MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Lịch sử phát triển của xã hội là lịch sử vận động, phát triển,
thay thế lẫn nhau giữa các hình thái kinh tế - xã hội từ thấp đến cao.
Sự vận động, phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội là do sự tác
động qua lại lẫn nhau một cách biện chứng giữa lực lượng sản xuất
với quan hệ sản xuất, giữa cơ sở hạ tầng với kiến trúc thượng tầng.
Trong đó phải kể đến lực lượng sản xuất là một trong những nội
dung cơ bản của học thuyết hình thái kinh tế - xã hội được triết học
Mác xem là yếu tố năng động nhất trong các yếu tố cấu thành
phương thức sản xuất, quyết định xu hướng, tốc độ, nhịp độ vận
động của quan hệ sản xuất, thông qua đó làm thay đổi kiến trúc
thượng tầng. Suy đến cùng, sự phát triển của lực lượng sản xuất
quyết định sự hình thành, phát triển và thay thế lẫn nhau của các
hình thái kinh tế - xã hội. Với vai trò trên, việc làm sáng tỏ nội dung
của lực lượng sản xuất được xem là vấn đề quan trọng có tính cấp
thiết, đặc biệt là đối với những người học tập và nghiên cứu chủ
nghĩa Mác - Lênin.
Trong giai đoạn hiện nay, Việt Nam đang trong thời kỳ quá độ
đi lên Chủ nghĩa xã hội, do vậy việc xây dựng cơ sở vật chất kỹ
thuật là vấn đề tất yếu và cần thiết. Việc xây dựng đó phải gắn liền
với quá trình phát triển lực lượng sản xuất trong mối quan hệ với
quan hệ sản xuất, đó là “Quan hệ sản xuất phù hợp trình độ phát
triển của lực lượng sản xuất”. Với những nhận định đúng đắn, Đảng
ta đã xác định phải gắn liền quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước với quá trình phát triển lực lượng sản xuất. Nghị quyết Đại
hội Đảng toàn quốc lần thứ IX(2001) đã đề ra đường lối kinh tế của
nước ta là: “Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây
dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, đưa nước ta trở thành một nước
- Trương Hữu Hoàn: “Vấn đề sự phù hợp của quan hệ sản
xuất với lực lượng sản xuất xét từ tính chất và trình độ của lực
lượng sản xuất ”. Tạp chí Triết học, số 1, năm 1994. Tác giả đã trình
bày mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất, tác
giả đã xem xét vấn đề quan hệ sản xuất được gọi là phải phù hợp với
cả tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất hay chỉ cần phù hợp
với một trong hai yêu cầu đó là đủ.
- Vũ Đình Cự: “Khoa học và công nghệ lực lượng sản xuất
hàng đầu”. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội năm 1997. Trong cuốn
sách, tác giả trình bày vai trò ngày càng to lớn của khoa học công
nghệ và đã trở thành lực lượng sản xuất hàng đầu.
- Hồ Anh Dũng: “Phát huy yếu tố con người trong lực lượng
sản xuất ở Việt Nam hiện nay ”. Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, năm
2002. Tác giả đã nêu lên con người là yếu tố quan trọng nhất trong
lực lượng sản xuất, đồng thời đưa ra giải pháp nhằm phát huy yếu tố
con người trong lực lượng sản xuất.
- Nguyễn Hữu Khiển: “Học thuyết Mác và hoàn thiện các yếu
tố của lực lượng sản xuất ở Việt Nam hiện nay”. Tạp chí Triết học,
Số 3, năm 2009. Trong bài viết này tác giả dựa trên quan điểm của
học thuyết Mác về hình thái kinh tế - xã hội nói chung, về phát triển
lực lượng sản xuất nói riêng, để làm rõ một số nguyên tắc, phương
châm cơ bản trong việc vận dụng quan điểm của Mác nhằm phát
triển và hoàn thiện các yếu tố của lực lượng sản xuất ở Việt Nam
hiện nay.
Các công trình nghiên cứu trên là nguồn tư liệu quý báu để tôi
học hỏi, hoàn thiện khóa luận của mình.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp trừu tượng hóa, khái
quát hóa; phương pháp kết hợp giữa logic và lịch sử
6. Đóng góp của khoá luận
Khóa luận góp phần làm sáng tỏ lý luận của chủ nghĩa Mác Lênin về lực lượng sản xuất; vai trò của lực lượng sản xuất trong
tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay.
7. Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo khóa luận
gồm có 2 chương, 8 tiết.
Chương 1
QUAN NIỆM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN
VỀ LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT
1.1. Sự ra đời của lực lượng sản xuất
Lực lượng sản xuất là quan hệ giữa con người với tự nhiên
trong quá trình sản xuất. Trong quá trình này, sản xuất của con
người kết hợp sức lao động của mình với tư liệu sản xuất, trước hết
là công cụ lao động tạo thành sức mạnh khai thác giới tự nhiên, làm
ra sản phẩm cần thiết cho cuộc sống của mình. Sự ra đời, tồn tại và
phát triển của lực lượng sản xuất gắn liền với lịch sử phát triển của
xã hội loài người.
C.Mác đã phát hiện ra cái sự thật đơn giản là trước hết con
người phải ăn, uống, ở, mặc rồi mới lo đến việc chính trị, xã hội, văn
hóa, nghệ thuật, tôn giáo…Đúng vậy ăn, uống, ở, mặc là những nhu
cầu cơ bản, đầu tiên của con người, có nó con người mới tồn tại và
phát triển được. Như vậy, hành vi lịch sử đầu tiên của con người là
sản xuất vật chất hay nói đúng hơn là lao đông để thõa mản nhu cầu
của mình.
Để tiến hành một quá trình sản xuất vật chất, về cơ bản cần có
ba yếu tố: hoạt động vật chất có mục đích của con người; những tư
vậy, trong toàn bộ các yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất thì người
lao động là yếu tố có vai trò quan trọng nhất, quyết định nhất. Người
lao động là nhân tố hoạt động kết hợp và phát huy sức mạnh của các
yếu tố khác tham gia vào toàn bộ quá trình sản xuất, những yếu tố
này được phát huy thế nào đều do năng lực, trình độ, thị hiếu và mục
đích của con người quy định thông qua những hành động và thao tác
vật chất của họ.
Chính người lao động là chủ thể, với sức mạnh và kỹ năng lao
động của mình, sử dụng tư liệu lao động để sản xuất ra của cải vật
chất. Cùng với quá trình lao động sản xuất, sức mạnh, kỹ năng của
con người ngày càng được tăng thêm, đặc biệt là hàm lượng trí tuệ
của người lao động ngày càng cao. Người lao động không chỉ tái sản
xuất ra sức lao động mà còn luôn nâng cao chất lượng của lao động
bằng con đường kế thừa các yếu tố xã hội và phát triển chúng.
Con người là yếu tố cơ bản, là lực lượng chủ đạo quyết định sự
phát triển của lực lượng sản xuất nên có thể nhận định rằng: con
người là chủ thể quyết định mọi quá trình vận động và phát triển lịch
sử.
1.2.2. Tư liệu sản xuất
Tư liệu sản xuất là khái niệm đặc trưng cho toàn bộ yếu tố
“vật” của lực lượng sản xuất. Được cấu thành từ hai bộ phận: Đối
tượng lao động và tư liệu lao động. Cụ thể:
Đối tượng lao động
Là những sự vật mà hoạt động của con người tác động vào
nhằm làm biến đổi cho phù hợp với mục đích của con người. Đối
tượng lao động gồm có hai loại cơ bản: Đối tượng lao động tự nhiên
và đối tượng lao động do con người sánh tạo ra từ những sự vật do
tự nhiên cung cấp.
trong lao động để nâng cao và hoàn thiện kỹ năng, kỹ xảo. Sự phát
triển của khoa học gắn liền với sản xuất và là động lực mạnh mẽ
thúc đẩy sản xuất phát triển. Ngày nay, khoa học đã thâm nhập sâu
vào quá trình sản xuất và đã trở thành “lực lượng sản xuất trực tiếp”.
Sự thâm nhập ngày càng sâu của khoa học vào sản xuất đã làm
cho lực lượng sản xuất có bước nhảy vọt, tạo thành cuộc cách mạng
khoa học và công nghệ hiện đại. Điều này đã chứng minh thiên tài
của C.Mác khi ông cho rằng khoa học sẽ trở thành lực lượng sản
xuất trực tiếp.
1.3. Lực lượng sản xuất trong mối quan hệ với quan hệ
sản xuất
Lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất được xem là những nội
dung cơ bản của một phương thức sản xuất, chúng tồn tại không tách
rời nhau, thống nhất biện chứng với nhau trong một phương thức sản
xuất nhất định. Sự tác động qua lại lẫn nhau một cách biện chứng
giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất tạo thành quy luật về sự
phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng
sản xuất - quy luật cơ bản nhất của sự vận động, phát triển xã hội.
