luận văn: Một số giải pháp xóa đói giảm nghèo ở các tỉnh miền núi phía Bắc doc - Pdf 11



1

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

ĐỀ TÀI: “Một số giải pháp xóa đói giảm
nghèo ở các tỉnh miền núi phía Bắc”
2
MỤC LỤC
Lời mở đầu Trang
Phần I: Mấy vấn đề lý luận về đói nghèo. 3
1. Khái niệm đói nghèo và chuẩn mực đói nghèo 3

Phụ lục I 29
Phụ lục II 30
Tài liệu tham khảo 4
LỜI MỞ ĐẦU

Bước sang thế kỷ XXI, Việt Nam vẫn là một nước nông nghiệp lạc hậu,
“bị” quốc tế đánh giá là một trong những nước nghèo nhất thế giới.
Mặc dù những năm cuối của thế kỷ XX, đặc biệt dưới tác động của công
cuộc đổi mới hơn một thập niên trở lại đây, nền kinh tế nước ta đã có những
bước phát triển đáng mừng với tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm
tương đối cao (6-7%, đứng thứ hai sau Trung Quốc), đời sống vật chất, tinh
thần của nhân dân được cải thiện đáng kể. Nhưng do xuất phát điểm quá thấp,
vốn là một nước nông nghiệp nghèo nàn, lạc hậu, cộng với điều kiện tự nhiên ít
thuận lợi, thiên tai thường xuyên xảy ra, hơn nữa trong lịch sử phát triển của đất
nước, dân tộc ta luôn phải chống giặc ngoại xâm, đặc biệt là các cường quốc
hùng mạnh như Pháp, Mỹ, đã gây tổn thất rất lớn, kéo sự phát triển của nước ta
lùi lại hàng thế kỷ. Do vậy tới nay, bộ mặt kinh tế-xã hội của nước ta chưa được
mấy sáng sủa, tỷ lệ đói nghèo còn cao (đến 7/1998, theo Tổng cục thống kê, cả
nước còn 17,4% hộ đói nghèo, nhưng theo tính toán của Ngân hàng thế
giới(WB) thì con số đó còn cao hơn nhiều). Mặt khác, đến nay vẫn còn 80%
dân số và trên 70% lực lượng lao động của cả nước sống ở khu vực nông thôn
và như vậy, vấn đề nguồn nhân lực, vật lực, tiềm năng đất đai, điều kiện tự
nhiên nước ta gắn với vùng nông thôn rộng lớn. Tuy nhiên, chúng ta chưa chú
trọng đầu tư phát triển một cách thoả đáng đối với khu vực nông thôn dẫn tới sự
phát triển không đồng đều giữa khu vực nông thôn và thành thị, giữa miền núi
và đồng bằng. Kết quả tất yếu là số hộ đói nghèo tập trung phần lớn ở địa bàn
nông thôn (trên dưới 90%), và con số ấy càng cao hơn đối với địa bàn nông


6
PHẦN I: MẤY VẤN ĐỀ VỀ LÝ LUẬN ĐÓI NGHÈO
1. Khái niệm đói nghèo và chuẩn mực đói nghèo.
Hiện nay, có nhiều định nghĩa và cách hiểu khác nhau về đói nghèo, kể
cả các tổ chức quốc tế. Ở đây, chỉ xin dẫn một định nghĩa về đói nghèo mà hội
nghị bàn về giảm nghèo đói ở khu vực Châu Á-Thái Bình Dương do ESCAP tổ
chức tại Bangkok-Thái Lan tháng 9/1993 đưa ra như sau:
“Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả
mãn những nhu cầu cơ bản của con người đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo
trình độ phát triển kinh tế-xã hội và phong tục tập quán của các địa phương”.
Để hiểu rõ hơn về đói và nghèo có thể phân thành hai khái niệm:
- Đói là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng hoặc được
hưởng rất ít ỏi những nhu cầu cơ bản của con người đã được xã hội thừa nhận
tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế-xã hội và phong tục tập quán của các dân tộc
ở các địa phương.
- Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được thoả mãn những
nhu cầu cơ bản của con người đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát
triển kinh tế-xã hội và phong tục tập quán của các địa phương.
Như vậy, ranh giới giữa đói và nghèo là không được hưởng hoặc được
hưởng rất ít ỏi với không được thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người.
Từ khái niệm chung ở trên, liên hệ với thực tiễn Việt Nam có thể hiểu về
đối tượng đói nghèo như sau:
- Hộ đói là hộ cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, con cái thất học, ốm
đau không có tiền chữa trị, nhà ở rách nát…. Nếu theo tiêu chí này thì những hộ
có thu nhập bình quân đầu người quy đổi ra gạo dưới 13 kg/tháng được coi là
hộ đói (Bộ Lao động – Thương binh và xã hội). Còn hộ nghèo là hộ thiếu ăn
nhưng không đứt bữa, mặc không lành và không đủ ấm, không có khả năng
phát triển sản xuất… Thu nhập bình quân đầu người quy ra gạo của những hộ


