MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài khoá luận
Triết học đã nghiên cứu nhiều vấn đề, song vấn đề trung tâm của
nó, vấn đề con người vẫn luôn được đề cao. Điều đó thể hiện ngay trong
định nghĩa: “Triết học là hệ thống những lý luận chung nhất của con
người về thế giới, về vai trò của con người trong thế giới ấy”. Việc tìm
hiểu, nghiên cứu về thế giới chung quy lại đều phục vụ việc tìm hiểu
con người, phát triển con người. Xã hội loài người càng phát triển thì
vấn đề con người càng được đánh giá cao và tìm hiểu sâu sắc. Ví dụ như
thời cổ đại người ta tôn thờ những thế lực siêu nhiên, con người chỉ là
kẻ tôi tớ phụng sự ý trời. Nhưng đến thời hiện đại, con người đã trở
thành những kẻ chinh phục thế giới bằng trí tuệ và năng lực của mình. Ở
mỗi nấc thang phát triển của loài người, vấn đề con người lại được nhìn
nhận ở những khía cạnh, mức độ khác nhau. Ở thời đại hiện nay, vấn đề
con người là vấn đề trung tâm, quyết định đối với sự phát triển của một
đất nước. Và với Việt Nam thì vấn đề này càng trở nên cấp thiết do Việt
Nam đang trong quá trình đổi mới, thực hiện sự nghiệp công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước theo xu hướng xã hội chủ nghĩa. Cơ sở lý
luận của sự nghiệp đổi mới đó chính là tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ
nghĩa Mác-Lênin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nan cho mọi hoạt
động của toàn Đảng, toàn dân ta.
Trong thực tiễn của những năm qua, với việc áp dụng quan điểm
của chủ nghĩa Mác - Lênin nói chung và triết học Mác - Lênin nói riêng
về vấn đề con người trong quá trình đổi mới, thực hiện sự nghịêp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo xu hướng xã hội chủ nghĩa; Việt
Nam đã đạt được những thành tựu to lớn rất đáng hoan nghênh. Vì vậy
1
việc khai thác, nghiên cứu triết học Mác-Lênin về vấn đề con người là
một nhiệm vụ hết sức quan trọng và cấp bách. Trong khi đó, trước yêu
trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội ở Quảng Bình
hiện nay” làm đề tài khoá luận tốt nghiệp của mình.
2. Tình hình nghiên cứu của khoá luận
Vấn đề nghiên cứu con người Việt Nam từ lâu đã được đề cập đến
và là mối quan tâm chung của nhiều ngành khoa học, kể cả một số
ngành khoa học tự nhiên, công nghệ và các ngành khoa học xã hội nhân
văn. Từ mỗi góc độ của mình, các nhà khoa học chuyên ngành đã tiếp
cận được ở mức độ tương đối sâu sắc về các vấn đề liên quan đến con
người Việt Nam, tính cách dân tộc Việt Nam, đến việc giáo dục và phát
triển con người Việt Nam trong thời đại mới. Các công trình nghiên cứu
tiêu biểu như Xã thôn Việt Nam (Nxb Văn Sử Địa, Hà Nội, 1959) và
Tìm hiểu tính cách dân tộc (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1963) của
GS. Nguyễn Hồng Phong, Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc
Việt Nam của GS. Trần Văn Giàu (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1980);
…đã tập trung vào nghiên cứu những đặc điểm và giá trị của con người
Việt Nam truyền thống, từ giác độ của khoa học lịch sử, dân tộc học.
Các công trình đó đã hệ thống hoá và khái quát hoá hệ tư tưởng, hệ
thống đạo đức và tính cách của con người Việt Nam trong truyền thống
(bao gồm các mặt tích cực, tiêu cực). Từ đó các nhà nghiên cứu đã đặt
ra yêu cầu cấp thiết phải kế thừa và phát huy những giá trị, loại bỏ
những phản giá trị trong truyền thống để xây dựng, phát triển con người
Việt Nam trong điều kiện xã hội mới.
