1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
1.1. Trong mo ̣i t hời đại, giáo dục luôn có vị trí quan trọng và là nhân tố
thúc đẩy sự phát triển của mỗi quốc gia. Ở Việt Nam cũng vậy , trong lịch sử
dựng nước, giữ nước, ông cha ta sớm có ý thức về vai trò của giáo dục và quan
niệm rằng muốn xây dựng đất nước phải mở mang giáo du ̣c , đào tạo nhân lực,
bồi dưỡng nhân tài. Ngay từ thời Lê, Đông các Đại học sỹ Thân Nhân Trung đã
khẳng định: „„Hiền tài là nguyên khí của đất nước. Nguyên khí thịnh thì thế nước
mạnh mà vươn cao; nguyên khí suy thì thế nước yếu mà xuống thấp. Bởi vậy các
đấng thánh đế minh vương chẳng ai không lấy việc gây dựng người tài, kén chọn
kẻ sĩ bồi đắp nguyên khí làm việc đầu tiên» [66; tr. 86, 87].
Kế thừa và phát huy truyền thống trọng giáo dục, trọng nhân tài của ông
cha, từ khi Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa được thành lập cho đến nay,
Đảng và Nhà nước luôn quan tâm và chăm lo công tác giáo dục. Năm 1945, nước
Việt Nam vừa mới ra đời đã phải đối mặt với vô vàn khó khăn, thử thách. Trong
hoàn cảnh khó khăn, để giữ vững chính quyền cách mạng, Đảng, Nhà nước, đứng
đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra ba nhiệm vụ cấp bách của đất nước là
«chống giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm». Song, để thực hiện được những
nhiệm vụ trên, Người khẳng định: “Muốn giữ vững nền độc lập, muốn làm cho
dân giàu nước mạnh, mọi người Việt Nam phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn
phận của mình, phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây
dựng nước nhà và trước hết phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ” [61; tr. 40].
Ngày nay, khi đất nước đang tiến hành công cuộc đổi mới, hội nhập với
khu vực, quốc tế, Đảng, Nhà nước càng quan tâm, chăm lo phát triển sự nghiệp
giáo dục, luôn coi phát triển giáo dục, đầu tư cho giáo dục là quốc sách trong sự
nghiệp xây dựng, phát triển đất nước. Năm 1991, tại Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ VII, Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: "Khoa học và giáo dục
2
3
nguồn từ nhiều nguyên nhân, trong đó có sự đóng góp không nhỏ của nền giáo
dục xã hội chủ nghĩa miền Bắc nói chung và giáo dục ở các tỉnh miền núi phía
Bắc nói riêng.
1.3. Các tỉnh miền núi phía Bắc còn là nơi tiếp giáp với các nước láng
giềng, có vị trí quan trọng trong vấn đề an ninh, quốc phòng. Tuy nhiên, do trình
độ dân trí của đồng bào còn hạn chế nên các thế lực thù địch luôn lợi dụng tình
trạng này để tuyên truyền , kích động, gây mấ t đoàn kế t giữa các dân tô ̣c , thâ ̣m
chí họ còn lôi kéo , dụ dỗ đồ ng bào chố ng lại Đảng, Nhà nước ta . Chính vì vậy,
việc xây dựng, phát triển giáo dục, nâng cao trình độ học vấn cho đồng bào miền
núi là rất cần thiết , có vị trí quan trọng. Chỉ bằng việc mở mang giáo dục mới
giúp đồng bào nâng cao nhận thức , hiể u biế t để chố ng la ̣i những âm mưu , thủ
đoa ̣n của các thế lực thù đich
̣ , từ đó cùng nhau đoàn kết, xây dựng cuô ̣c số ng ,
bảo vệ vững chắc biên cương, lãnh thổ của Tổ quốc.
1.4. So với các vùng, miền khác trong cả nước, cho đến nay, các tỉnh miền
núi phía Bắc, đặc biệt là các tỉnh thuộc vùng Tây Bắc, nền kinh tế và đời sống
của nhân dân còn rất nhiều khó khăn, là vùng chậm phát triển nhất của cả nước.
