khẳng: “Tiếp tục phát triển và đưa nông
nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp lên một trình độ mới bằng ứng dụng tiến bộ
khoa học và công nghệ, nhất là công nghệ sinh học ... Nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực, cải thiện đời sống nông dân và dân cư ở nông thôn”[4, tr...].
Phát triển những quan điểm trên, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
của Đảng tiếp tục khẳng định: “ Hiện nay và trong nhiều năm tới, vấn đề nông
nghiệp, nông dân và nông thôn có tầm chiến lược đặc biệt quan trọng. Phải
luôn luôn coi trọng đẩy mạnh CNH,HĐH nông nghiệp, nông thôn hướng tới
xây dựng một nền nông nghiệp hàng hóa lớn, đa dạng, phát triển nhanh và
bền vững, có năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh cao; tạo điều kiện
từng bước hình thành nền nông nghiệp sạch” [5,tr].
CNH,HĐH nông nghiệp là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá lớn, gắn công nghiệp chế biến với thị
trường, thực hiện cơ khí hoá, điện khí hoá, thuỷ lợi hoá ứng dụng các thành
tựu khoa học và công nghệ, trước hết là công nghệ sinh học, đưa thiết bị kỹ
thuật và công nghệ hiện đại vào các khâu sản xuất nông nghiệp nhằm nâng
cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của sản xuất hàng hoá
trên thị trường.
Quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn phải ưu tiên phát triển
2
3
chuyên môn ngành nghề cho người lao động trong lĩnh vực nông nghiệp; xác
định những quan điểm cơ bản và giải pháp chủ yếu nhằm đào tạo, phổ cập
trình độ chuyên môn ngành nghề cho người lao động trong lĩnh vực nông
nghiệp ở nước ta.
* Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên cứu một cách tương đôí có hệ thống về vai trò chuyên môn ngành
nghề của người lao động trong phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới,
tăng thu nhập và cải thiện đời sống cho người nông dân ở thời kỳ CNH, HĐH
nông nghiệp, nông thôn hiện nay.
- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc đào tạo, phổ cập chuyên
môn ngành nghề cho người lao động trong lĩnh vực nông nghiệp.
- Bước đầu đưa ra những quan điểm và giải pháp chủ yếu để đào
tạo,phổ cập và phát triển chuyên môn ngành nghề cho người lao động trong
sản xuất nông nghiệp ở nước ta hiện nay.
4. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
Luận văn không đi vào nghiên cứu sâu vấn đề phát triển nguồn lực con
người trong quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn nói chung mà chỉ
nghiên cứu việc “Đào tạo, phổ cập chuyên môn ngành nghề cho người lao
động” trong phát triển kinh tế nông nghiệp (lĩnh vực nông nghiệp theo nghĩa
hẹp bao gồm: chăn nuôi, trồng trọt và các dịch vụ phục vụ cho chăn nuôi,
trồng trọt) ở nước ta hiện nay.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu đề tài
Dựa trên cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,
quan điểm, đường lối của Đảng ta về vai trò của nguồn lực con người trong sự
nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn. Những luận điểm khoa học về
đào tạo, phổ cập, nâng cao kiến thức chuyên môn ngành nghề cho người lao
động trong phát triển kinh tế - xã hội thuộc lĩnh vực nông nghiệp.
với sức lao động, đòi hỏi phải nâng cao trình độ học vấn và trình độ chuyên
môn, ngành nghề của người lao động một cách thích ứng.
Tuân thủ quy luật của quá trình sản xuất vật chất, để phát triển kinh tế
nông nghiệp một cách có hiệu quả thì việc đào tạo, phổ cập, nâng cao những
kiến thức cơ bản trong sản xuất nông nghiệp cho người nông dân dặc biệt là
người nông dân sản xuất các mặt hàng nông nghiệp có giá trị kinh tế cao và
hàng xuất khẩu; những người sản xuất ở khu vực vùng sâu vùng xa, vùng
đồng bào dân tộc ít người là một yêu cầu khách quan và mang tính cấp thiết
trong nền sản xuất kinh tế hàng hóa và hội nhập kinh tế quốc tế ở nước ta
hiện nay.
- Nông nghiệp (theo nghĩa rộng) là ngành kinh tế sinh học bao gồm:
nông, lâm, ngư nghiệp, bảo đảm nhu cầu lương thực - thực phẩm cho xã hội,
nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và cung cấp hàng nông sản cho thị
trường trong nước và xuất khẩu.