Sự vận động, phát triển của lực lượng sản xuất quyết định và
làm thay đổi quan hệ sản xuất cho phù hợp. Khi quan hệ sản xuất
được hình thành, phát triển và biến đổi phù hợp với lực lượng sản
xuất, quan hệ sản xuất sẽ quay trở lại thúc đẩy lực lượng sản xuất
phát triển đến một trình độ mới. Trong mối quan hệ giữa lực lượng
sản xuất và quan hệ sản xuất thì lực lượng sản xuất bao giờ cũng giữ
vai trò quyết định.
Đúng vậy, sự phát triển của lực lượng sản xuất đến một trình
độ nhất định sẽ làm cho quan hệ sản xuất từ chỗ phù hợp trở thành
không phù hợp. Khi đó quan hệ sản xuất sẽ trở thành “xiềng xích”
xung đột với quan hệ sản xuất cũ. Trong sự xung đột ấy, lực lượng
sản xuất là nội dung sẽ phá vỡ hình thức là quan hệ sản xuất cũ, lạc
hậu. Cùng với việc phá vỡ là xây dựng một quan hệ sản xuất mới
theo yêu cầu phát triển của lực lượng sản xuất. Tuy lực lượng sản
xuất không trực tiếp làm thay đổi kiến trúc thượng tầng nhưng sự
phát triển của lực lượng sản xuất làm thay đổi quan hệ sản xuất, tức
trực tiếp làm thay đổi cơ sở hạ tầng và thông qua đó làm thay đổi
kiến trúc thượng tầng. Suy đến cùng, sự phát triển của lực lượng sản
xuất quyết định sự hình thành, phát triển và thay thế lẫn nhau của
các hình thái kinh tế - xã hội.
Mục đích phát triển của lực lượng sản xuất là nhằm nâng cao
hơn nữa năng suất lao động, để từ đó thay đổi điều kiện và mức sống
của con người. Do đó, nó là nhân tố quan trọng để đảm bảo sự phát
triển của xã hội. Sự phát triển của công cụ lao động sẽ giải phóng
sức lao động của con người, của cải vật chất làm ra sẽ nhiều hơn, tạo
điều kiện cho con người phát triển toàn diện.
Khoa học - công nghệ đóng vai trò ngày càng to lớn và trở
thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Nhưng cái gì đã thúc đẩy khoa
học - công nghệ phát triển, đó chính là sự phát triển của lực lượng
sản xuất. Lực lượng sản xuất phát triển đã tạo ra nhiều nhà xưởng,
máy móc và các phương tiện cần thiết, tức là đã tạo ra điều kiện vật
chất cho nghiên cứu khoa học. Từ đó, nó trở thành tiêu chuẩn thực
tiễn chứng minh tính đúng đắn của các tri thức khoa học - kỹ thuật.
Chương 2
LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT Ở VIỆT NAM
VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ
TRONG TIẾN TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
2.1. Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về công
nhiên còn tồn tại với kỹ thuật thủ công, thô sơ; tính phân tán, manh
mún, biệt lập trong quá trình sản xuất; phân công lao động trong xã
hội còn chậm và chưa có những biến đổi căn bản trong quá trình xã
hội hóa sản xuất, đa số lao động tập trung ở nông thôn trong hình
thái lao động nông nghiệp bằng công cụ cầm tay, thô sơ, bằng kinh
nghiệm và lệ thuộc vào tự nhiên. Cụ thể:
Con người - yếu tố quan trọng nhất của lực lượng sản xuất
chưa được đầu tư đúng mức, chưa phát huy được khả năng vốn có
của mình.
Về tư liệu sản xuất, nền sản xuất dựa vào tài nguyên thiên
nhiên là chính, chưa có sự đầu tư phát triển nguồn nguyên liệu mới,
máy móc, trang thiết bị còn thô sơ, thủ công.
Về khoa học - công nghệ, chúng ta chưa đầu tư đúng mức cho
khoa học - công nghệ, ít áp dụng những thành tựu khoa học - công
nghệ vào sản xuất, trong cải tiến công cụ lao động…Nên trong thời
kỳ này khoa học - công nghệ chưa thực sự thể hiện được vai trò của
mình.