Đến năm 2012, tỷ lệ nghèo đói của vùng cao miền núi phía Bắc vẫn cao nhất cả
nước, nhiều huyện có tới 2/3 số xã thuộc diện “đặc biệt khó khăn” như huyện
Phong Thổ (Lai Châu) có 21 xã; huyện Sông Mã (Sơn La) có 14 xã, v.v… [81;
tr.36]. Chính vì vậy, nghiên cứu về các liñ h vực nói chung , giáo dục nói riêng
trong từng giai đoa ̣n lich
̣ sử , từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho công cuô ̣c xây
dựng và phát triể n miền núi hiê ̣n nay là rất cần thiết và có ý nghĩa thực tiễn.
1.5. Thực hiện đề tài này, chúng tôi mong muốn thể hiện tấm lòng tri ân
của thế hệ trẻ Việt Nam đối với nhân dân các tin̉ h miề n núi phiá Bắ c , nơi mà
trong sự nghiê ̣p đấ u tranh , giải phóng dân tộc , xây dựng và bảo vê ̣ Tổ quố c , dù
cuô ̣c số ng còn nhiề u khó khăn , thiế u thố n nhưng đồ ng bào đã hết lòng ủng hộ
ở miền Bắc nói chung và giáo dục ở các tỉnh miền núi phía Bắc nói riêng.
5
- Quá trình xây dựng và phát triển của các ngành học: giáo dục bình dân,
giáo dục bổ túc và giáo dục phổ thông qua hai giai đoạn 1954-1960 và 19611965.
- Công tác đào tạo giáo viên, biên soạn sách giáo khoa cho miền núi.
- Đánh giá và chỉ ra nguyên nhân của những thành tựu, khó khăn, hạn chế
của giáo dục ở các tỉnh miền núi phía Bắc từ năm 1954 đến năm 1965.
- Rút ra một số bài học kinh nghiệm về công tác giáo dục ở khu vực này
trong giai đoạn 1954-1965 và xem đây là những gợi mở n hằm góp phần xây
dựng, phát triển giáo dục ở các tỉnh miền núi, vùng cao trong giai đoạn hiện nay.
2.4. Phạm vi nghiên cứu:
Về thời gian: Luận án bắt đầu từ năm 1954 là năm hoà bình được lập lại ở
miề n Bắ c và kế t thúc năm 1965 là năm cuố i của kế hoa ̣ch năm năm đầ u tiên về
phát triển kinh tế , văn hóa, trong đó có giáo du ̣c (1961-1965). Về mặt giáo dục,
năm 1965 là năm các tỉnh miền núi phía Bắc đạt được thành tích quan trọng,
đánh dấu sự phát triển vươ ̣t bâ ̣c. Đó là về cơ bản nhân dân các tỉnh miền núi phía
Bắc đã xóa xong nạn mù chữ do thực dân, phong kiến để lại. Nhân dân ai cũng
được đi học, nhất là các em học sinh người dân tô ̣c thiể u số , học sinh nữ.
Về không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu giáo dục ở các tỉnh miền núi
phía Bắc, bao gồm: Lào Cai, Sơn La, Lai Châu, Yên Bái (từ năm 1955 thuộc Khu
tự trị Thái-Mèo, đến tháng 10 năm 1962 đổi thành Khu tự trị Tây Bắc), Cao
Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Tuyên Quang và Hà Giang (thuộc Khu
tự trị Việt Bắc). Đề tài chọn mười tỉnh miền núi nêu trên là vì các tỉnh có nét
tương đồng về điều kiện tự nhiên, văn hóa, xã hội, đặc điểm kinh tế, dân cư và
tính ổn định về mă ̣t hành chiń h.
3. Cơ sở lý luâ ̣n và phƣơng pháp nghiên cứu
3.1. Cơ sở lý luận
7
4. Nguồn tài liệu
Bên cạnh việc tham khảo, kế thừa những công trình nghiên cứu của các tác
giả đi trước, để thực hiện đề tài này, chúng tôi chủ yếu dựa vào các nguồn tài liệu
chính sau:
- Văn kiện Đảng toàn tập và Công báo nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
về xây dựng nền giáo dục xã hội chủ nghĩa từ năm 1954 đến năm 1965.