- Nông nghiệp (theo nghĩa hẹp) là những hoạt động kinh tế bao gồm:
6
chăn nuôi các loại gia súc gia cầm, trồng trọt các nhóm cây lương thực, thực
phẩm ngắn ngày và các dịch vụ phục vụ cho chăn nuôi và trồng trọt.
- Đào tạo chuyên môn ngành nghề là toàn bộ những hoạt động giáo
dục được tổ chức thực hiện bởi những hình thức đào tạo chuyển giao và
nhận chuyển giao nhằm trang bị cho người lao động có những kỹ xảo, kỹ
năng nghề nghiệp và tri thức cần thiết tạo ra sự thay đổi hành vi nghề
nghiệp của người lao động trong sản xuất vật chất nói chung, sản xuất
nông nghiệp nói riêng.
- Đào tạo, phổ cập chuyên môn ngành nghề cho người lao động trong
lĩnh vực nông nghiệp ( theo nghĩa hẹp) là quá trình thực hiện tổng thể các
hoạt động giáo dục có tổ chức, được tiến hành trong những khoảng thời gian
nhất định, kết hợp với phát huy vai trò của các tổ chức, các cán bộ khuyến
phương pháp, cách thức sản xuất vật chất và chinh phục tự nhiên một cách
phù hợp và đạt được hiệu quả tối ưu. Ph.Ăngghen khẳng định: “Lao động là
điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống loài người” [1, tr.641].
Trong điều kiện nước ta quá độ đi lên xây dựng CNXH, bỏ qua chế độ
TBCN từ một nền nông nghiệp lạc hậu thì việc thực hiện phát huy lao động
sáng tạo và lao động có chuyên môn ngành nghề của con người, để phát triển
kinh tế nông nghiệp nâng cao đời sống vật chất của nhân dân thực hiện mục
tiêu dân giàu, nước mạnh, xây dựng cơ sở vật chất cho CNXH là một vấn đề
có tính quy luật khách quan của quá trình cách mạng Việt Nam. Quy luật này
đã được Hồ Chí Minh kế thừa, vận dụng và phát triển cụ thể trong điều kiện
thực tế ở Việt Nam. Người chỉ rõ: “… Nhiệm vụ quan trọng nhất của chúng ta
là phải xây dựng nền tảng vật chất và kỹ thuật của CNXH… có công nghiệp
và nông nghiệp hiện đại…”[3, tr.10]
Hai là: quan điểm phát triển kinh tế hàng hoá trong lĩnh vực nông
nghiệp của Đảng. Thời cơ, thách thức trong phát triển kinh tế nông nghiệp
theo hướng sản xuất hàng hóa và kinh tế thị trường đòi hỏi phải đào tạo phổ
cập chuyên môn ngành nghề cho người lao động.
Trong phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở nước ta hiện nay,
có sự đóng góp của sản xuất nông nghiệp. Do đó trong quá trình đưa nông
nghiệp lên thành nền kinh tế hàng hoá phải có đội ngũ lao động có trình độ
8
chuyên môn ngành nghề cao, áp dụng các biện pháp kỹ thuật vào quá trình
sản xuất để đưa sản xuất nông nghiệp lên một trình độ cao, bảo đảm thu nhập
của người nông dân được nâng lên xấp xỉ bằng thu nhập chung của xã hội và
thoả mãn nhu cầu của thị trường trong nước và thị trường quốc tế.
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng khẳng định:
“Tăng cường sự chỉ đạo và huy động các nguồn lực cần thiết để đẩy nhanh
CNH,HĐH nông nghiệp và nông thôn… nâng cao chất lượng nguồn nhân lực,
thị 100 – CT/TW của Ban Bí thư khoá VI, Nghị quyết Trung ương 5 khoá
VII, Nghị quyết Trung ương 4 khoá VIII Nghị quyết 06 của Bộ Chính trị khoá
VI và đến Đại hội X của Đảng.
