LUẬN VĂN THẠC SĨ - HIỆU QUẢ CÔNG TÁC VẬN ĐỘNG QUẦN CHÚNG PHÒNG CHỐNG DI CƯ TỰ DO Ở KHU VỰC BIỆN GIỚI CỦA BỘ ĐỘI BIÊN PHỎNG CÁC TỈNH TÂY NGUYÊN HIỆN NAY - Pdf 40

CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Ban Chấp hành Trung ương

BCHTƯ

Bộ đội Biên phòng

BĐBP

Chính trị quốc gia

CTQG

Chủ nghĩa đế quốc

CNĐQ

Chủ nghĩa xã hội

CNXH

Chủ quyền an ninh

CQAN

Công tác đảng, công tác chính trị

CTĐ,CTCT

Di cư tự do


Uỷ ban nhân dân

UBND

Vận động quần chúng

VĐQC

Xã hội chủ nghĩa

XHCN

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh khẳng định: cách mạng là
sự nghiệp của quần chúng nhân dân; nhân dân luôn là lực lượng có ý nghĩa quyết
định đối với sự thành bại của cách mạng.
Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam đã chứng minh đại
đoàn kết dân tộc là nguồn sức mạnh to lớn để giành thắng lợi trong các cuộc chiến
tranh chống ngoại xâm để bảo vệ CQAN biên giới của Tổ quốc cũng như trong xây
dựng đất nước. Đảng và quân đội ta luôn coi nhiệm vụ VĐQC nhân dân tham gia


bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia là yêu cầu khách quan và cấp bách trong mọi
giai đoạn của cách mạng.
BĐBP là LLVT cách mạng của Đảng và Nhà nước, là lực lượng nòng cốt
chuyên trách bảo vệ CQAN biên giới quốc gia. Để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ
thiêng liêng đó, BĐBP đã vận dụng nhiều biện pháp khác nhau; trong đó biện pháp
cơ bản quan trọng và có hiệu quả nhất là vận động nhân dân tham gia bảo vệ biên
giới. Gần nửa thế kỷ qua, BĐBP luôn vận dụng tốt biện pháp VĐQC xây dựng

TCCT, Hà Nội, 2002. Tiến sĩ Đặng Vũ Liêm, “BĐBP với công tác đấu tranh


phòng, chống truyền đạo trái phép và DCTD ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số
KVBG Tây Bắc, Tây Nguyên”, đề tài khoa học cấp TCCT, Hà Nội, 2002. Nguyễn
Minh Mẫn, “Công tác VĐQC Công giáo tham gia bảo vệ CQAN vùng biển - đảo
của BĐBP tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu trong tình hình mới”, đề tài cấp Bộ tư lệnh
BĐBP, 2001.
Những công trình khoa học trên đã nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau về
công tác VĐQC tham gia bảo vệ CQAN biên giới quốc gia của BĐBP, đây là
những tài liệu khoa học có giá trị giúp cho tác giả nghiên cứu tham khảo, chọn lọc
và kế thừa.
Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống hiệu
quả công tác VĐQC phòng, chống DCTD của BĐBP ở các tỉnh Tây Nguyên. Vì
vậy, tác giả chọn đề tài: “Hiệu quả công tác vận động quần chúng phòng chống
di cư tự do ở khu vực biên giới của bộ đội biên phòng các tỉnh Tây Nguyên hiện
nay”.
3. Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Mục đích: luận giải, làm sáng tỏ cơ sở lý luận, thực tiễn về hiệu quả công
tác VĐQC phòng, chống DCTD ở KVBG. Trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp
cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả công tác VĐQC phòng, chống DCTD ở KVBG
của BĐBP các tỉnh Tây Nguyên.
- Nhiệm vụ:
+ Luận giải làm rõ khái niệm, vai trò, nội dung, hình thức công tác VĐQC
và hiệu quả công tác VĐQC phòng, chống DCTD ở KVBG của BĐBP các tỉnh
Tây Nguyên.
+ Đánh giá thực trạng hiệu quả công tác VĐQC phòng, chống DCTD ở
KVBG của BĐBP các tỉnh Tây Nguyên trong những năm qua, rút ra nguyên nhân
và những bài học kinh nghiệm.
+ Xác định phương hướng, yêu cầu và những giải pháp cơ bản nâng cao hiệu

chống DCTD ở KVBG.
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo,
nghiên cứu, giảng dạy môn CTĐ,CTCT ở các nhà trường trong quân đội.
6. Kết cấu của luận văn
Gồm phần mở đầu, 2 chương (4 tiết), kết luận, danh mục tài liệu tham khảo
và phụ lục.
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HIỆU QUẢ CÔNG TÁC VẬN
ĐỘNG QUẦN CHÚNG PHÒNG, CHỐNG DI CƯ TỰ DO Ở KHU VỰC
BIÊN GIỚI CỦA BỘ ĐỘI BIÊN PHÒNG CÁC TỈNH TÂY NGUYÊN
1.1. Công tác vận động quần chúng phòng, chống di cư tự do và hiệu quả công
tác vận động quần chúng phòng, chống di cư tự do ở khu vực biên giới của bộ
đội biên phòng các tỉnh Tây Nguyên
1.1.1. Di cư tự do và công tác vận động quần chúng phòng, chống di cư tự
do ở khu vực biên giới của bộ đội biên phòng các tỉnh Tây Nguyên
* Di cư tự do ở KVBG các tỉnh Tây Nguyên
Hiện tượng du canh du cư vốn là tập quán lạc hậu lâu đời của các dân tộc
thiểu số sống theo phương thức canh tác đốt nương làm rẫy ở các vùng rừng núi


nước ta. Do thói quen du canh, du cư còn nặng nề, đời sống khó khăn; bên cạnh đó
lại có sự tác động từ các phần tử xấu nên tình hình DCTD ở KVBG của một bộ
phận đồng bào dân tộc thiểu số vẫn đang có diễn biến phức tạp. Thời gian qua,
hiện tượng DCTD diễn ra đồng thời ở nhiều khu vực với nhiều hình thức khác
nhau, có cả người từ nơi khác đến KVBG và có cả người cư trú ở KVBG DCTD
đến địa bàn khác.
Di cư theo Đại từ điển Tiếng Việt là “dời, chuyển đến nơi khác để sinh
sống”[42,533]; còn “tự do” theo nghĩa trong cụm từ “DCTD” được hiểu là “tự do
chủ nghĩa” tức là “chỉ muốn làm theo ý riêng, không chịu sự ràng buộc vào những
nguyên tắc tổ chức dẫn đến vô tổ chức, vô kỷ luật”[42,1763].