- Nguồn tài liệu khai thác tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III.
- Nguồn tài liệu từ sách, báo, tạp chí, luận văn thạc sỹ lịch sử, luận án tiến
sĩ lịch sử và các nguồn tài liệu khác có liên quan đến đề tài luận án.
5. Đóng góp của luận án
Nghiên cứu thành công luận án với đề tài „„Giáo dục các tỉnh miền núi
phía Bắc Viê ̣t Nam từ 1954 đến 1965”, chúng tôi hy vọng sẽ góp một phần nhỏ ở
những nô ̣i dung sau:
- Phục dựng tương đối chân thực và toàn diện về giáo dục ở các tỉnh miền
núi phía Bắc từ năm 1954 đến năm 1965.
- Góp phần hoàn chỉnh bức tranh về nền giáo dục xã hội chủ nghĩa ở miền
Bắc Việt Nam trong mười năm đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội (1954-1965).
- Làm rõ hơn đường lối, chính sách phát triển giáo dục của Đảng, Nhà
nước đối với các tỉnh miền núi nói chung và các tỉnh miền núi phía Bắc nói
riêng. Từ đó thấy được, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm, chăm lo,
xây dựng công tác giáo dục ở các tỉnh miền núi, vùng đồng bào thiểu số.
- Trên cơ sở đó, luận án đưa ra nhận xét, đánh giá, rút ra bài học kinh
nghiê ̣m về công tác giáo dục ở các tỉnh miền núi phía Bắ c trong giai đoạn này và
xem đây là những gợi mở nhằm góp phần xây dựng, phát triển công tác giáo dục
ở các tỉnh miền núi, vùng cao trong giai đoạn hiện nay.
- Luận án cũng cung cấp thêm tư liệu phục vụ cho việc nghiên cứu, giảng
dạy, học tập về lịch sử giáo dục, lịch sử địa phương.
̀ h này , chúng tôi c hia thành hai nhóm nhỏ là nhóm
công trin
̀ h lý luâ ̣n về giáo du ̣c và nhóm công triǹ h chuyên khảo về giáo du ̣c.
- Nhóm công trình có tính lý luận về giáo dục gồ m các tác phẩ m Hồ Chủ
tịch bàn về giáo dục và Bàn về công tác giáo dục của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các
tác phẩm Công tác giáo dục và người thầy giáo xã hội chủ nghĩa, Sự nghiệp giáo
dục trong chế độ xã hội chủ nghĩa và Mấy vấn đề về văn hóa giáo dục của tác giả
Phạm Văn Đồng.
Những tác phẩ m Hồ Chủ tịch bàn về giáo dục xuấ t bản năm 1962 và Bàn
về công tác giáo dục xuấ t bản năm 1972 của Chủ tịch Hồ Chí Minh là tập hợp
những bài viết và bài nói chuyê ̣n của Người từ năm 1919 đến năm 1969 về giáo
dục. Qua hai tác phẩm này, Người nêu rõ quan điểm của Nhà nước Việt Nam dân
chủ cộng hòa về công tác giáo dục, về xây dựng nền giáo dục nhân dân, nề n giáo
dục xã hội chủ nghĩa; đề cập đến một số nội dung về xây dựng nề n giáo du ̣c xã
10
hô ̣i chủ nghiã mà sau này , Đảng ta k ế thừa , phát triển , như nô ̣i dun g giáo du ̣c
phải toàn diện, mục đích giáo dục là phải phục vụ đường lố i chiń h tri ̣của Đảng ,
v.v… Qua những tác phẩ m trên, Người khẳ ng đinh,
̣ mục đích giáo dục phải phục
vụ đường lối chính trị của Đảng và Nhà nước, phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân
dân, đào tạo những người kế tục sự nghiệp cách mạng. Phương pháp giáo dục
phải gắn liền với sản xuất và đời sống của nhân dân, học phải đi đôi với hành, lý
luận phải liên hệ với thực tế. Nội dung giáo dục phải chú trọng đủ các mặt: đạo
đức cách mạng, giác ngộ xã hội chủ nghĩa, văn hóa, kỹ thuật, lao động và sản
xuất. Trong nội dung giáo dục, Người nhấn mạnh phải đặc biệt chú trọng về mặt
đức dục, vì theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “có đức mà không có tài thì thành người
vô du ̣ng nhưng có tài mà không có đức thì làm việc gì cũng khó”.