Sản xuất nông nghiệp nước ta đã chuyển mạnh sang sản xuất hàng hoá,
phát triển tương đối toàn diện, tăng trưởng khá (tốc độ bình quân 4,2% năm)
từ một nền nông nghiệp tự cung tự cấp lạc hậu, thiếu lương thực triền miên,
đến nay cơ bản đã là nền sản xuất hàng hoá, bảo đảm an ninh lương thực quốc
gia, có tỷ suất hàng hoá ngày càng cao, một số mặt hàng xuất khẩu có thị
phần khá lớn trong khu vực và trên thế giới như: gạo, hồ tiêu, hạt điều, cà
phê, chè ... Đã hình thành một vùng sản xuất nông nghiệp tập trung gắn với
công nghiệp chế biến. Khoa học - kỹ thuật được ứng dụng rộng rãi trong nông
nghiệp góp phần tăng giá trị nông phẩm và kim ngạch xuất khẩu.
Đến nay hơn 90% diện tích lúa 60% diện tích ngô, nhiều giống cây
trồng, vật nuôi khác được sử dụng giống mới, năng suất cao. Mức độ cơ giới
hoá khâu làm đất tăng lên 54% năm 2000 và 64% năm 2005, phần lớn khâu
tưới nước, tuốt lúa, xay xát lúa gạo, đã được cơ giới hoá [8, tr.46]
Bước đầu hình thành nhiều vùng sản xuất tập trung gắn với các cơ sở
nông nghiệp chế biến từ lúa gạo ở đồng bằng Sông Cửu Long, đồng bằng
Sông Hồng, cà phê Tây Nguyên, Cao su Đông Nam Bộ, mía đường miền
Trung…
Những thành tựu trong sản xuất nông nghiệp nói trên đã phần nào chứng
minh quá trình CNH, HĐH và phát triển lực lượng sản xuất, trình độ lao động
sản xuất, chuyên môn ngành nghề của người sản xuất nông nghiệp đã tăng lên
10
đáng kể. Đây chính là những điều kiện tốt và mở ra những thuận lợi quan
trọng để phát triển kinh tế nông nghiệp ở nước ta hiện nay.
Tuy nhiên, quá trình phát triển kinh tế nông nghiệp của thời kỳ đẩy mạnh
CNH,HĐH đất nước vẫn còn trong tình trạng gặp nhiều khó khăn trong sản
được lực lượng có trình độ, có chuyên môn ngành nghề mà chủ yếu là lao
động thủ công.
Quan hệ sản xuất chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển nông nghiệp
hàng hoá theo cơ chế mới. Thực tế quá trình chuyển đổi hợp tác xã theo luật
hợp tác xã hiệu quả thấp. Đời sống vật chất, văn hoá tinh thần của dân ở
nhiều vùng còn thấp kém, chênh lệch thu nhập đang tăng lên, làm cho người
nông dân không thiết tha gắn bó với đồng ruộng. Đây chính là yếu tố tác động
lớn đến sự say mê sáng tạo trong quá trình sản xuất của người nông dân. Vì
vậy đã trực tiếp ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm trong cạnh tranh hội
nhập kinh tế quốc tế.
Những sản phẩm nông nghiệp trong quá trình hội nhập quốc tế khi Việt
Nam ra nhập WTO đang đứng trước sự cạnh tranh khốc liệt cả về chất lượng, giá
thành cả về chủng loại sản phẩm làm cho giá trị kinh tế tính bằng tiền của các
sản phẩm nông nghiệp không cao. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển
kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá, ổn định, bền vững lâu dài.
Những hạn chế, yếu kém trên đây đã tác động trực tiếp đến thu nhập,
mức sống của người lao động trong sản xuất nông nghiệp. Đồng thời không
kích thích được sự phát triển kinh tế nông nghiệp ở nông thôn và vì vậy mà
người lao động, đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa không thiết tha với sản xuất
hàng hoá, họ tự phát sản xuất theo phương thức tự cấp tự túc, theo kinh
nghiệm, không tích cực trao đổi kinh nghiệm, học hỏi nâng cao trình độ
chuyên môn ngành nghề cho mình trong sản xuất. Vì vậy, để phát triển kinh
tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa và kinh tế thị trường thì vấn đề
đầu tiên cần phải quan tâm đó là phát triển nhân tố con người, đào tạo, phổ
cập chuyên môn ngành nghề cho người lao động.