Trong thời kỳ đổi mới, thời kỳ đẩy mạnh quá trình công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước, từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI
(1986) đến nay, chúng ta đã thu được nhiều thành tựu mới trong việc
nghiên cứu con người Việt Nam. Chúng ta đã tìm hiểu, khám phá sâu
sắc hơn con người Việt Nam nhằm động viên, khai thác mạnh mẽ, hiệu
quả các tiềm năng của mỗi con người, mỗi tập thể lao động và của cả
3
4
Hạc chủ biên (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001)…Các công trình
này đã đề cập đến các phương hướng nghiên cứu con người, nguồn nhân
lực và phát triển nguồn lực con người Việt Nam cả trên bình diện lý
luận và thực tiễn; xác nhận tầm quan trọng của nhân tố con người trong
sự nghiệp đổi mới; phân tích thực trạng phát triển con người, phát triển
nguồn nhân lực và định hướng phát triển con người, phát triển nguồn
nhân lực trong thời kỳ xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa, hội nhập kinh tế quốc tế. Bên cạnh việc nghiên cứu về
con người Việt Nam nói chung, cũng đã có nhiều đề tài, sách báo, tạp
chí…bàn đến vấn đề con người Quảng Bình, các bài viết này chủ yếu
bàn về con người với tư cách là nguồn lực quan trọng, là mục tiêu trong
quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở Quảng Bình hiện nay.
Với việc thực hiện nghiên cứu đề tài “Vấn đề phát huy nhân tố con
người trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội ở Quảng
Bình hiện nay” một mặt kế thừa kết quả nghiên cứu về con người Việt
Nam của các nhà nghiên cứu đi trước, mặt khác tập trung nghiên cứu
nội dung phát huy nhân tố con người trong mối tương quan với phát
triển văn hoá, kinh tế - xã hội ở Quảng Bình trong điều kiện đẩy mạnh
quá trình CNH, HĐH hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của đề tài là tiến hành nghiên cứu cơ bản, có hệ thống và
sâu hơn quan điểm triết học Mác - Lênin về con người. Từ đó vận dụng
những giá trị của triết học Mác - Lênin để làm sáng tỏ một số vấn đề có
tính quy luật nhằm phát huy nhân tố con người trong quá trình xây dựng
và phát triển kinh tế - xã hội ở Quảng Bình hiện nay. Để đạt được mục
đích trên, đề tài có các nhiệm vụ sau:
- Trình bày và làm rõ quan điểm của triết học, nhất là triết học
6
Chương 1
KHÁI LUẬN CHUNG VỀ CON NGƯỜI TRONG TRIẾT HỌC
1.1 Quan niệm về con người trong triết học trước Mác
Có nhiều khoa học nghiên cứu về con người, và tiếp cận theo cách
riêng của mình. Tuy nhiên, nếu có khoa học chuyên ngành nhận thức
con người bằng cách chia hệ thống thành yếu tố thì ngược lại, triết học
nghiên cứu con người bằng cách tổng hợp các yếu tố thành hệ thống.
Trong sự phát triển của triết học, có nhiều quan niệm khác nhau về
bản chất con người. Các nhà triết học thời cổ đại xem con người là vũ
trụ thu nhỏ. Triết học tôn giáo xem con người là một thực thể nhị
nguyên, là sự kết hợp giữa tinh thần và thể xác. Các học thuyết triết học
duy tâm tuyệt đối hoá hoạt động của đời sống tinh thần, điển hình là hệ
thống triết học duy tâm của Hê-ghen. Ông cho rằng con người là hiện
thân của ý niệm tuyệt đối, là bước cuối cùng của cuộc diễn hành của ý
niệm tuyệt đối trên trái đất. Phơ-bách, một nhà triết học duy vật siêu
hình, đã tuyệt đối hoá mặt sinh học của con người, chia cắt con người
khỏi đời sống xã hội. Vì vậy, ông cũng không giải thích được nguồn gốc
thực sự của ý thức con người.
Như vậy, triết học trước Mác về căn bản đã giải thích bản chất con
người trên lập trường duy tâm, do đó, không giải thích được nguồn gốc,
bản chất thật sự của tồn tại người. Mặc dù vậy, nó vẫn đóng góp được
những thành tựu làm tiền đề cho khoa học nghiên cứu về con người.