Các tác phẩm Công tác giáo dục và người thầy giáo xã hội chủ nghĩa xuấ t
trên thế giới, để thấy rằng ngành giáo dục của nước nhà đứng trước những yêu
cầu, những trách nhiệm to lớn [44; tr.85].
Nhóm công trình có tính lý luận về giáo dục đã cung cấp cho người đọc
những kiến thức mang tính lý luận chung về nền giáo dục ở Việt Nam, hiểu đuợc
đường lối, quan điểm, của Đảng, Nhà nước về xây dựng, phát triển nền giáo dục
xã hội chủ nghĩa. Từ đó, người đọc nhận thấy quá trình xây dựng nền giáo dục xã
hội chủ nghĩa ở Việt Nam là một quá trình lâu dài và luôn được Đảng, Nhà nước
đặc biệt quan tâm, chăm lo, xây dựng.
- Nhóm công trình chuyên khảo về lĩnh vực giáo dục
, gồ m có các công
trình tiêu biểu sau: Hai mươi năm xây dựng giáo dục của Nguyễn Khánh Toàn
xuấ t bản năm 1965, Ba mươi lăm năm phát triển sự nghiệp giáo dục phổ thông
của Võ Thuần Nho xuấ t bản năm 1980, Sơ thảo giáo dục Việt Nam (1945-1992)
của Bộ Giáo dục và Đào tạo xuấ t băn năm
1992, Năm mươi năm phát triển sự
nghiệp giáo dục và đào tạo (1945-1995) của Bộ Giáo dục và Đào tạo xuấ t bản
năm 1995, Khoa cử và giáo dục Việt Nam của tác giả Nguyễn Quang Thắng xuấ t
12
bản năm 1998, Giáo dục Việt Nam 1945-2005, tập 1 của Bộ Giáo dục và Đào tạo
xuấ t bản năm 2005, Phát triển giáo dục trong điều kiện kinh tế thị trường và hội
nhập quốc tế của tác giả Trần Quốc Toản xuất bản năm 2012, v.v…
Cuố n sách Hai mươi năm xây dựng giáo dục của tác giả Nguyễn Khánh
Toàn đề cập đến những khó khăn, thuận lợi của ngành giáo dục Việt Nam khi
nước nhà mới thành lập và sự phát triển của giáo dục trong những năm kháng
biên soạn sách giáo khoa cho miền núi vẫn chưa được đề cập đến.
Cuố n sách Sơ thảo giáo dục Việt Nam (1945-1992) của Bộ Giáo dục và
Đào tạo đề cập khá hệ thống, chi tiết các ngành học của Việt Nam từ năm 1945
đến năm 1995, gồ m: ngành học giáo dục trước tuổi đi học, giáo dục bổ túc, giáo
dục phổ thông, giáo dục trung học chuyên nghiệp, giáo dục đại học. Công trình
còn đề cập đến vấn đề giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực cho đất nước, vấn đề
hợp tác quốc tế trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo. Trong từng ngành học, cuốn
sách đề cập về lịch sử xây dựng, hình thành, cách thức tổ chức quản lý, chương
trình học, các loại hình đào tạo cũng như những đóng góp của từng ngành học
đối với xã hội, v.v… Tuy nhiên, do đây là công trình viết về giáo dục của cả
nước nên giáo dục miền núi của cả nước nói chung và giáo dục ở miền núi phía
Bắc nói riêng chưa được đề cập nhiều.