Còn vùng ( vệt ) nghèo là những địa bàn tương đối rộng, nằm ở những
khu vực khó khăn, hiểm trở, giao thông không thuận lợi, có tỷ trọng xã nghèo,
hộ nghèo cao.
2. Sự tác động của đói nghèo tới phát triển kinh tế - xã hội :
Đói nghèo là vấn đề có ý kinh tế - xã hội liên quan đến nhiều yếu tố, lĩnh
vực. Khi đề cập tới đói nghèo ai cũng có thể hình dung được những tác động
tiêu cực của nó, trước hết trong từng hộ gia đình. Một gia đình nghèo sẽ tạo ra
những con người yếu kém về mặt thể chất do ăn uống thiếu thốn, dáng người
thì nhỏ bé, suy dinh dưỡng, do vậy ít có khả năng miễn dịch với các bệnh lây
lan, lại không có khả năng tiếp cận hay trả tiền cho các dịch vụ y tế. Những
người nghèo thường bị cô lập với các dịch vụ xã hội cơ bản do không có khả
năng nộp lệ phí, thiếu thông tin, phương tiện đi lại để tìm kiếm việc làm hay để
sống gần trung tâm xã, gần những vùng kinh tế năng động. Rồi không có khả
năng chi trả những khoản tốn kém hay những rủi ro bất thường và làm cho tình
trạng vô quyền càng tồi tệ hơn vì của cải ít ỏi cùng với địa vị thấp, người nghèo
không có tiếng nói. Như vậy với tiềm lực thấp kém và không đáng kể, những hộ
gia đình nghèo sẽ có rất nhiều hạn chế trong sự phát triển. Và nếu nhìn rộng ra
ở những phạm vi, qui mô lớn hơn như xã, huyện, vùng, thậm chí là một quốc
gia thì những tác động hạn chế ấy có khác chăng cũng chỉ là ở độ phóng đại mà
thôi.
Ngoài ra, ta cũng cần phải nhìn nhận đói nghèo dưới góc độ thương mại,
một vùng nghèo chắc chắn sẽ có sức mua ít (cầu thấp), do đó sẽ không kích
thích được sản xuất nói riêng, kinh tế thị trường nói chung phát triển. Mặt khác
cũng cần nhấn mạnh thêm rằng, nếu không giải quyết thành công nhiệm vụ và
yêu cầu xóa đói giảm nghèo (đặc biệt đối với nông dân, nông thôn) sẽ làm gia
tăng phân hóa giàu nghèo có nguy cơ đẩy tới phân hóa giai cấp với hậu quả là
sự bần cùng hóa, do đó đe dọa sự ổn định chính trị - xã hội, làm chệch định
hướng xã hội chủ nghĩa, không thực hiện được công bằng xã hội.
3.Những nguyên nhân chính dẫn đến đói nghèo:

10
Do yếu tố xa cách về mặt địa lý mà người dân không có hoặc thiếu hoặc
chậm thông tin về các mặt hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa ngoài xã hội
kể cả ở địa phương, khu vực quốc gia và quốc tế. Trong khi đó, phong tục
tập quán và những hủ tục lạc hậu đó đây còn khá nghiêm trọng. Do vậy, đã
hình thành nên những con người thiếu năng động, sáng tạo và gắn liền là sự
đánh mất cơ hội, gặp nhiều rủi ro ngoài ý muốn trong sản xuất và đời sống.
• Về ngôn ngữ
Đây là một vấn đề bức xúc trong giải quyết đói nghèo ở các tỉnh miền núi
phía Bắc vì tại đây tập trung khoảng 30 dân tộc thiểu số chiếm trên 50% số
dân trong vùng, với 7 nhóm ngôn ngữ chính. Sự bất đồng về ngôn ngữ đem
lại nhiều thiệt thòi cho đồng bào dân tộc như về giáo dục, nâng cao trình độ
dân trí, khả năng tham gia vào các hoạt động kinh tế xã hội khác. Bộ giáo
dục đào tạo đã có chủ trương mở rộng các trường phổ thông dân tộc nội trú,
bán trú, lớp ghép… nhằm từng bước hòa nhập đời sống xã hội của các đồng
bào dân tộc thiểu số. Các chương trình xóa mù chữ, dạy tiếng Việt để rèn kĩ
năng đọc và viết, nhằm mở rộng sự hiểu biết thông qua các phương tiện sách
báo, thông tin đại chúng, được phát triển ở các vùng dân tộc thiểu số khá tốt
nhưng việc tái mù chữ vẫn xảy ra. Thầy giáo kết thúc lớp xoá mù chưa được
bao lâu thì phần đông học trò tái mù chữ trở lại, họ không thể đọc và viết
được. Vấn đề đặt ra là ở vùng sâu vùng xa họ rất ít có cơ hội tiếp xúc với
người Kinh cũng như các phương tiện văn hoá thông tin để ôn lại, hàng ngày
họ vẫn trao đổi với nhau bằng tiếng dân tộc của mình (một phần họ chưa ý
thức được tầm quan trọng của việc học ngôn ngữ tiếng Việt).
Từ thực trạng đó dẫn tới sự kém hiệu quả trong phổ biến các chủ trương,
chính sách, chương trình dự án mà họ là những đối tượng tác động. Không
những thế, do sự mù chữ, thiếu hiểu biết nên họ dễ bị lợi dụng, dễ phải mua
đắt bán rẻ hay khai thác gỗ trái phép để bán cho thương lái với giá rẻ nhằm