Ba là: thực hiện CNH,HĐH và phát triển lực lượng sản xuất trong
kinh tế nông nghiệp, đòi hỏi phải phát triển nhân tố con người, đào tạo, phổ
12
13
yếu tố người lao động với những tri thức khoa học, kỹ xảo, kỹ năng, chuyên
môn ngành nghề trong quá trình sử dụng công cụ lao động tác động vào đối
tượng lao động để sản xuất ra sản phẩm là yếu tố quan trọng nhất. Mặt khác
con người còn là chủ nhân sáng tạo, cải tiến những công cụ lao động và tìm
phương pháp tác động vào đối tượng lao động một cách tối ưu, có hiệu quả để
cho ra những sản phẩm ngày càng nhiều, chất lượng ngày càng cao, đáp ứng
được nhu cầu của con người và sự phát triển kinh tế - xã hội, thúc đẩy xã hội
phát triển.
Do đặc trưng sinh học - xã hội riêng có của mình, con người, trong nền sản
xuất xã hội có sức mạnh và kỹ năng lao động thần kinh - cơ bắp. Trong lao
động, sức mạnh và kỹ năng ấy đã được nhân lên gấp nhiều lần. Hơn nữa, lao
động của con người ngày càng trở thành lao động có trí tuệ và lao động trí tuệ
với hàm lượng chất xám cao đặc biệt là trong điều kiện của khoa học công nghệ
hiện nay, đã làm cho con người trở thành một nguồn lực đặc biệt của sản xuất, là
nguồn lực cơ bản, nguồn lực vô tận. Đúng như Lênin khẳng định: “lực lượng sản
xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là công nhân, là người lao động” [2, T.30,
tr.430].
Đối với quá trình sản xuất nông nghiệp một quy luật khách quan bất biến
đó là người lao động trong quá trình sản xuất vật chất của mình họ phải sử
dụng, cải tiến công cụ lao động, tìm ra phương pháp cách thức sử dụng công
cụ lao động đó một cách có hiệu quả nhất để sản xuất ra những sản phẩm
nông nghiệp có số lượng ngày càng nhiều, chất lượng cao với những giá trị sử
dụng khác nhau để không ngừng đáp ứng nhu cầu về lương thực, thực phẩm
ngày càng đa dạngvà phong phú của con người và xã hội.
Để đạt được điều đó cần phải đào tạo, phổ cập trình độ chuyên môn
ngành nghề sản xuất cho người lao động trong khu vực kinh tế nông nghiệp.
Đây là một yêu cầu đòi hỏi khách quan trong thời kỳ đẩy mạnh CNH,HĐH ở
nước ta hiện nay.
nước. Sự đan cài các lợi ích kinh tế giữa các quốc gia sẽ tạo ra những nguy cơ
tiềm ẩn có thể dẫn tới những mất ổn định về kinh tế. Trong đó không thể
15
không nói đến những tác động ảnh hưởng trên lĩnh vực nông nghiệp trong
điều kiện đất nước đang hội nhập sâu sắc.
Thực hiện chủ trương của Đảng, của Chính phủ và trên cơ sở phát huy
thế mạnh thổ nhưỡng từng vùng, ngành nông nghiệp đã từng bước chuyển
dịch theo hướng đầu tư thâm canh, tăng năng suất chất lượng để tạo thuận lợi
trong xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp. Trong đó đặc biệt là xuất khẩu
gạo, cà phê, hạt điều, hạt tiêu, chè và những mặt hàng có nhiều thuận lợi trong
quá trình sản xuất theo hướng kinh tế hàng hoá; có tính ổn định cao trong điều
kiện có sự cạnh tranh quyết liệt trên thị trường thế giới, những mặt hàng được
các tổ chức quốc tế đánh giá cao. Kết quả sản xuất và xuất khẩu sản phẩm
nông nghiệp có tác dụng tăng thu nhập của người nông dân trong quá trình
sản xuất và ổn định cuộc sống.