1.2 Quan niệm về con người trong triết học Mác - Lênin
1.2.1 Bản chất con người
Con người là một thực thể thống nhất giữa mặt sinh vật và
mặt xã hội
hội giữa người với người.
Với phương pháp luận duy vật biện chứng, chúng ta thấy rằng
quan hệ giữa mặt sinh học và mặt xã hội, cũng như nhu cầu sinh học và
nhu cầu xã hội trong mỗi con người là thống nhất. Mặt sinh học là cơ sở
8
tất yếu tự nhiên của con người, còn mặt xã hội là đặc trưng bản chất để
phân biệt con người với loài vật. Nhu cầu sinh học phải được “nhân
hoá” để mang giá trị văn minh con người, và đến lượt nó, nhu cầu xã hội
không thể thoát ly khỏi tiền đề của nhu cầu sinh học. Hai mặt trên thống
nhất với nhau, hoà quyện vào nhau để tạo thành con người viết hoa, con
người tự nhiên - xã hội.
Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng
hoà các quan hệ xã hội
Một con người bao hàm trong nó ba quan hệ: quan hệ với tự nhiên,
quan hệ với xã hội và quan hệ với bản thân con người đó. Quan hệ với
tự nhiên trong đời sống hàng ngày được biểu hiện qua các hoạt động có
tính xã hội như lao động chế biến, đánh bắt, nuôi trồng… Chính vì vậy
có thể nói quan hệ con người với con người là mối quan hệ bản chất,
quy định bản chất con người.
Để nhấn mạnh bản chất xã hội của con người, C.Mác đã nêu lên
luận đề nổi tiếng trong tác phẩm Luận cương về Phoiơbắc: “Bản chất
con người không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng
biệt. Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà những
quan hệ xã hội” [16, 11]. Luận đề này khẳng định rằng, không có con
người trừu tượng, thoát ly mọi điều kiện, hoàn cảnh lịch sử xã hội. Con
người luôn luôn cụ thể, xác định, sống trong một điều kiện lịch sử cụ thể
nhất định, một thời đại nhất định. Trong điều kiện lịch sử đó, bằng hoạt
động thực tiễn của mình, con người tạo ra những giá trị vật chất và tinh
cá nhân. Nhân cách là toàn bộ những năng lực và phẩm chất của cá nhân
tạo thành một chỉnh thể đóng vai trò chủ thể tự ý thức, tự đánh giá, tự
khẳng định, tự điều chỉnh mọi hoạt động của mình. Nhân cách không
phải là cái trời phú cho, cũng không phải là cái bẩm sinh của cơ thể sinh
học. Nhân cách được hình thành và phát triển phụ thuộc vào các yếu tố
như: yếu tố sinh học, yếu tố môi trường, hoạt động của cá nhân.
Quan hệ giữa cá nhân và xã hội
10
Theo quan điểm của triết học Mác - Lênin, trong bất cứ giai đoạn
nào, cá nhân cũng không thể tách rời khỏi xã hội. Quan hệ cá nhân - xã
hội luôn vận động, biến đổi và phát triển, trong đó sự thay đổi càng rõ
khi có sự thay thế hình thái kinh tế - xã hội này bằng hình thái kinh tế xã hội khác.
Quan hệ giữa cá nhân và xã hội biến đổi trong sự phát triển của
lịch sử. Điều đó không chỉ liên quan đến trình độ phát triển của lực
lượng sản xuất, trình độ văn hoá, văn minh mà liên quan tới sự thay đổi
của phương thức sản xuất, của hình thái kinh tế - xã hội. Chỉ khi cách
mạng làm thay đổi hình thái kinh tế - xã hội thì quan hệ cá nhân và xã
hội mới có sự thay đổi căn bản.
Mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội có những nội dung thống nhất
với quan hệ giữa cá nhân và tập thể, chúng đều dựa trên cơ sở lợi ích,
biểu hiện mối quan hệ giữa cái bộ phận với cái toàn thể, giữa khách
quan và chủ quan.