Qua nghiên cứu cho thấy DCTD có nguyên nhân sâu xa từ tập quán truyền
thống lạc hậu của một bộ phận các dân tộc thiểu số, sống chủ yếu dựa vào phát
nương rẫy, săn bắt và khai thác lâm sản. Khi nguồn tài nguyên sẵn có đã trở nên
cạn kiệt họ lại tiếp tục ra đi tìm vùng đất mới. Trong khi đó ở KVBG các tỉnh Tây
Nguyên cho đến nay vẫn đang tồn tại những vùng rừng núi hoang dã chưa có sự
khai phá của con người. Nguồn tài nguyên rừng ở đây còn phong phú và đa dạng,
đó chính là “miền đất hứa” đối với bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số quen sống du
canh du cư, phá rừng để sinh sống.
Nguyên nhân trực tiếp của hiện tượng DCTD là do điều kiện kinh tế khó
khăn, đất đai canh tác bạc màu, năng suất lao động quá thấp, sản xuất hàng hoá
chưa phát triển; các hoạt động đầu tư phát triển kinh tế - xã hội giành cho vùng
cao, vùng sâu, vùng xa hiệu quả chưa cao, chưa tạo được sự chuyển biến đáng kể
trong đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu số. Kết quả điều tra cho thấy trong
tổng số 3125 hộ = 15625 khẩu DCTD từ các tỉnh phía Bắc vào Tây Nguyên thì có
1108 hộ = 5540 khẩu (chiếm 35,45%) là vì lý do kinh tế, đời sống.
Một nguyên nhân quan trọng khác là CNĐQ đứng đầu là Mỹ cấu kết với các
thế lực phản động trong và ngoài nước luôn tìm mọi thủ đoạn tinh vi thâm độc
nhằm chống phá cách mạng Việt Nam. Chúng đặc biệt coi trọng thực hiện chiến
lược “DBHB” để phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc Việt Nam. Lừa phỉnh, dụ dỗ
đồng bào dân tộc thiểu số “đi tìm Tổ quốc” hoặc lợi dụng thần quyền, giáo lý để ép
buộc đồng bào di cư đến những khu vực có đạo Tin lành, truyền bá trái phép đạo
“Tin lành Đề Ga” trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở KVBG. Qua điều tra của
BĐBP những năm qua thấy rằng tình trạng DCTD của người dân tộc thiểu số các
tỉnh biên giới phía Bắc vào Tây Nguyên đều có liên quan đến hoạt động của đạo
Tin lành. Số liệu thống kê cho thấy, từ đầu năm 1999 đến 3 tháng đầu năm 2002 đã
có 2017 hộ với 11.320 khẩu là người dân tộc H’Mông ở các tỉnh biên giới phía Bắc
DCTD vào tỉnh Đắc Lắc. Hiện nay 9/10 huyện của tỉnh Đắc Lắc có đồng bào dân
tộc H’Mông di cư đến, trong đó có 921 hộ với 5234 khẩu là tín đồ đạo Tin lành.
Trên địa bàn tỉnh Gia Lai, theo số liệu thống kê đến hết tháng 6 năm 2002,
số lượng tín đồ theo đạo Tin lành có khoảng 56.000 người trong đó số tín đồ là

dân tộc, tôn giáo để kích động tư tưởng dân tộc hẹp hòi và lòng tin mù quáng của
đồng bào các dân tộc thiểu số vào “Chúa trời”, vào “Đấng khai sáng”, gây nên sự
mất ổn định về trật tự xã hội trong KVBG.
DCTD ở KVBG còn là điều kiện để các loại tệ nạn xã hội hoạt động một
cách tự do, nhất là những cụm dân cư mới hình thành một cách tự phát, chưa được
đưa vào quản lý trong các đơn vị hành chính. Hiện tượng DCTD còn gây tác
động xấu đến môi trường, tài nguyên sinh thái; tài nguyên rừng bị xâm hại, môi
trường và nguồn nước bị ô nhiễm do điều kiện sống tạm bợ và mất vệ sinh gây
nên; trẻ em không được đến trường, tình trạng mù chữ, đói thông tin trở nên khá
phổ biến. Đây là miếng đất “màu mỡ” để kẻ địch và các phần tử xấu gieo rắc,
nuôi dưỡng những hạt giống phản loạn, chống đối chế độ, âm mưu lật đổ chính
quyền.
* Công tác VĐQC phòng, chống DCTD ở KVBG của BĐBP các tỉnh Tây
Nguyên
Bảo vệ CQAN biên giới là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân của
các ngành, các cấp và các đoàn thể xã hội, trong đó BĐBP là lực lượng nòng cốt
chuyên trách. Nghị quyết của Bộ Chính trị về xây dựng BĐBP trong tình hình mới