Cuố n sách Năm mươi năm phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo (1945
- 1995) của Bộ Giáo dục và Đào tạo trình bày chi tiết, hệ thống về giáo dục của
cả nước, từ các ngành học mầm non, phổ thông, chuyên nghiệp đến giáo dục đại
học. Cuố n sách cũng đề câ ̣p đế n v iệc xây dựng, phát triển giáo dục ở các vùng
trong cả nước, như vùng đồng bằng, miền núi, vùng tự do, vùng bị giặc tạm
chiếm. Đây là công trình nghiên cứu công phu, có tính hệ thống cao. Công trình
đã cung cấp cho người đọc bức tranh tương đối toàn diện về sự phát triển của
ngành giáo dục Việt Nam từ khi thành lập nước Viê ̣t Nam dân chủ cộng hòa năm
14
1945 đến những năm đất nước bắt đầu bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện
đại hóa năm 1995.
Tại công trình này, vấn đề giáo dục miền núi được đề cập thành mục riêng
nhưng là giáo dục miền núi của cả nước, chưa đề câ ̣p đế n giáo du ̣c miề n núi của
từng vùng, miề n cụ thể. Hơn thế, việc trình bày công tác giáo dục ở các tỉnh miền
núi của cả nước vẫn còn hạn chế về số trang, chỉ mang tính liệt kê, chưa thấy
được những khó khăn, hạn chế, đặc thù của giáo dục miền núi so với giáo dục
đoạn: 1955-1975, 1975-1986, 1986 đến nay. Trong từng giai đoạn, cuốn sách
phân tích rõ điều kiện kinh tế - xã hội trong đó có giáo dục vận hành, bao gồm cả
cơ chế chính sách phát triển kinh tế; quan điểm phát triển giáo dục từ góc độ kinh
tế thị trường và hội nhập quốc tế; cơ chế chính sách phát triển giáo dục; thực tiễn
phát triển giáo dục. Trong giai đoạn 1955-1975, cuốn sách nêu rõ đặc điểm của
giáo dục là người học được bao cấp hoàn toàn, thậm chí ở một số bậc học, như
trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học còn được Nhà nước trợ cấp. Mục tiêu
giáo dục là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực gắn với giáo dục lý tưởng đấu
tranh giành độc lập dân tộc và thống nhất đất nước, phục vụ cho việc xây dựng
đất nước sau chiến tranh. Người học theo nhu cầu của xã hội.
Cuố n sách Khoa cử và giáo dục Việt Nam của tác giả Nguyễn Quang
Thắng đề cập đến nguồn gốc, hệ thống giáo dục và các hoạt động giáo dục, giảng
dạy, thi cử, chương trình học của giáo dục Việt Nam thời phong kiến. Cuố n sách
cũng đề cập đến giáo dục Việt Nam thời hiện đại như chương trình học, thi cử,
sách giáo khoa, hoạt động giáo dục ở vùng kháng chiến, vùng tự do, đề cập đến
hoạt động của các trường đại học ở Việt Nam. Cuốn sách cung cấp cho người
đọc những hiểu biết chung về hoạt động thi cử, chương trình học của nước Việt
Nam từ thời phong kiến đến năm 1975.