Mặt khách quan biểu hiện ở trình độ phát triển của xã hội về nhiều
mặt. Mặt chủ quan biểu hiện ở năng lực nhận thức và vận dụng quy luật
xã hội phù hợp với mục đích của con người. Do vậy, việc tổ chức các
hoạt động xã hội có vai trò to lớn trong việc kết hợp giữa mặt khách
quan và mặt chủ quan sao cho xã hội được tiến bộ và mỗi cá nhân được
mà điểm nổi bật là tinh thần yêu nước, ý thức độc lập dân tộc, tự lực, tự
cường, đoàn kết vì đại nghĩa dân tộc. Biểu hiện của điểm mạnh này là
thái độ tích cực của mỗi công dân trước vận mệnh của Tổ quốc, trước
các chuyển đổi về kinh tế, xã hội hiện nay.
Thứ hai, con người Việt Nam vẫn luôn thể hiện đức tính cần cù,
sáng tạo, trong mọi hoạt động. Đức tính này là một giá trị đặc trưng,
chiếm vị trí xứng đáng trong bảng giá trị về nhân cách của con người
Việt Nam. Thái độ tích cực của con người Việt Nam trong định hướng
và lựa chọn giá trị này là điều kiện hết sức thuận lợi cho công tác giáo
dục, từ giáo dục truyền thống, lối sống đến giáo dục đạo đức, nhân cách
12
con người hiện đại…nhằm phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước.
Thứ ba, nét đặc trưng của đời sống tinh thần, của phẩm giá của con
người Việt Nam là truyền thống cộng đồng, lòng nhân ái, những tình
cảm vị tha và khoan dung…vẫn được giữ vững, phát huy trong điều
kiện mới của đất nước. Những giá trị mang tính nền tảng cốt lõi ấy là cơ
sở để phát triển tính nhân văn và xây dựng văn hoá Việt Nam hiện đại,
tiên tiến, mang bản sắc dân tộc. Có thể khẳng định rằng, đây là một
thuận lợi căn bản để chúng ta thực hiện chương trình văn hoá trong toàn
xã hội đối với các thế hệ con người Việt Nam hiện nay và mai sau.
Thứ tư, con người Việt Nam vẫn giữ được truyền thống hiếu học,
tôn sư trọng đạo và sự hình thành, phát triển các giá trị mới của văn hoá
và con người đã chứng minh sự kết hợp giữa truyền thống với hiện đại
trong thời kỳ đổi mới và đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước.
Thứ năm, trong công cuộc đổi mới, mô hình gia đình truyền thống
bộ, ngành Trung ương, sự chỉ đạo sát đúng của Tỉnh uỷ, Hội đồng nhân
dân, UBND tỉnh và sự nỗ lực phấn đấu của các ngành, các cấp nên nền
kinh tế của tỉnh vẫn phát triển ổn định, tốc độ tăng trưởng khá, các chỉ
tiêu cơ bản hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch; cơ cấu kinh tế
chuyển dịch đúng hướng, chất lượng, hiệu quả nền kinh tế từng bước
được nâng lên; cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội được cải thiện rõ rệt; các
lĩnh vực văn hoá - xã hội có nhiều tiến bộ, đời sống nhân dân từng bước
được cải thiện, công tác xoá đói giảm nghèo, giải quyết việc làm và thực
hiện các chính sách xã hội đạt kết quả khá; an ninh chính trị, trật tự an
toàn xã hội tiếp tục được giữ vững; công tác quản lý tài nguyên môi
trường được tăng cường.
2.1.1 Kinh tế
Về tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
14
Tốc độ tăng trưởng bình quân 5 năm 2006 - 2010 đạt 10,7% là giai
đoạn có mức tăng trưởng kinh tế cao nhất từ trước đến nay, cao hơn
2,14% so với thời kỳ 2001 - 2005. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu
nội bộ từng ngành kinh tế tiếp tục có bước chuyển biến tích cực: tỷ
trọng nông, lâm, ngư nghiệp, tăng dần tỷ trọng công nghiệp - xây dựng
và các ngành dịch vụ; tăng tỷ trọng chăn nuôi trong nông nghiệp, sản
xuất nông nghiệp từng bước gắn với thị trường và chế biến.