đã xác định: “BĐBP là LLVT cách mạng của Đảng và Nhà nước, là một thành phần
của QĐND Việt Nam, làm nòng cốt chuyên trách quản lý, bảo vệ CQAN lãnh thổ
quốc gia theo nhiệm vụ và quyền hạn được giao, đồng thời là một thành viên của
khu vực phòng thủ biên giới”[11,3].
Với chức năng quan trọng đó, Đảng và Nhà nước giao cho BĐBP 7 nhiệm
vụ cơ bản, toàn diện trên các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, đối ngoại... Để thực
hiện thắng lợi 7 nhiệm vụ cơ bản được giao, BĐBP vận dụng một cách linh hoạt
sáu biện pháp công tác cơ bản là VĐQC, biện pháp trinh sát biên phòng, biện
pháp kiểm soát hành chính, biện pháp tuần tra vũ trang, biện pháp công trình kỹ
thuật và biện pháp đối ngoại biên phòng.
Công tác VĐQC tham gia bảo vệ CQAN biên giới của BĐBP: là tổng thể

độc và có thủ đoạn xảo quyệt tinh vi. Để đấu tranh có hiệu quả thì trước hết nhân
dân và các lực lượng đứng chân trên KVBG phải được tuyên truyền giáo dục, phải
được tổ chức chặt chẽ, được trang bị kiến thức nghiệp vụ cần thiết mới có thể hành
động thống nhất, mới giành được thắng lợi.
- Công tác VĐQC phòng, chống DCTD ở KVBG là một hoạt động cơ bản
của công tác VĐQC tham gia bảo vệ CQAN biên giới của BĐBP, bao gồm các
hoạt động tuyên truyền, giáo dục, giải thích, động viên, tổ chức hướng dẫn
nhân dân ở KVBG chấp hành nghiêm chủ trương, chính sách, pháp luật của
Đảng và Nhà nước về định canh, định cư và quy chế KVBG, tham gia xây dựng,
phát triển kinh tế, văn hoá xã hội, góp phần ổn định sản xuất và đời sống nhân
dân. Phối hợp với các ngành, các cấp ở địa phương phát hiện, ngăn chặn các
trường hợp di cư trái phép, giáo dục cảm hoá những người vi phạm và cảnh
cáo, răn đe các phần tử kích động, bọn cầm đầu ngoan cố; làm tham mưu cho
cấp uỷ, chính quyền địa phương giải quyết các vụ việc liên quan đến DCTD ở
KVBG, xây dựng biên giới hoà bình hữu nghị với nước láng giềng.
Công tác VĐQC phòng, chống DCTD ở KVBG của BĐBP là một hoạt động
quan trọng trong công tác VĐQC của Đảng và của quân đội. Trong khi vấn đề
DCTD của đồng bào các dân tộc thiểu số ở KVBG các tỉnh Tây Nguyên đang có
chiều hướng gia tăng và trở nên phức tạp, thì công tác VĐQC của BĐBP càng trở
thành một mũi nhọn xung kích để đấu tranh giữ vững CQAN biên giới. Nhận thức
sâu sắc vấn đề trên, BĐBP các tỉnh Tây Nguyên xác định công tác VĐQC phòng,
chống DCTD ở KVBG là một hoạt động quan trọng của công tác VĐQC tham gia
bảo vệ CQAN biên giới.
- Nội dung, biện pháp công tác VĐQC phòng, chống DCTD ở KVBG Tây
Nguyên của BĐBP là: căn cứ vào đường lối, chủ trương, chính sách pháp luật của
Đảng và Nhà nước, đặc biệt là chính sách định canh, định cư, chính sách dân tộc,
chính sách tôn giáo, chủ trương xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc cùng với
những quy định, quy chế của Chính phủ Việt Nam về cư trú, hoạt động trong
KVBG để tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức mọi mặt cho đồng bào các
dân tộc thiểu số. Trên cơ sở giúp đồng bào nhận thức đúng đắn về chủ trương,

rất phức tạp. Tây Nguyên là một trong những địa bàn chiến lược quan trọng về
chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh. Diện tích của Tây Nguyên là 56.000 km 2,
địa hình rất đa dạng gồm đồi núi, cao nguyên và thung lũng xen kẽ nhau. Địa bàn
Tây Nguyên có nhiều khu rừng nguyên sinh trải dài từ Đông sang Tây, dân cư thưa
thớt, đường sá đi lại rất khó khăn; khu vực này là căn cứ cách mạng của ta trong
kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, nhưng hiện nay lại là nơi để các lực lượng
phản động ẩn náu, xâm nhập và móc nối hoạt động chống phá. Thời tiết, khí hậu ở
KVBG các tỉnh Tây Nguyên rất khắc nghiệt; mỗi năm chia thành hai mùa rõ rệt: 6
tháng mùa khô nắng nóng và hạn hán, 6 tháng mùa mưa gây khó khăn nghiêm
trọng cho giao thông, thông tin liên lạc nói chung và cho hoạt động quản lý bảo vệ
CQAN biên giới của BĐBP nói riêng.
- Công tác VĐQC phòng, chống DCTD của BĐBP các tỉnh Tây Nguyên
chịu ảnh hưởng quan trọng của tình hình dân cư và điều kiện kinh tế, văn hoá,
chính trị, quốc phòng, an ninh ở KVBG.


Tuyến biên giới Tây Nguyên có chiều dài 591 km thuộc 3 tỉnh Kon Tum,
Gia Lai và Đắc Lắc. Toàn tuyến có 24 xã biên giới thuộc 11 huyện với 21 dân tộc
anh em sinh sống; dân số trong KVBG có 16.952 hộ = 83.974 khẩu trong đó có
10.970 hộ = 57.376 khẩu là đồng bào các dân tộc thiểu số (chiếm 68% dân số).
Đồng bào các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên từ xưa đến nay luôn có truyền thống
yêu nước. Từ ngày có Đảng, đồng bào một lòng theo Đảng, sức mạnh đại đoàn kết
các dân tộc ngày càng được củng cố và phát huy, đồng bào luôn gắn bó và ủng hộ
BĐBP, có nhiều kinh nghiệm trong việc phối hợp với BĐBP quản lý, bảo vệ
CQAN biên giới. Bản tính chung của đồng bào các dân tộc thiểu số Tây Nguyên là
trung thực, mạnh mẽ, chân thật, chịu đựng được gian khổ thiếu thốn, đó là những
điều kiện rất thuận lợi đối với công tác VĐQC của BĐBP.
Tuy nhiên, tình hình phân bố dân cư trên tuyến biên giới các tỉnh Tây
Nguyên cũng có những tác động không thuận lợi đến hoạt động của BĐBP nói
chung và công tác VĐQC phòng, chống DCTD nói riêng. Do việc các dân tộc sinh