Nhìn chu ng la ̣i , nhóm công trình chuyên khảo về giáo dục đã trình bày
tương đối toàn diện về quá trình xây dựng, phát triển của giáo dục nước nhà với
đầy đủ các ngành học: giáo dục trước tuổi đi học, giáo dục bổ túc, giáo dục phổ
16
thông, giáo dục trung học chuyên nghiệp, giáo dục đại học qua từng giai đoạn
lịch sử; nêu chủ trương của Đảng, Nhà nước về xây dựng, phát triển giáo dục;
nêu những đặc điểm, quá trình xây dựng, phát triển cũng như những kết quả, khó
khăn, thăng trầm của giáo dục ở các vùng, miền của cả nước như vùng đồng
bằng, miền núi, vùng tự do, vùng bị giặc ta ̣m chiếm. Trong phần giáo dục miền
núi, nhóm công trình mới chỉ đề cập đến giáo dục miền núi của cả nước nói
tỉnh Cao Bằng do Tỉnh ủy - Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh Cao Bằng
- Viện Sử học xuấ t bản năm 2009, Địa chí Thái Nguyên do Tỉnh ủy - Hội đồng
nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên xuấ t bản năm 2009, Lịch sử Đảng
bộ tỉnh Lào Cai (1947-1975) do Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Lào Cai xuấ t bản
năm 2010, v.v…
Dưới đây chúng tôi xin trình bày tổng quan một số công trình tiêu biểu:
Cuố n sách Một số vấn đề kinh tế-xã hội các tỉnh miền núi phía Bắc của
Viện Dân tộc học là tập hợp các bài viết của các nhà khoa học đề cập đến nhiề u
nội dung. Đó là : Dân cư và lao động, Việc phát huy các thế mạnh để phát triển
kinh tế, Phát triển văn hóa và giáo dục, Kết hợp phát triển kinh tế với củng cố
quốc phòng ở các tỉnh miền núi. Qua đó, cuốn sách nêu lên thực trạng, khó khăn,
tiềm năng của các tỉnh miền núi phía Bắc; đề ra các biện pháp nhằm xây dựng,
phát triển miền núi trên các lĩnh vực, trong đó có giáo dục. Cuố n sách nêu rõ thế
yếu của các tỉnh miền núi phía Bắc là: Thiếu lương thực, không đủ bảo đảm cho
dân số tăng tự nhiên của địa phương và số dân từ xã di chuyển đến do nhu cầu
phát triển kinh tế và củng cố quốc phòng; thiếu sức lao động cả về số lượng và
chất lượng; Trình độ văn hóa-kỹ thuật, trình độ phân công lao động, năng suất
lao động thấp; Cơ sở vật chất kỹ thuật yếu, mạng lưới giao thông vận chuyển
kém phát triển. Trình độ kinh tế - xã hội thấp. Miền núi phía Bắc đi lên chủ nghĩa
xã hội từ những hình thái xã hội tiền tư bản chủ nghĩa. Những tiền đề vật chất và
tinh thần cho công cuộc xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa chưa có sẵn. Đó
là một trở ngại lớn. Vì vậy, việc xây dựng lực lượng sản xuất, xây dựng cơ sở vật
chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội là một quá trình lâu dài, khó khăn, phức tạp.
18
Cuố n sách Năm mươi năm các dân tộc thiểu số Việt Nam (1945-1995) của
tác giả Bế Viết Đẳng đề cập đến sự đóng góp của các dân tộc thiểu số trong sự
nghiệp giải phóng dân tộc, đó là trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp,
trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ và trong giai đoạn bảo vệ Tổ quốc sau năm
thống về công cuộc khôi phục kinh tế, phát triển văn hóa, xã hội của nhân dân
các dân tộc Việt Bắc trong giai đoa ̣n 1954-1960; quá trình xây dựng lực lượng vũ
trang, xây dựng Việt Bắc thành hậu phương vững mạnh cũng như đóng góp của
quân dân Việt Bắc trong hai cuộc chiến tranh phá hoại nói riêng, sự nghiệp cách
mạng giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (1961-1975). Cuố n sách giúp
người đọc nhận thức được lịch sử cách mạng của quân và dân khu Việt Bắc trong
những năm 1954-1975. Song, do công trình viết về lịch sử chiến tranh cách mạng
nên các lĩnh vực như văn hóa, giáo dục, y tế, ít đề cập đến. Nế u có thì trình bày
rất chung chung, không rõ mốc thời gian, như ở trang 53, cuố n sách viế t một
đoạn như sau: “Công tác giáo dục, văn hóa, y tế … cũng chuyển biến đáng kể, 85
phần trăm số dân đã biết đọc, biết viết. Một số dân tộc có chữ viết riêng. Các xã
đều có trường cấp I, huyện có trường cấp II, tỉnh có trường cấp III, Khu có
trường đại học”.
Cuố n sách Tây Bắc lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975)
của Bộ Tư lệnh Quân khu 2 trình bày khá chi tiết, đầy đủ những thuận lợi, khó
khăn trong quá trình khôi phục, phát triển kinh tế, văn hóa, nhất là công cuộc tiễu
phỉ cũng như những đóng góp của quân và dân Tây Bắc trong cuộc kháng chiến
chống Mỹ, cứu nước của dân tộc qua từng giai đoạn lịch sử 1954-1960, 19601965, 1965-1968 và 1968-1975.