Công tác quy hoạch
Công tác quy hoạch đạt được nhiều kết quả, nhận thức và tầm nhìn
quy hoạch ngày càng được nâng lên. Đã tích cực phối hợp với các Viện
nghiên cứu, các nhà tư vấn trong nước và quốc tế trong việc xây dựng
quy hoạch nhằm nâng cao chất lượng công tác quy hoạch, đảm bảo tầm
nhìn xa, có trọng tâm, trọng điểm nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh
tế - xã hội, nhất là đáp ứng yêu cầu kêu gọi, thu hút các dự án đầu tư vào
quy mô lớn được đưa vào khai thác sử dụng góp phần thúc đẩy phát
triển kinh tế - xã hội nhanh.
Kinh tế đối ngoại và xúc tiến đầu tư
Hoạt động kinh tế đối ngoại tiếp tục thu được nhiều kết quả, quan
hệ hợp tác với các nước, các tổ chức quốc tế được mở rộng, đặc biệt là
quan hệ hợp tác với các tỉnh lân cận của nước bạn Lào và vùng Đông
Bắc Thái Lan.
Tài nguyên môi trường
Công tác quản lý sử dụng đất theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng
đất giai đoạn 2001 - 2010 đã thực hiện có hiệu quả.
Công tác quản lý, bảo vệ môi trường ngày càng được chú trọng,
chất lượng công tác thẩm định đánh giá tác động môi trường được nâng
lên.
Công tác quản lý tài nguyên khoáng sản, tài nguyên nước tiếp tục
được tăng cường, từng bước khắc phục tình trạng khai thác khoáng sản
trái phép. Đã hoàn thành Quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến
16
khoáng sản; quy hoạch thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước đến
năm 2020.
2.1.2 Văn hoá - xã hội
Giáo dục - đào tạo và phát triển nguồn nhân lực
Giáo dục - đào tạo tiếp tục được sự quan tâm đầu tư của toàn xã
hội. Chất lượng giáo dục - đào tạo đã có sự chuyển biến tương đối toàn
diện, cả ở diện đại trà và mũi nhọn. Mạng lưới trường, lớp tiếp tục được
sắp xếp hợp lý, đội ngũ giáo viên được bổ sung về số lượng, nâng cao
về chất lượng. Công tác hướng nghiệp, dạy nghề phổ thông được quan
tâm, công tác kiểm tra, đánh giá, thi cử có nhiều cải tiến, đổi mới theo
2.1.3 Quốc phòng - an ninh
Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, an ninh quốc gia và trật tự
an toàn xã hội, tạo điều kiện thuận lợi đẩy mạnh công cuộc đổi mới,
phát triển kinh tế - xã hội. Lực lượng vũ trang địa phương đã chủ động
đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù
địch; xử lý kịp thời, có hiệu quả các tình huống gây mất ổn định trên địa
bàn; thực hiện tốt vai trò nòng cốt trong bảo vệ an ninh chính trị, trật tự
an toàn xã hội, phòng chống lụt bão - tìm kiếm cứu nạn; tích cực phòng
ngừa và đẩy lùi tệ nạn xã hội, ngăn ngừa tai nạn giao thông; bảo đảm an
toàn tuyệt đối cho các hoạt động lễ hội trong các ngày lễ lớn của dân
tộc, của tỉnh.