để có nhiều lao động), tập quán sinh con trai con gái. Do đông con nên phải
chăm sóc nhiều, vất vả, ốm đau, con cái do điều kiện thiếu thốn cũng thường 12
ốm đau bệnh tật, dẫn đến tốn tiền thuốc, thời gian lao động giảm, kết quả sản
xuất thấp, đời sống càng khó khăn hơn.
3.3 Thiếu nguồn lực:
Nguồn lực bao gồm tất cả các khâu thuộc đầu vào để tạo ra nguồn thu
nhập hay đầu ra. Đối với người nông dân có 3 nguồn lực chính yếu sau: đất đai,
vốn, lao động. Muốn người dân thoát khỏi đói nghèo phải cung cấp cho họ
những điều kiện trên tuỳ theo đặc trưng của vùng. Hiện tại, ở vùng núi phía Bắc
những điều kiện này còn rất thiếu.
Đối với người dân miền núi, nhất là vùng cao, điều quan tâm nhất của họ
trong đời sống là cái ăn, có được sự an toàn về lương thực là ưu tiên số một.
Nhìn lại mấy chục năm qua, tình trạng thiếu lương thực luôn là một gánh nặng.
Nguyên nhân chính là thiếu đất canh tác, bình quân đất nông nghiệp trên đầu
người rất thấp. Chất lượng đất kém nên hiệu quả không cao chỉ bằng 1/7 đến
1/5 so với vùng đồng bằng. Hơn nữa có nhiều hộ nghèo do nhiều nguyên nhân
khác nhau chịu nợ sản phẩm của hợp tác xã nên bị rút đất. Thêm vào đó, họ ít
có điều kiện thâm canh, ứng dụng những kĩ thuật tiên tiến, chỉ sử dụng cây, con
truyền thống, kết quả là năng suất, sản lượng thấp. Những hộ nông dân nghèo
thường xuyên đói lương thực và bị đe doạ đứt bữa vào những kì giáp hạt. Do
thiếu đất nên nạn du canh du cư, phá rừng làm nương rẫy là một trong những hệ
quả tiêu cực tất yếu xảy ra.
Có đất đai cần phải có sức lao động. Nhưng nhìn chung, chất lượng lao
động thấp thể hiện ở hai khía cạnh chính là thể trạng yếu (do suy dinh dưỡng ăn
không đủ chất là chính) và kĩ năng lao động kém, thiếu kiến thức canh tác tiên
tiến. Điều này có nguyên nhân từ thiếu đói lương thực, ăn uống thiếu vệ sinh,
nhà ở dột nát, ẩm thấp gây bất lợi cho sức khoẻ, nguồn nước ô nhiễm, phụ nữ

thiếu đói, mất mùa và đầu tư trở lại vào vụ sản xuất mới nhằm gỡ lại sự mất
mát, cuộc sống cũng sớm được ổn định. Còn người nghèo họ chỉ biết trông chờ
vào trợ cấp hoặc nguồn vốn vay. Nhưng nhiều người còn tự ti, suy nghĩ nông
cạn không dám vay vì sợ rủi ro lại đến thì gánh nặng nợ nần chồng chất hơn.
“Cái khó bó cái khôn” là vậy, đã nghèo thì càng dễ bị sự thiếu thốn và rủi ro chi
phối đời sống. 14
3.5 Do tham nhũng:
Tham nhũng tác động gián tiếp một cách tiêu cực đối với tình cảnh của
những nông hộ đói nghèo khiến họ khó vượt qua, thậm chí là tăng thêm đói
nghèo, ảnh hưởng lớn tới kết quả thực hiện các mục tiêu của chương trình quốc
gia xoá đói giảm nghèo. Những kẻ tham nhũng đã dùng chức quyền, lợi thế của
mình để ăn chặn nhiều khoản vốn tài trợ, vốn ngân hàng phục vụ người nghèo,
vốn cho vay ưu đãi với lãi suất thấp hay không lấy lãi, vốn dự án, vốn các
chương trình lồng ghép để xoá đói giảm nghèo.
Vậy chúng ta suy ngẫm gì? Và phải làm gì cho những người “một nắng
hai sương” đương đói nghèo khi đồng vốn chính sách xóa đói giảm nghèo đã và
đang bị một số cán bộ lợi dụng chiếm đoạt?
 Tổng hợp về nguyên nhân đói nghèo của các hộ gia đình, kết quả
của một cuộc điều tra như sau:
- Thiếu vốn: 70 - 80%.
- Đông con: 50 - 60%.
- Thiếu kinh nghiệm: 40 - 50%
- Thiếu ruộng, việc làm: 20 - 30%
- Rủi ro, ốm đau: 10 - 15%
- Thiếu lao động, neo đơn: 6 - 15%
- Lười lao động, chi tiêu lãng phí: 5 - 6%
- Mắc tệ nạn xã hội: 2 - 3%.