Mặt khác trước yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế, trước những cam
kết của Việt Nam với các nước và các tổ chức quốc tế khi Việt Nam ra nhập
WTO thì những sản phẩm nông nghiệp của Việt Nam khi xuất khẩu trên thị
trường thế giới còn đứng trước những khó khăn thách thức lớn như:
Trong quá trình sản xuất, chưa gắn sản xuất với chế biến và thị trường,
nhất là thị trường thế giới trong bối cảnh hội nhập. Chất lượng và tính bền
vững và tăng trưởng chưa cao, chưa tương xứng với vị trí và tiềm năng đất đai
và thế mạnh thổ nhưỡng từng vùng. Cơ cấu giống vật nuôi cây trồng còn
mang nặng tính truyền thống, chậm chuyển đổi sang sản xuất hàng hoá. Chất
lượng sản phẩm nông nghiệp, tuy có tiến bộ nhưng về cơ bản vẫn còn khoảng
cách xa với yêu cầu thị trường và chưa ổn định. Đặc biệt trước yêu cầu của thị
trường thế giới hiện nay, ngoài chất lượng sản phẩm thì việc đảm bảo vệ sinh
an toàn lương thực, thực phẩm cũng còn nhiều yếu kém, không đáp ứng được
Đánh giá quá trình năng suất, chất lượng và hiệu quả, việc chuyển dịch
cơ cấu kinh tế nông nghiệp trong những năm đổi mới ở nước ta có thể tiếp
cận từ nhiều khía cạnh khác nhau, song tác giả xin đề cập một số khía cạnh cơ
bản sau đây:
- Năng suất, chất lượng và cơ cấu nông nghiệp trong tổng thể cơ cấu
17
kinh tế quốc dân.
Việt Nam là một nước hiện đang được xếp trong nhóm các nước đang
phát triển có thu nhập thấp; các ngành công nghiệp, dịch vụ chưa phát triển,
do đó nông nghiệp vẫn đóng vai trò quan trọng trong suốt tiến trình hơn 20
năm đổi mới, đặc biệt những năm đầu của thời kỳ đổi mới, khi mà nền kinh tế
lâm vào tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng, dân thiếu đói về lương thực,
thực phẩm trên diện rộng, phải nhập khẩu khối lượng lương thực hàng năm
khá lớn để đảm bảo đời sống nhân dân, trong đường lối phát triển kinh tế
Đảng ta luôn đặt nông nghiệp vào vị trí quan trọng hàng đầu.
Thực hiện đường lối của Đảng trong phát triển kinh tế nông nghiệp,
trong thời kỳ đổi mới, nền kinh tế nông nghiệp luôn đạt tốc độ tăng trưởng
cao nhờ sự thay đổi cơ chế, chính sách phù hợp với quy luật phát triển và phù
hợp lòng dân (thời kỳ từ 1991 ÷ 1995 tăng 6,1% và từ năm 1995 đến nay luôn
giữ mức tăng trưởng bình quân 3,5 đến 4% năm.[12, tr. 45] Đặc biệt trong
năm 2007 vừa qua tổng sản phẩm của kinh tế nông nghiệp chiếm 20,23%
tổng sản phẩm trong nước (GDP).
Tuy nhiên, ngành nông nghiệp vẫn còn bộc lộ những tồn tại, yếu kém
như:
Sản xuất nông nghiệp ở nước ta còn quá manh mún nhỏ lẻ, theo thống
kê mỗi hộ nông dân chỉ có 0,4 đến 0,6ha đất nông nghiệp, song được chia từ 7
đến 9 mảnh ruộng khác nhau. Do đó, với trên 12 triệu hộ nông dân, cả nước ta
hiện nay có tới trên 80 triệu mảnh ruộng [27, tr.1].Điều đó đã ảnh hương đến
Trồng trọt
Tổng số (Tỷ
đồng = 100%
129.140,5
Chăn nuôi
%
Dịch vụ
Tỷ đồng
%
Tỷ đồng
Tỷ đồng
%
101.034,
78,2
23.960,2
19,3 3.136,6
2,2
2003
127.700
101.800
75,4
22.900
22,4 3.000
2,2
2004
132.800
106.400
76,3
23.400
21,6 3.000
2,1
tích trồng lúa đang trong xu thế ngày càng bị thu hẹp dần, song năng xuất và
sản lượng lúa vẫn tăng (năng suất tăng từ 3,39 tấn bình quân năm 1995 lên 4,
9 tấn năm 2005 và sản lượng lúa cũng tăng lên tương ứng từ 24,9 triệu tấn
năm 1995 lên 35,8 triệu tấn năm 2005).
Theo kết quả nghiên cứu do Viện nghiên cứu chính sách lương thực
quốc tế công bố năm 2001, sản lượng lúa của Việt Nam tăng cao chính là do
sự tác động của khoa học công nghệ và ứng dụng những thành tựu khoa học
công nghệ đó vào quá trình sản xuất nông nghiệp cùng với những kinh
nghiệm canh tác của người nông dân đã làm cho mức tăng sản lượng lúa lên
đến 60%.