2.2 Đặc điểm và vai trò của nhân tố con người Quảng Bình
trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội hiện nay
2.2.1 Đặc điểm của nhân tố con người Quảng Bình trong quá
trình phát triển kinh tế - xã hội hiện nay
Từ xa xưa, Quảng Bình đã là mảnh đất địa linh nhân kiệt, nơi sinh
ra nhiều nhân tài cho quê hương, đất nước, tiêu biểu là: Nguyễn Hữu
Cảnh, Võ Nguyên Giáp, Hàn Mặc Tử, Dương Văn An…Ngày nay, con
người Quảng Bình là những con người năng động, có tài, có năng lực;
nhiều người giữ vị trí lãnh đạo quan trọng của đất nước, nhiều người có
mức học hàm học vị cao, nhiều tài năng trẻ trong các lĩnh vực toán học,
18
vật lý…Mặc dù cuộc sống ngày càng phức tạp, nhiều vấn đề nảy sinh
làm ảnh hưởng đến đời sống, phẩm chất của con người, vậy nhưng con
người Quảng Bình vẫn giữ được nét đặc điểm truyền thống tốt đẹp của
con người Việt Nam, và bên cạnh đó là sự tiếp thu những cái mới làm
cho con người ngày một năng động, sáng tạo hơn. Đây chính là thuận
lợi lớn đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở Quảng Bình. Để
đã có nhiều gương sáng tạo, năng động, chỉ đi từ đơn giản, “khác người”
mà làm nên sự nghiệp. Giới trẻ Quảng Bình hôm nay rất năng động,
thâm nhập vào tất cả các lĩnh vực từ khi còn rất sớm. Họ là những người
chủ tương lai của tỉnh nhà, của đất nước và họ đang tự hoàn thiện mình
để đưa lại cho Quảng Bình một gương mặt mới, Quảng Bình vừa đậm
đà bản sắc dân tộc, vừa mang hơi hướng hiện đại.
Nhưng bên cạnh đó, nguồn nhân lực ở Quảng Bình có những hạn
chế, những điểm yếu kém sau đây:
Thứ nhất, số người lao động được đào tạo quá ít, đây là trở ngại lớn
nhất khi tiến hành phát triển kinh tế - xã hội, đổi mới bộ mặt tỉnh nhà.
Thứ hai, đội ngũ cán bộ khoa học trẻ quá ít, vì vậy việc chuẩn bị
cho đội ngũ trí thức kế cận sẽ gặp không ít khó khăn.
Thứ ba, việc bố trí sử dụng cán bộ còn nhiều việc bất hợp lý giữa
các vùng, các ngành.
Thứ tư, thể chất, sức khoẻ của thanh niên còn rất nhiều hạn chế. Sự
phát triển về phương diện sinh lý và thể lực dường như chững lại.
Thứ năm, người lao động tỉnh ta nói chung chưa có nếp lao động
công nghiệp, quen theo kiểu sản xuất nhỏ, lao động giản đơn còn gò bó
trong nếp sống phương đông, cha truyền con nối.
2.2.2 Vai trò của nhân tố con người Quảng Bình trong quá
trình phát triển kinh tế - xã hội hiện nay
Nói đến phát triển kinh tế - xã hội là nhằm mục đích phát triển
nhanh và bền vững tất cả các lĩnh vực như công nghiệp, nông nghiệp,
dịch vụ...,tiếp cận và ứng dụng có hiệu quả các khoa học - công nghệ
tiên tiến, hiện đại để phát triển toàn diện con người, nâng cao đời sống
20
xã hội. Ở Quảng Bình, việc phát triển kinh tế - xã hội cũng không ngoài
mục đích nói trên, nhằm mục đích đưa tỉnh nhà phát triển đi lên để bắt
tốt hơn các nhu cầu sống của bản thân con người. Vậy, con người không
chỉ là động lực mà còn là mục tiêu cuối cùng của phát triển kinh tế.
Về mặt xã hội, tỉnh ta chủ trương phải thực hiện tiến bộ và công
bằng xã hội, xoá đói giảm nghèo, lấy chỉ số phát triển con người làm
mục tiêu cao nhất của sự phát triển xã hội. Ở đây, vị trí trung tâm của
con người nổi lên với tư cách là mục tiêu cao nhất của sự phát triển xã
hội. Mục tiêu của phát triển bền vững chủ yếu không phải là tạo ra nhiều
hàng hóa, của cải mà nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống con người,
không phân biệt tầng lớp, chủng tộc, giới tính, vùng miền. Sẽ là không
công bằng và cũng không thể thực hiện được việc quan tâm tới các thế
hệ tương lai trong việc thoả mãn các nhu cầu của họ nếu chúng ta lại bỏ
qua nhu cầu của các thế hệ con người hiện nay. Khi con người còn chưa
được đáp ứng những nhu cầu trước mắt, họ sống trong nghèo đói, đó là
nguy cơ lớn đe dọa môi trường tự nhiên. Cạm bẫy đói nghèo lại tạo ra
cái vòng luẩn quẩn cho cả con em họ - các thế hệ tương lai. Khi mà đói
nghèo vẫn còn hiện diện thì cuộc đấu tranh chống đói nghèo là mục tiêu
trọng tâm của phát triển bền vững về xã hội.