hộ thuộc diện hộ nghèo (trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 90%); hiện nay
mới có 8/24 xã có điện lưới quốc gia. Trẻ em trong độ tuổi đến trường bị thất học
còn nhiều, hiện tượng mù chữ, tái mù chữ giảm không đáng kể (hiện đang có 4.329
trẻ em bị thất học; 16.053 người bị mù chữ và tái mù chữ, trong đó 87% là con em
đồng bào dân tộc thiểu số).
Về cơ sở chính trị: trên 24 xã biên giới của Tây Nguyên hiện có 18 đảng bộ,
139 chi bộ với 1.223 đảng viên trong đó đảng viên là người dân tộc thiểu số chiếm
hơn 80%. Đây là điểm thuận lợi quan trọng đối với công tác VĐQC xây dựng cơ
sở chính trị ở KVBG, nơi có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống. Qua phân
loại phong trào bảo vệ CQAN biên giới hàng năm số xã khá và vững mạnh tăng
lên; theo kết quả phân loại, đến nay chất lượng phong trào bảo vệ CQAN biên giới
của các xã biên giới Tây Nguyên không còn xã yếu kém (cụ thể: vững mạnh: 4;
khá:16 và trung bình:4).
Tổ chức công an, dân quân xã hàng năm được huấn luyện theo chương trình
quy định; lực lượng công an và dân quân cơ sở thường xuyên phối hợp với BĐBP
tuần tra bảo vệ biên giới và giữ gìn an ninh chính trị, trật tự xã hội trong KVBG.
Tuy nhiên, tổ chức cơ sở đảng, chính quyền ở một số xã chưa thực sự vững mạnh,
năng lực lãnh đạo còn hạn chế. Một bộ phận cán bộ, đảng viên trình độ văn hoá
thấp, kinh tế gia đình còn khó khăn nên trong lãnh đạo, tổ chức quần chúng thực
hiện các chương trình công tác của địa phương chưa có hiệu quả cao.
Về an ninh chính trị: trong những năm qua, để thực hiện chiến lược
“DBHB”, CNĐQ đứng đầu là Mỹ cùng với các thế lực thù địch thường xuyên đẩy
mạnh các hoạt động chiến tranh tâm lý, gieo rắc hoài nghi, gây hoang mang trong
cán bộ, đảng viên và nhân dân các dân tộc ở KVBG, làm cho họ giảm sút niềm tin
vào Đảng, vào chế độ và cơ quan lãnh đạo, chính quyền, đoàn thể địa phương.
Chúng triệt để lợi dụng đặc điểm vùng dân tộc thiểu số dân trí thấp, thông tin kém
phát triển để khai thác những vấn đề lịch sử, những khó khăn hiện nay, nhất là
những sơ hở thiếu sót của ta trong thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo. Chúng ra
sức kích động, dụ dỗ, lôi kéo quần chúng và những phần tử thoái hoá biến chất
trong cán bộ, đảng viên để tập hợp lực lượng, khi có thời cơ là nổi dậy gây rối tiến

Xuất phát từ chức năng, nhiệm vụ của BĐBP, các đồn biên phòng có quân
số, trang bị, biên chế tổ chức theo quy định của QĐND Việt Nam; có sự lãnh đạo,
chỉ huy chặt chẽ trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Trong hệ thống tổ chức của
BĐBP, lực lượng chuyên trách làm công tác VĐQC cũng được bố trí theo hệ thống
dọc; ở Bộ tư lệnh BĐBP có phòng VĐQC; ở Bộ chỉ huy biên phòng tỉnh có ban
VĐQC và các đồn biên phòng có đội VĐQC chuyên trách. Đội VĐQC biên chế sĩ
quan chỉ huy làm đội trưởng, đội phó; số còn lại chủ yếu là QNCN và chiến sĩ.
Quân số đội VĐQC thường biên chế từ 7 đến 9 đồng chí; do biên chế thành các tổ
công tác nên rất thuận tiện trong cơ động bám sát địa bàn, bố trí hoạt động đến tận
từng buôn làng giáp biên để thực hiện nhiệm vụ. Tuy nhiên, do quân số ít lại phải
đảm nhiệm những địa bàn rộng lớn, dân cư thưa thớt nên cũng có nhiều khó khăn
trong công tác bám, nắm địa bàn và tiến hành tuyên truyền vận động.


Đội ngũ chuyên trách công tác VĐQC ở các đồn biên phòng tuyến Tây
Nguyên luôn phải hoạt động ở những nơi khó khăn gian khổ, ít có điều kiện để
nghiên cứu, tiếp cận với những kiến thức mới để nâng cao trình độ. Một bộ phận
cán bộ, chiến sĩ chuyên trách VĐQC là người Kinh, chưa thạo tiếng dân tộc, hiểu
biết và nắm phong tục, tập quán của đồng bào dân tộc thiểu số còn hạn chế nên gặp
rất nhiều khó khăn trong tiếp xúc, tuyên truyền vận động nhân dân. Mặt khác, phần
lớn đội ngũ chuyên trách VĐQC từ khi ra trường về đơn vị công tác đều không có
điều kiện đi tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ, chưa đổi mới nội dung, hình thức
phương pháp tuyên truyền, vận động, tài liệu sử dụng cho tuyên truyền thiếu làm
ảnh hưởng đến hiệu quả công tác VĐQC phòng, chống DCTD ở KVBG các tỉnh
Tây Nguyên.
1.1.2. Hiệu quả công tác vận động quần chúng, phòng chống di cư tự do
ở khu vực biên giới của Bộ đội biên phòng các tỉnh Tây Nguyên
* Quan niệm hiệu quả công tác VĐQC phòng, chống DCTD.
Thuật ngữ hiệu quả được sử dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực, cả trong xã
hội cũng như trong hoạt động quân sự. Theo Đại từ điển Tiếng Việt, hiệu quả có