Do đó trong sản xuất nông nghiệp nói chung và trong gieo trồng lúa nói
riêng cần phải coi trọng đầu tư nhiều hơn nữa cho nghiên cứu chuyển giao
khoa học công nghệ, đào tạo, phổ cập chuyên môn ngành nghề cho người lao
động để xác định quy mô tối ưu của sản xuất lúa; điều đó đã và đang trở thành
yêu cầu cấp bách trong phát triển kinh tế nông nghiệp ở nước ta hiện nay.
Bên cạnh việc phát triển cây lúa thì các loại cây ở vùng đất dốc (những
loại nông sản dùng để sản xuất thức ăn gia súc) lại đang có xu thế suy giảm.
Đây là điều cần phải có sự cân đối để đảm bảo cho việc thúc đẩy đàn gia súc,
gia cầm của Việt Nam phát triển. Vì so với trồng trọt thì chăn nuôi hiện nay
20
đang trong tình trạng chậm phát triển. Trong khi đó yêu cầu của một nền nông
nghiệp tiến bộ luôn đi liền với sự phát triển mạnh mẽ chăn nuôi và chăn nuôi
phải chiếm tỷ trọng trên dưới 50% tổng giá trị sản xuất nông nghiệp. Mặt khác
thì hiệu suất và chất lượng chăn nuôi còn thấp, thêm vào đó tình hình dịch
bệnh kéo dài trên diện rộng, giống mới có năng suất, chất lượng cao phát triển
còn chậm, công nghệ chăn nuôi, công tác thú y, phòng và kiểm dịch động vật
còn nhiều yếu kém… làm cho ngành chăn nuôi của nước ta chậm phát triển,
rủi ro lớn, giá thành sản phẩm cao, sức cạnh tranh yếu. Mới đạt 22% giá trị
trong kinh tế nông nghiệp cho thấy việc phát huy vai trò của việc đào tạo,
phổ cập kiến thức chuyên môn ngành nghề cho người nông dân còn nhiều
yếu kém bất cập.
Sản xuất nông nghiệp Việt Nam kể từ khi đổi mới đến nay đã đạt được
nhiều thành tựu quan trọng, đưa nước ta từ nước phải nhập khẩu lương thực
trở thành một cường quốc xuất khẩu các loại nông sản như: gạo, cafê, hồ tiêu,
chè... Đó là do sự thay đổi cơ cấu sản xuất trong nông nghiệp đó cú những
chuyển biến khỏ mạnh mẽ từ một nền sản xuất nhỏ tự cung tự cấp sang nền
nụng nghiệp sản xuất hàng hoỏ trờn cơ sở hỡnh thành nhiều vựng sản xuất
cỏc giống cõy trồng và vật nuụi cú giỏ trị kinh tế và xuất khẩu.
Nhưng bên cạnh đó nông nghiệp Việt Nam đó và đang bộc lộ một số
yếu kém cần phải được khắc phục như phương thức và công cụ sản xuất cũn
lạc hậu, trỡnh độ sản xuất và quản lý cũn thấp, quy mụ sản xuất manh mỳn,
quy trỡnh sản xuất hàng hoỏ thiếu đồng bộ... dẫn tới năng suất, chất lượng
nông sản không cao, mức độ vệ sinh an toàn của sản phẩm chưa tốt, chưa
được coi trọng, hàng hoá nông sản khó đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao
của người tiêu dùng, của xuất khẩu đặc biệt là trước yêu cầu hội nhập với
kinh tế thế giới.
Trước thực trạng đó, Đảng, Nhà nước ta đó ban hành nhiều chủ trương,
chính sách nhằm đẩy mạnh hơn nữa sản xuất nông nghiệp, việc tăng cường
đầu tư, đẩy mạnh công tác nghiên cứu, ứng dụng công nghệ cao trong sản
xuất nông nghiệp cũng ngày càng được quan tâm ở nhiều địa phương như:
Bỡnh Dương, Cần Thơ, Hà Nội, Hải Phũng, Đà Nẵng, Lâm Đồng, Thành phố
22
Hồ Chí Minh …đó thiết lập những chương trỡnh và dự ỏn đầu tư nhân lực,
thiết bị để xây dựng các khu nông nghiệp công nghệ cao nhằm thúc đẩy
ngành nông nghiệp phát triển bền vững, hướng vào quy hoạch những vùng
trồng cây nông nghiệp không tốn diện tích đất nhưng vẫn cho giá trị kinh tế
vỡ:
Hiện nay nông thôn chiếm 75% dân số và lao động trong cả nước,
trong đó có đến 77% số hộ thuần nông (chỉ có thu nhập thuần tuý từ sản xuất
nụng nghiệp). Nhưng chỉ chiếm 47,38% lực lượng lao động được đào tạo
trong cả nước. Đặc biệt trong gần 60% lao động làm việc ở lĩnh vực nông số
được đào tạo mới chỉ chiếm 7% [26, tr. 205]. Điều đó cho thấy cơ cấu lao
động được đào tạo trong ngành nông nghiệp là quá thấp, đây thực sự là trở
ngại lớn nhất khi tiến hành CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn và phát triển
ngành nông nghiệp kỹ thuật cao.