Cuốn sách đã giúp bạn đọc có cái nhìn tổng thể, hoàn chỉnh, tương đối
toàn diện về lịch sử kháng chiến, quá trình khôi phục kinh tế, phát triển văn hóa
và những đóng góp của quân và dân Tây Bắc trong những năm 1954-1975. Tuy
nhiên, cũng giống như công trình Việt Bắc-Ba mươi năm chiến tranh cách mạng
20
(1945-1975), tập 2 nêu trên, công trình Tây Bắc lịch sử kháng chiến chống Mỹ,
cứu nước (1954-1975) mới chỉ đề cập sơ lược về việc xây dựng và hoạt động
giáo dục của quân, dân Tây Bắc trong giai đoạn 1954-1965. Trang 25, cuố n sách
viế t: “Về văn hóa, giáo dục, từ chỗ trên 90 phần trăm đồng bào mù chữ và một số
ít trường lớp phục vụ con em các giai cấp thống trị, đến cuối năm 1960, các xã có
vụ chiến lược cách mạng; trình bày cô đọng, súc tích quá trình khôi phục, cải tạo,
phát triển kinh tế, văn hóa của miền Bắc trong giai đoạn 1954-1965; trình bày
khách quan những thắng lợi, những thành tựu to lớn, toàn diện đã giành được và
những thiếu sót, sai lầm đã phạm phải trong quá trình cách mạng; phân tích rõ
nguyên nhân và rút ra một số bài học, kinh nghiệm.
Về giáo dục, công trình có đề cập đến công tác giáo dục ở miền Bắc nói
chung và giáo dục miền núi nói riêng. Tuy nhiên do đây là công trình viết về lịch
sử Việt Nam trên tất cả các lĩnh vực nên vấn đề giáo dục mới chỉ đề cập ở mức
rất hạn chế. Trong những năm 1954-1957, công trình có viết về giáo dục miền
núi như sau: “Trong phát triển văn hóa, giáo dục miền núi phải coi trọng việc
giáo dục tiếng phổ thông đi song song với tiếng dân tộc. Những dân tộc đã có
chữ, có quyền dùng tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình song song với tiếng
phổ thông. Để tạo điều kiện thuận lợi cho con em các dân tộc miền núi học tập,
chính phủ quyết định gia thêm hạn học cấp 1 phổ thông miền núi từ 4 đến 5 năm
với một chương trình thích hợp. Đồng thời lập các trường sư phạm miền núi ở
Hà Nội (Trung ương); ở Việt Bắc; trường sư phạm sơ cấp, trường sư phạm đào
tạo giáo viên cấp I, cấp II ở Tây Bắc và các lớp sư phạm cấp tốc cho miền núi.
Nhờ vậy giáo dục miền núi phát triển khá nhanh” [110; tr.53]
Cuố n sách Lịch sử Đảng bộ tỉnh Lai Châu, tập 1 (1945-1975) của Đảng bộ
tỉnh Lai Châu trình bày tương đối toàn diện, chi tiết quá trình ra đời, xây dựng,
đấu tranh, trưởng thành và sự lãnh đạo của Đảng bộ Lai Châu đối với phong trào
22
cách mạng của quần chúng nhân dân trong kháng chiến chống thực dân Pháp,
đặc biệt là trong các chiến dịch lớn như C hiến dịch Tây Bắc, Chiến dịch Điện
Biên Phủ; lãnh đạo nhân dân thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng chủ
nghĩa xã hội ở miền Bắc và kháng chiến chống Mỹ, cứu nước từ năm 1954 đến
năm 1975.
Do đây là công trình viết về sự hình thành và lãnh đạo của Đảng bộ Lai
giáo dục xóa mù chữ cho 2.480 người,… năm 1957 cho 8.068 người. Năm học
1954-1955, giáo dục phổ thông có 444 học sinh cấp I, 20 học sinh cấp II. Năm
học 1955-1956 có 767 học sinh cấp I, 74 học sinh cấp II. … Nhiều xã vùng cao
đã có trường cấp I, phong trào học tập ở các thị xã, thị trấn khá sôi nổi, điển hình
nhất là huyện Bảo Thắng đến năm 1957 số người mù chữ chỉ còn 20%” [7; tr.