vững mạnh; về kinh tế, quốc phòng, an ninh phải tạo được sự ổn định dân cư, ổn
định và phát triển sản xuất gắn với bảo vệ vững chắc CQAN biên giới quốc gia và
củng cố, xây dựng khu vực phòng thủ trên biên giới.
- Khi xem xét hiệu quả công tác VĐQC phòng, chống DCTD ở KVBG của
BĐBP các tỉnh Tây Nguyên cần phải có quan điểm toàn diện, phải xem xét hoạt
động đó trong tổng thể vì hoạt động này là một chỉnh thể thống nhất bao gồm
nhiều yếu tố hợp thành như chủ thể, đối tượng, mục tiêu, nhiệm vụ, nội dung, hình
thức, phương tiện. Nói đến hiệu quả công tác VĐQC phòng, chống DCTD ở
KVBG của BĐBP các tỉnh Tây Nguyên là phải nói đến hiệu quả hoạt động của
từng yếu tố đó; yếu tố nào, bộ phận nào có hiệu quả thấp sẽ ảnh hưởng không tốt
tới hiệu quả của toàn bộ hoạt động. Vì vậy trong đánh giá phải nghiên cứu từng
mặt, từng yếu tố cấu thành của nó; nhưng mỗi mặt, mỗi yếu tố lại có chức năng,
nhiệm vụ cụ thể nên lại phải có phương pháp xem xét cụ thể.
Trên đây là phương pháp luận để nhận biết, xác định hiệu quả của một hoạt
động nói chung. Trong thực tế, mỗi loại hoạt động cụ thể khác nhau thì phương
pháp đánh giá hiệu quả cũng khác nhau. Phương pháp đánh giá hiệu quả hoạt động
của một công trình khoa học xã hội khác với phương pháp đánh giá hiệu quả hoạt
động của một công trình khoa học kỹ thuật, khoa học tự nhiên. Trong lĩnh vực
khoa học kỹ thuật, khoa học tự nhiên, người ta có thể sử dụng các phương tiện kỹ
thuật hiện đại để xác định hiệu quả một cách nhanh chóng thông qua các chỉ số
được đo đạc chính xác. Còn trong lĩnh vực khoa học xã hội hiệu quả hoạt động
thường không thể thấy được trực tiếp mà phải thông qua nhiều yếu tố khác; hiệu
quả có khi thể hiện ngay nhưng cũng có khi phải sau một thời gian dài mới thấy
được. Công tác VĐQC phòng, chống DCTD ở KVBG của BĐBP các tỉnh Tây
Nguyên là sự tác động vào con người và tổ chức, hiệu quả của nó bao gồm cả phần
định tính và định lượng. Khi xem xét hiệu quả của công tác này phải dựa trên kết
quả hiện thực như số lượng đồng bào được tuyên truyền, giáo dục, số người có
chuyển biến tốt, tự nguyện chuyển về quê cũ, số người cam kết không tự ý di
chuyển, số lượng cơ sở chính trị được xây dựng, củng cố; mức sống của đồng bào
các dân tộc thiểu số ở KVBG năm sau so với năm trước như thế nào... Việc theo

KVBG của BĐBP các tỉnh Tây Nguyên.
Theo Đại từ điển Tiếng Việt, tiêu chuẩn là “Điều được quy định dùng làm
chuẩn để phân loại đánh giá”[42,1640]. Tiêu chuẩn được thể hiện ở các chỉ số,
thông số, chỉ tiêu dùng làm thước đo, dựa vào đó để so sánh, đánh giá kết quả hoạt
động. Các chỉ số, thông số, chỉ tiêu càng cụ thể, chính xác bao nhiêu thì việc đánh
giá càng chính xác bấy nhiêu.
Từ quan niệm về hiệu quả và phương pháp tiếp cận đánh giá hiệu quả, có thể
xác định hệ thống tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả công tác VĐQC phòng, chống
DCTD ở KVBG của BĐBP các tỉnh Tây Nguyên bao gồm:
Thứ nhất, đánh giá khả năng của các chủ thể trong công tác VĐQC phòng,
chống DCTD ở KVBG của BĐBP các tỉnh Tây Nguyên thể hiện ở sự trong sạch,
vững mạnh của tổ chức đảng (trước hết là chi uỷ, chi bộ đồn biên phòng), sự quan
tâm của tổ chức đảng đối với công tác VĐQC phòng, chống DCTD thông qua việc


thường xuyên đưa nội dung, nhiệm vụ VĐQC phòng, chống DCTD ở KVBG vào
các nghị quyết lãnh đạo hàng tháng, hàng quý, ra các nghị quyết chuyên đề khi cần
tập trung lãnh đạo; vai trò của người chỉ huy từ cấp tỉnh tới cấp đồn biên phòng đối
với việc tổ chức thực hiện các nghị quyết của Đảng uỷ, của chi bộ đồn biên phòng.
Mọi cán bộ, chiến sĩ trong các đơn vị BĐBP đều có bản lĩnh chính trị kiên định
vững vàng, tin tưởng vào sự lãnh đạo, chỉ đạo của tổ chức đảng và người chỉ huy,
có năng lực thực hiện nhiệm vụ giỏi, nắm vững đường lối, chủ trương, chính sách,
pháp luật của Đảng và Nhà nước, hiểu biết sâu sắc về phong tục, tập quán của
đồng bào các dân tộc và có kiến thức tổng hợp về kinh tế, văn hoá, xã hội đủ khả
năng làm tham mưu cho cấp uỷ, chính quyền địa phương trong những vấn đề liên
quan đến công tác biên phòng. Cấp uỷ, chính quyền, đoàn thể địa phương có chủ
trương, biện pháp tuyên truyền, tổ chức hướng dẫn nhân dân tham gia đấu tranh
phòng, chống DCTD, giúp đỡ BĐBP trong bảo vệ CQAN biên giới.
Thứ hai, đánh giá kết quả thực hiện các nội dung, hình thức, biện pháp
công tác VĐQC phòng, chống DCTD ở KVBG của BĐBP các tỉnh Tây