Như vậy, nói đến nguồn lực phát triển bao gồm: nguồn lực thiên
nhiên (vị trí địa lý, môi trường, tài nguyên, khoáng sản); nguồn lực về
vốn, tín dụng, khoa học công nghệ…thì nguồn lực con người đóng vai
trò quyết định nhất. Bởi vì:
Thứ nhất, các nguồn lực khác như vốn, tài nguyên thiên nhiên, vị
trí địa lý…tự nó chỉ tồn tại dưới dạng tiềm năng. Chúng chỉ phát huy tác
dụng và có ý nghĩa tích cực xã hội khi được kết hợp với nguồn lực con
người thông qua hoạt động có ý thức của con người.
Thứ hai, các nguồn lực khác là hữu hạn, có thể bị khai thác cạn
kiệt, trong khi đó nguồn lực con người lại vô hạn.
22
23
nhân xuất khẩu lao động tiếp tục tăng, tuy nhiên thời gian gần đây có
chững lại.
+ Nguồn nhân lực từ tri thức, công chức, viên chức: tính đến
1/4/1999, Quảng Bình có 10.720 người có trình độ từ cao đẳng trở lên,
trong đó 4.676 cao đẳng, 6.042 đại học và trên đại học. Hiện nay, số
lượng tri thức, công chức, viên chức đang tiếp tục tăng lên cao, số lượng
thạc sĩ, tiến sĩ ngày một nhiều hơn, số cán bộ tham gia vào các lĩnh vực
nghiên cứu khoa học ngày một tăng, số cán bộ học tập và làm việc ở
nước ngoài cũng ngày một đông hơn. Tri thức, công chức, viên chức
trong các ngành nghề của tỉnh và các địa phương cũng tăng nhanh.
2.3.2 Một số giải pháp chủ yếu nhằm phát huy nhân tố con
người ở Quảng Bình hiện nay
Đẩy mạnh phát triển và đổi mới hệ thống giáo dục
Một là, giải quyết tốt những mối quan hệ giữa đào tạo, sử dụng và
việc làm trong vấn đề phát triển nguồn nhân lực.
Hai là, từng bước nâng cao trình độ dân trí đáp ứng yêu cầu về
nguồn nhân lực cho việc phát triển kinh tế.
Ba là, phát triển nguồn nhân lực hợp lý cho phép có thể vận hành
được nền kinh tế hiện đại, có khả năng cạnh tranh cao.
Bốn là, coi trọng cả ba mặt: mở rộng quy mô, nâng cao chất
lượng và phát huy hiệu quả nhằm tạo sự chuyển biến cơ bản, toàn diện
về giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu về con người cho phát triển.
Tăng cường phát triển khoa học công nghệ
Cùng với giáo dục - đào tạo, khoa học công nghệ không chỉ là
chính sách hàng đầu cho việc phát triển kinh tế - xã hội mà còn là nhân
tố thúc đẩy nâng cao trình độ con người. Trong những năm gần đây,
người dân Quảng Bình được tiếp cận ngày càng phổ biến với internet,
Đi đôi với vấn đề giải quyết việc làm là vấn đề lương bổng. Trong
nền kinh tế thị trường, phân hoá giàu nghèo gia tăng, để hạn chế tình
trạng này, một trong những biện pháp là tạo ra một chế độ lương bổng
hợp lý, cân đối giữa các thành phần kinh tế, các lĩnh vực kinh tế. Chế độ
25