Ngoài ra, việc đầu tư xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng cho xã
hội, kể cả hạ tầng kinh tế - kỹ thuật còn yếu, còn thiếu, do vậy quá
trình sản xuất gặp nhiều trở ngại, không phát triển được.
2.2.2. Lực lượng sản xuất ở Việt Nam từ 1986 đến nay
Nhờ những chủ trương, chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà
nước mà trong những năm vừa qua Việt Nam đạt được những thành
tựu to lớn, lực lượng sản xuất cũng có bước phát triển mạnh. Nhưng
do xuất phát điểm thấp nên nhìn chung lực lượng sản xuất ở nước ta
còn ở trình độ thấp hơn so với rất nhiều nước trong khu vực và trên
thế giới, phát triển chưa tương xứng với nhu cầu của quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa. Biểu hiện:
Thứ nhất, vai trò to lớn của nguồn lực con người, đặc biệt là
con người có chất lượng cao trong quá trình công nghiệp hóa, hiện
đại hóa được thể hiện trước hết con người là chủ thể của quá trình
này.
Thứ hai, con người với tính cách là sức lao động, là yếu tố cấu
thành quyết định và quan trọng nhất trong hệ thống các yếu tố hợp
thành lực lượng sản xuất xã hội.
Thứ ba, người lao động đóng vai trò là yếu tố quyết định sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
2.3.2. Vai trò của tư liệu sản xuất
Trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thì tư
liệu sản xuất là một trong những yếu tố có tác động sâu sắc, có vị trí
và vai trò quan trọng quyết định sự thành bại của quá trình này.
Việt Nam với các nguồn tài nguyên đa dạng, phong phú đã trở
thành những nguyên liệu quý, phục vụ cho quá trình sản xuất, phát
triển các ngành công nghiệp nhẹ, đặc biệt là công nghiệp nặng và là
nguồn hàng xuất khẩu quý cho nhiều nước trên thế giới. Mặc dù, đối
tượng lao động này trong tự nhiên đang cạn kiệt dần, nhưng đây vẫn
là yếu tố có ảnh hưởng lớn đến cuộc sống của con người, là nguồn
lực quan trọng của đất nước. Bên cạnh đó, các nguồn nguyên liệu
mới được đầu tư phát triển và bước đầu đã thể hiện được vai trò của
mình.
Trong tư liệu sản xuất, tư liệu lao động có vai trò quan trọng,
đặc biệt là công cụ lao động, nó là yếu tố không thể thiếu được trong
quá trình sản xuất nói chung và trong quá trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa ở Việt Nam nói riêng, là yếu tố góp phần định hướng
hoạt động của con người một cách hiệu quả. Sự phát triển của các tư
liệu lao động góp phần giúp con người thuận lợi hơn khi thực hiện
diện mạo của đất nước đặc biệt là nông thôn truyền thống, thu hẹp
sự khác biệt giữa nông thôn và thành thị trong xã hội hiện đại.
2.4. Những nhiệm vụ cơ bản nhằm phát huy có hiệu quả
vai trò của lực lượng sản xuất đối với sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam
Thứ nhất, muốn phát huy có hiệu quả vai trò của lực lượng sản
xuất đối với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam thì
nhất thiết và quan trọng nhất là phải xây dựng quan hệ sản xuất phù
hợp với trình độ phát triển của nó.
Thứ hai, xuất phát từ vai trò quyết định của nhân tố con người
trong lực lượng sản xuất, chúng ta phải đẩy mạnh hơn nữa việc xây
dựng và phát triển con người với tư cách vừa là động lực, vừa là
mục tiêu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Thứ ba, phát triển khoa học - công nghệ để thực sự là động lực
then chốt của quá trình công nghiêp hóa, hiện đại hóa.
Thứ tư, để lực lượng sản xuất phát huy được vai trò quyết
định, là động lực thúc đẩy sự phát triển của quá trình công nghiệp
hóa, hiện đại hóa thì phải có những động lực. Vì vậy, phải tạo động
lực để kích thích tính tích cực, chủ động của lực lượng sản xuất.
KẾT LUẬN
Với tư cách là phạm trù cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử
chứa đựng những tư tưởng cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin về sự
hình thành và phát triển của hình thái kinh tế - xã hội. Lực lượng sản
xuất được C.Mác coi là nền tảng vật chất kỹ thuật của xã hội. Vì
vậy, phát triển lực lượng sản xuất và phát huy vai trò của nó có ý