quan của hiệu quả công tác VĐQC nói chung và của công tác VĐQC phòng,
chống DCTD ở KVBG của BĐBP các tỉnh Tây Nguyên nói riêng. Như vậy thông
qua công tác tuyên truyền, vận động của BĐBP, trình độ nhận thức và kiến thức
của quần chúng nhân dân được nâng lên, từ đó chuyển biến thành hành động thực
tế như tích cực ủng hộ và bảo vệ các cơ quan đảng, chính quyền, đoàn thể quần
chúng, bảo vệ cán bộ, đảng viên và các thành viên của các đoàn thể đó. Thực hiện
nghiêm chỉnh các chủ trương, biện pháp, quy định của pháp luật Nhà nước và của
địa phương về phát triển kinh tế - xã hội ở địa bàn miền núi, biên giới, thực hiện
xoá đói giảm nghèo, tích cực tăng gia sản xuất ổn định đời sống, không du canh du
cư, không vượt biên giới trái phép, không bao che hoặc tiếp tay cho phần tử xấu
hoạt động phá hoại. Có trách nhiệm xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với cơ quan Nhà
nước và lực lượng vũ trang đóng ở địa phương. ủng hộ BĐBP trong xây dựng đơn
vị vững mạnh, trong đấu tranh phòng, chống DCTD ở KVBG và trong xây dựng,
củng cố mối quan hệ đoàn kết hữu nghị với nước láng giềng. Đây được coi là tiêu
chuẩn quan trọng nhất đánh giá hiệu quả công tác VĐQC phòng, chống DCTD ở
KVBG của BĐBP các tỉnh Tây Nguyên.
1.2. Hiệu quả công tác vận động quần chúng phòng, chống di cư tự do ở
khu vực biên giới của bộ đội biên phòng các tỉnh Tây Nguyên thời gian qua,
thực trạng, nguyên nhân và những kinh nghiệm
1.2.1. Thực trạng công tác vận động quần chúng và hiệu qủa công tác vận
động quần chúng phòng, chống di cư tự do ở khu vực biên giới của bộ đội biên
phòng các tỉnh Tây Nguyên thời gian qua
* Những ưu điểm
- Lãnh đạo, chỉ huy các cấp của BĐBP các tỉnh Tây Nguyên nhận thức đúng
đắn về vị trí, vai trò công tác quần chúng và công tác VĐQC phòng, chống DCTD
ở KVBG.
Là lực lượng nòng cốt, chuyên trách trong bảo vệ CQAN biên giới 3 tỉnh
Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc; BĐBP các tỉnh Tây Nguyên luôn nhận thức đúng đắn
vị trí, vai trò, tầm quan trọng của công tác quần chúng nói chung và công tác
VĐQC tham gia bảo vệ CQAN biên giới của BĐBP. Lãnh đạo, chỉ huy các cấp

thống nhất các phương án hành động nhằm nâng cao hiệu quả công tác VĐQC
trên KVBG nói chung và VĐQC phòng, chống DCTD nói riêng; các đơn vị
BĐBP cũng đã chủ động tham mưu cho cấp uỷ, chính quyền địa phương ra các
nghị quyết, chỉ thị, kế hoạch chỉ đạo các ban, ngành, đoàn thể ở địa phương (nhất
là với các huyện, xã có biên giới) tích cực đẩy mạnh công tác VĐQC phòng,
chống DCTD. Cho đến đầu năm 2002, cả 3 tỉnh đều đã có nghị quyết chuyên đề
về đấu tranh phòng, chống DCTD. Mọi cán bộ, chiến sĩ trong các đơn vị BĐBP
các tỉnh Tây Nguyên đều được học tập quán triệt và có nhận thức đầy đủ về tính
chất phức tạp của vấn đề DCTD ở KVBG cũng như vị trí, tầm quan trọng của
công tác VĐQC phòng, chống DCTD ở KVBG của BĐBP.
- Trong những năm qua, công tác VĐQC phòng, chống DCTD của BĐBP các
tỉnh Tây Nguyên đã đổi mới về hình thức, phương pháp và tổ chức sử dụng lực lượng
đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống DCTD trong tình hình mới.
Từ các tổ, đội công tác đến các đồn biên phòng, các đơn vị cơ động và Đảng
uỷ, Bộ chỉ huy BĐBP các tỉnh đã thường xuyên làm tham mưu cho cấp uỷ, chính


quyền các cấp trên mọi lĩnh vực hoạt động như xây dựng, củng cố cơ sở kinh tế văn hoá - xã hội, tham gia giải quyết các vụ tranh chấp đất đai liên quan đến
DCTD, xây dựng biên giới hoà bình hữu nghị...
BĐBP các tỉnh Tây Nguyên đã chủ động phối hợp, hiệp đồng với các ngành,
các lực lượng cùng tham gia VĐQC phòng, chống DCTD ở KVBG; bằng những
chủ trương và dự án đầu tư cụ thể, thiết thực gắn với việc bồi dưỡng, hướng dẫn
tạo điều kiện cho các đoàn thể chính trị xã hội ở địa phương hoạt động đúng chức
năng, đúng định hướng làm cho công tác tuyên truyền VĐQC phòng, chống DCTD
ở KVBG trở nên đa dạng, phong phú, sâu sắc và hiệu quả.
Đồng thời, BĐBP các tỉnh Tây Nguyên gắn chặt giữa việc tập trung lực
lượng giải quyết các điểm nóng, nơi có tình hình tranh chấp phức tạp, có dấu hiệu
phá hoại của địch với giải quyết những vấn đề thường xuyên. Kết hợp giữa xây và
chống, coi trọng xây dựng điển hình tiên tiến, thường xuyên sơ tổng kết rút kinh
nghiệm và nhân rộng điển hình, thực hiện khen thưởng và xử phạt kịp thời, nghiêm