Chất lượng nguồn lao động nông nghiệp nông, thôn thấp hơn rất
nhiều so với các vùng đô thị, tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo cao. Trỡnh độ
văn hoá ở thành thị và nông thôn đang có sự cách biệt tương đối lớn. Nếu ở
thành thị chỉ có khoảng 12% lao động đang làm việc chưa tốt nghiệp tiểu
học, thỡ ở nụng thụn con số đó lớn hơn hai lần. Số lao động tốt nghiệp phổ
thông trung học trở lên tại thành thị chiếm khoảng 38,6%, trong khi ở nông
thôn lại chỉ có 11,1% [16, tr. 96] (Xem bảng 2).
Bảng 2
Phân bố phần trăm theo trỡnh độ văn hoá thành thị - nông nghiệp nông
thôn, tỷ lệ lao động thành thị trong mỗi cấp trỡnh độ.
Đơn vị tính: %
Trỡnh độ giáo dục
Tỷ lệ lao động
Tổng số
Thành thị Nông thôn
Không biết đọc, viết
12,6
16,7
11,4
28,5
Trung học phổ thông
7,6
13,4
6,0
38,2
đào tạo
thành thị
24
Công nhân kỹ thuât
2,8
7,3
94,1
Chung
100
100
100
21,5
Nguồn: Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam 2005, chuyên khảo về lao
động và việc làm tại Việt Nam - 2006
Số liệu bảng trờn cho thấy rừ ràng, lao động có trỡnh độ văn hoá cao
chủ yếu tập trung ở khu vực thành thị, tới 94,1% số người cú trỡnh độ sau đại
học đang làm việc tại thành thị. Trong khi đó có tới 8,1% số người không biết
đọc, biết viết, đang làm việc ở khu vực nông thôn. Mà ở nông thôn thỡ chủ
yếu là làm nụng nghiệp với 80% lao động nông nghiệp, 20% lao động phi
nông nghiệp [26, tr. 102]. Do đó có thể thấy rừ trỡnh độ lao động cho phát
triển kinh tế nông nghiệp ở nước ta trong những năm gần đây và hiện nay cũn
rất thấp. Đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật, người lao động sản xuất giỏi trong
phát triển kinh tế nông nghiệp đặc biệt là trong thực hiện chủ trương phát
triển ngành nông nghiệp công nghệ cao thỡ cũn rất thiếu, chưa đáp ứng với
yêu cầu đũi hỏi của nền kinh tế nông nghiệp ở nước ta hiện nay.
Mặt khác trong số học sinh tốt nghiệp các ngành nông, lâm, ngư nghiệp
ở các trường trung học chuyên nghiệp chỉ trên 40% làm việc đúng ngành
nghề, cũn trong số sinh viờn tốt nghiệp đại học ở các khoa này thỡ chỉ khoảng
20% làm việc đúng ngành nghề đào tạo. Trong số lao động chuyển ngành
nghề so với ngành nghề đào tạo, chỉ có 42,5% được đào tạo lại, số cũn lại
động cũn hạn chế nhất là về trỡnh độ chuyên môn ngành nghề, kỹ năng lao
động sản xuất. Đồng thời việc khai thác, sử dụng số lao động đó qua đào tạo
lại bất hợp lý và kộm hiệu quả và có sự mất cân đối lớn về cơ cấu lao động
giữa các ngành, vùng trong phát triển kinh tế nông nghiệp . Điều đó cho thấy
việc đào tạo, phổ cập kiến thức chuyên môn ngành nghề cho người nông dân
còn nhiều yếu kém.