227, 228].
Cuố n sách Lịch sử Đảng bộ tỉnh Cao Bằng (1930-2000) của Đảng bộ tỉnh
Cao Bằng đề cập đến sự ra đời của Đảng bộ tỉnh và việc lãnh đạo nhân dân trong
sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc qua các giai đoạn: 1930-1935, 19361939, 1939-1945, 1945-1947, 1947-1950, 1950-1954, 1954-1960, 1961-1965,
1966-1972, 1973-1975, 1976-1980, 1981-1985, 1986-1990, 1991-1995 và 19962000.
Về công tác giáo dục, giai đoa ̣n 1954-1965, cuố n sách t rình bày vài nét
như sau: “Đảng bộ và chính quyền các cấp từ tỉnh xuống đến các huyện, thị xã
đều quan tâm đến công tác bình dân học vụ, do đó phong trào bình dân học vụ
phát triển mạnh. Đầu năm 1956, toàn tỉnh có tới 24.039 học sinh theo học các lớp
bình dân học vụ, trong đó có 11.611 học viên thi tốt nghiệp, tiến tới phổ cập cấp I
cho đội ngũ cán bộ cơ sở, chuẩn bị một bước cho công cuộc cải tạo xã hội chủ
nghĩa. Năm 1957, Trường văn hóa miền núi của tỉnh đã tổ chức thi tốt nghiệp cấp
24
I cho 303 học viên (trong đó có 212 cán bộ xã, 91 học viên được đào tạo thành
giáo viên bổ túc văn hóa cấp I cho vùng cao)” [5; tr.257]
Cuố n sách Lịch sử Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang (1940-1975) của Đảng bộ
tỉnh Tuyên Quang trình bày tương đối toàn diện về sự ra đời và lãnh đạo của
Đảng bộ tỉnh đối với phong trào cách mạng điạ phương qua từng giai đoạn. Đó là
lãnh đạo nhân dân các dân tộc trong cách mạng giải phóng dân tộc và kháng
chiến chống thực dân Pháp xâm lược, đặc biệt là vai trò hậu phương, an toàn khu
trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1940-1954); lãnh đạo nhân dân thực
hiện nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội và kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
(1954-1975)
nguyên nhân, hạn chế của công tác giáo dục trong từng giai đoạn lịch sử. Ví dụ,
trang 682, công trin
̀ h viế t như sau : “Năm học 1965-1966 so với năm học 19551956, tăng như sau: trường cấp I tăng 2,6 lần, số học sinh cấp I tăng 2,8 lần;
trường cấp II tăng 9 lần và số học sinh tăng 6,7 lần; số trường cấp III tăng 8 lần
và học sinh tăng 18,3 lần. Số giáo viên cấp I tăng 4,4, lần, cấp II 22 lần, cấp III
32,5 lần. Học sinh người dân tộc thiểu số đã chiếm tỷ lệ cao trong tổng số học
sinh: cấp I chiếm 85%, cấp II chiếm 81 % và cấp III chiếm 31%...”.
Cuố n sách Địa chí Thái Nguyên trình bày toàn diện các lĩnh vực của tỉnh
Thái Nguyên; Giới thiệu bức tranh toàn cảnh, vừa khái quát vừa cụ thể về Thái
Nguyên trên tất cả các lĩnh vực, trong suốt chiều dài lịch sử. Đây là công triǹ h
khoa ho ̣c đồ sô ̣ với sự tham gia của nhiề u nhà khoa ho ̣c, sử ho ̣c.
Vấn đề giáo dục, đào tạo được công trình đề cập thành một chương riêng,
gồm các mục sau: Giáo dục dưới thời phong kiến; Giáo dục trước Cách mạng
Tháng Tám năm 1945; Giáo dục sau Cách mạng Tháng Tám đến năm 2006 và hệ
thống các trường đại học, cao đẳng của tỉnh và nhà giáo Nhân dân, nhà giáo Ưu