Quán triệt tư tưởng chủ động tiến công kẻ địch, các đơn vị BĐBP đã tham
mưu cho địa phương và phối hợp với đội ngũ cán bộ cốt cán ở cơ sở vạch trần bản
chất phản động, lừa bịp của các phần tử xấu. Tăng cường lực lượng bám địa bàn,
bám đồng bào, tận tình hướng dẫn cho đồng bào cách làm ăn và tổ chức cuộc sống
văn minh; phổ biến rộng rãi và cùng với địa phương đẩy mạnh cuộc vận động
“toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống văn hoá” góp phần ổn định và nâng cao
đời sống mọi mặt của nhân dân. Trong những năm qua, BĐBP các tỉnh Tây
Nguyên đã phối hợp chặt chẽ với địa phương và các ngành, các lực lượng liên
quan tổ chức được 824 buổi tuyên truyền tập trung cho 3795 lượt người nghe. Kết
quả thăm dò ý kiến ở đơn vị cơ sở cho thấy 120/163 người được hỏi (73,61%) cho
rằng tổ chức họp dân để tuyên truyền tập trung là hình thức phổ biến và có hiệu
quả cao. Cùng với hoạt động tuyên truyền tập trung, hình thức tuyên truyền cá biệt
và tuyên truyền lồng ghép đã góp phần nâng cao nhận thức, củng cố niềm tin của
đồng bào các dân tộc thiểu số KVBG đối với chủ trương, đường lối của Đảng,
chính sách, pháp luật của Nhà nước để đồng bào chủ động, cảnh giác đấu tranh có
hiệu quả với các thủ đoạn xuyên tạc, lừa gạt, kích động DCTD của kẻ địch và các
phần tử xấu.
Tham gia xây dựng, củng cố cơ sở chính trị ở các xã biên giới: BĐBP các
tỉnh Tây Nguyên đã thường xuyên nắm vững tình hình mọi mặt ở địa bàn, làm
tham mưu cho cấp uỷ, chính quyền địa phương xây dựng, củng cố hệ thống cơ sở
chính trị ở các xã biên giới. Thực hiện Chỉ thị số 133 của Đảng uỷ Quân sự Trung
ương, Chỉ thị số 19/CT-TV của Đảng uỷ BĐBP về tăng cường cán bộ cho cơ sở,
BĐBP các tỉnh Tây Nguyên đã kịp thời triển khai các tổ, đội công tác thường
xuyên bám địa bàn, bám quần chúng, thực hiện 4 cùng (cùng ăn, cùng ở, cùng làm,
cùng nói tiếng dân tộc) với quần chúng nhân dân, làm tốt công tác nắm tình hình
để tham mưu cho địa phương xây dựng, củng cố cơ sở chính trị.
Đồng thời Đảng uỷ và bộ chỉ huy BĐBP các tỉnh Tây Nguyên còn lựa chọn
những cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt, năng lực
chuyên môn giỏi, có hiểu biết sâu sắc về tâm lý, phong tục tập quán các dân tộc
thiểu số và có kiến thức toàn diện về kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội, quốc phòng,

KVBG. Khi đánh giá về quan hệ giữa các đơn vị BĐBP với địa phương, 163/163
người được hỏi = 100% thống nhất đánh giá ở mức rất tốt.
Không chỉ chú trọng vào việc tham gia xây dựng, củng cố cơ sở chính trị ở
các xã biên giới, các đơn vị BĐBP Tây Nguyên còn thường xuyên coi trọng bồi
dưỡng lực lượng cốt cán trong đồng bào các dân tộc thiểu số, đó là những già làng,
tộc trưởng các dòng họ, trưởng buôn, trưởng làng và các chức sắc tiến bộ trong các
tôn giáo. Trong những năm qua, 100% các đồn biên phòng Tây Nguyên thường
xuyên duy trì chế độ tổ chức gặp mặt, tặng quà nhân các dịp lễ tết, trao đổi tình
hình với các già làng và những người có uy tín trong địa bàn đồn phụ trách; Bộ chỉ
huy BĐBP các tỉnh định kỳ tổ chức hội nghị biểu dương công lao các già làng, tộc
trưởng, trưởng các buôn làng và các chức sắc tiến bộ trong các tôn giáo, những
người có thành tích trong tham gia bảo vệ CQAN biên giới và trong tuyên truyền
VĐQC nhân dân phòng, chống DCTD. Nhờ tranh thủ được sự ủng hộ và giúp đỡ
của lực lượng này, nên công tác VĐQC nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương,
chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, tham gia bảo vệ CQAN biên giới,
phòng, chống DCTD ở KVBG đạt hiệu quả ngày càng cao.


Coi trọng tham gia xây dựng, củng cố hệ thống cơ sở chính trị ở các xã biên
giới vững mạnh gắn với việc phát huy vai trò to lớn của các đoàn thể quần chúng
nhân dân và đội ngũ cốt cán ở các buôn làng biên giới, BĐBP các tỉnh Tây Nguyên
đã góp phần tích cực vào xây dựng thế trận biên phòng vững mạnh, làm cơ sở
vững chắc bảo đảm cho việc tiến hành công tác VĐQC phòng, chống DCTD ở
KVBG đạt hiệu quả.
Tham gia phát triển kinh tế - văn hoá - xã hội ở KVBG Tây Nguyên.
Quán triệt các chỉ thị, nghị quyết của Đảng và Chính phủ về phát triển kinh
tế - xã hội miền núi, về xoá đói giảm nghèo, về xây dựng và phát triển kinh tế - xã
hội, củng cố quốc phòng - an ninh ở các xã, phường biên giới, hải đảo và thực hiện
Chỉ thị số 31/CT-BTL ngày 28/5/2000 của Bộ tư lệnh BĐBP về “Tăng cường tham
gia các chương trình kinh tế - văn hoá - xã hội ở các xã, phường biên giới, hải

dạy cho 174 lớp xoá mù chữ với 4.035 học sinh, 93 lớp phổ cập giáo dục tiểu học
cho 2.355 học viên trong đó có nhiều học viên là cán bộ chủ chốt của các xã, buôn
làng biên giới. BĐBP các tỉnh Tây Nguyên còn vận động được 43.167 em học sinh
trong độ tuổi đến trường, ủng hộ 358 bộ bàn ghế cho các nhà trường và hỗ trợ
dụng cụ học tập trị giá hơn 100 triệu đồng cho con em gia đình chính sách và học
sinh nghèo vượt khó. Hoạt động mạnh và có hiệu quả nhất trong chương trình này
là BĐBP tỉnh Kon Tum đã tổ chức được 226 lớp xoá mù chữ và phổ cập giáo dục
tiểu học, bồi dưỡng được đội ngũ “Thầy giáo quân hàm xanh” gồm 82 cán bộ chiến
sĩ thường xuyên trực tiếp giảng dạy trên lớp, quyên góp ủng hộ 221 bộ bàn ghế, 48
bảng đen và đồ dùng học tập cho học sinh nghèo trị giá hơn 14 triệu đồng. Các đơn
vị BĐBP tỉnh Đắc Lắc trong 5 năm qua cũng đã trích quỹ tăng gia sản xuất của đơn
vị để tặng các nhà trường và hỗ trợ học sinh nghèo số tiền lên đến 180 triệu đồng.
Thực hiện chương trình phối hợp với Bộ Văn hoá - Thông tin, các tổ, đội
tuyên truyền văn hoá của BĐBP các tỉnh Tây Nguyên đã tổ chức gần 200 buổi
tuyên truyền chính sách, pháp luật kết hợp với biểu diễn văn hoá, văn nghệ với hơn
25.000 lượt người tham gia. Các đơn vị còn phối hợp với cơ quan chức năng lắp
đặt 15 ăngten parabon để đáp ứng nhu cầu xem truyền hình của cán bộ, chiến sĩ và
đồng bào các dân tộc vùng cao, vùng sâu và phối hợp với cơ quan văn hoá - thông
tin các xã, huyện biên giới khôi phục được 40 đội văn hoá cồng chiêng. Đây là
nguồn vốn rất quý về văn hoá truyền thống cần được bảo tồn và phát triển. Lực
lượng này đã hoạt động rất có hiệu quả phục vụ nhu cầu thưởng thức văn hoá
truyền thống của các tầng lớp nhân dân, đặc biệt trong các dịp lễ, tết cổ truyền của
đồng bào dân tộc.
Với chương trình quân dân y kết hợp, các đơn vị BĐBP Tây Nguyên đã
thường xuyên cùng cơ quan chuyên môn cấp trên tăng cường đủ số lượng quân y
cho các đồn biên phòng để góp phần xây dựng, củng cố mạng lưới y tế ở cơ sở.
Quân y các đồn biên phòng đã tiến hành khám và điều trị cho 9073 lượt người dân,
điều trị miễn phí cho bệnh nhân là đồng bào ở địa bàn biên giới trị giá hàng trăm
triệu đồng; tham gia cùng y tế tuyến cơ sở tiêm chủng mở rộng cho hàng chục
ngàn lượt người và vận động được hàng trăm phụ nữ dân tộc thiểu số thực hiện kế

động nhân dân tự giác thu nộp 65 khẩu súng và nhiều lựu đạn, chất cháy nổ.
Đặc biệt sau vụ bạo loạn chính trị ở Tây Nguyên (tháng 2/2001) tình hình
vượt biên giới trái phép sang Campuchia có những diễn biến ngày càng phức tạp
do sự kích động, lừa gạt của kẻ địch. Quần chúng nhân dân đã phát hiện, cung cấp
thông tin giúp các đồn biên phòng bắt giữ được 10 vụ với 46 đối tượng là người
Việt Nam vượt biên giới trái phép sang Campuchia. Nhờ làm tốt công tác tuyên
truyền vận động, tổ chức phát động phong trào quần chúng bảo vệ CQAN biên giới
và phòng, chống DCTD nên trong khi bạo loạn chính trị xảy ra ở nhiều huyện, thị
của Tây Nguyên thì ở 24/24 xã biên giới của 3 tỉnh vẫn giữ được ổn định chính trị,
hầu như không có quần chúng nhân dân tham gia.
Công tác VĐQC trực tiếp tham gia giải quyết các vụ DCTD ở KVBG Tây
Nguyên: chấp hành ý kiến chỉ đạo của Đảng uỷ và Bộ tư lệnh BĐBP về việc tăng
cường lực lượng, kết hợp đồng bộ nhiều biện pháp công tác nhằm phòng ngừa và
đấu tranh ngăn chặn có hiệu quả hiện tượng DCTD ở KVBG, BĐBP các tỉnh Tây
Nguyên đã kịp thời triển khai lực lượng tăng cường cho các địa bàn trọng điểm,
phức tạp về chính trị và có biểu hiện DCTD, nhanh chóng nắm tình hình và xử lý



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status