 Các hoạt động của chương trình xóa đói giảm nghèo tại các tỉnh miền
núi:
Ngày 23/7/1998, chính phủ phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia
xóa đói giảm nghèo thời kì 1998 - 2000. Từ đó tới nay có nhiều chính sách
và dự án được thực hiện trong phạm vi cả nước có liên quan, tác động tới
các tỉnh miền núi như:
- Chính sách hỗ trợ về y tế. 16
- Chính sách hỗ trợ về giáo dục.
- Chính sách hỗ trợ đồng bào dân tộc đặc biệt khó khăn.
- Chính sách an sinh xã hội, trợ giúp các đối tượng yếu thế.
- Chính sách hỗ trợ người nghèo về nhà ở.
- Chính sách miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp.
- Dự án hỗ trợ đầu tư xây dựng hạ tầng cơ sở các xã nghèo.
- Dự án tín dụng ưu đãi hộ nghèo.- Dự án định canh định cư và xây dựng các vùng kinh tế mới.
- Dự án hướng dẫn người nghèo cách làm ăn, khuyến nông, khuyến
lâm, khuyến ngư.
- Dự án đào tạo cán bộ làm công tác xóa đói giảm nghèo và cán bộ
các xã nghèo.
- Dự án hỗ trợ sản xuất và phát triển ngành nghề.
 Một số kết quả đáng ghi nhận ở các tỉnh miền núi:Khi nói tới đói nghèo, người ta thường nghĩ tới mức thu nhập thấp.
Nhưng thực tế đói nghèo không chỉ đơn giản là mức thu nhập thấp mà còn là sự

Trên đây là những kết quả lớn thể hiện quyết tâm cao của Đảng và Nhà
nước trong công cuộc chiến đấu - tấn công đói nghèo. Song, đến nay vẫn còn
nhiều hạn chế, tồn tại, kết quả đạt được còn mong manh chưa bền vững. Theo
thống kê thì chương trình xóa đói giảm nghèo tiến triển chậm, chưa đạt kết quả
mong muốn so với hệ thống chính sách đã có và lượng vốn đã bỏ ra. Chẳng
hạn, chủ trương bình quân đề ra mỗi năm giảm 300.000 hộ đói nghèo nhưng
trong 5 năm qua bình quân mỗi năm mới giảm được 240.000 hộ (đạt 80% so
với chỉ tiêu so với đề ra). Về hệ thống cơ sở hạ tầng tuy đã được cải thiện song
vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu sản xuất nông nghiệp hàng hoá và nâng cao đời
sống nhân dân nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới. Đường giao thông còn
kém, đặc biệt đi lại khó khăn trong mùa mưa, hệ thống thuỷ lợi phần lớn là
công trình tạm và trên thực tế mới đáp ứng được một phần yêu cầu sản xuất lúa, 18
các cây trồng khác chủ yếu là nhờ nước trời. Số trạm y tế đạt tiêu chuẩn chỉ đạt
46%. Cơ sỏ trường lớp tuy được tăng cường nhưng vẫn nghèo nàn, thiếu…
(một thực trạng đáng lo ngại là nhiều nơi chỉ chạy theo thành tích số lượng các
công trình mà quên mất chỉ tiêu chất lượng của chúng). Và nhin chung, sản xuất
nông nghiệp còn mang nặng tính tự cấp tự túc, manh múm, nhỏ lẻ, phương thức
canh tác lạc hậu, năng suất lao động thấp. Tình trạng phá rừng làm nương rẫy
vẫn xảy ra rất nghiêm trọng, gây tác hại lớn về môi trường sinh thái. Hiện tượng
di dân tự do nội vùng vào các tỉnh Tây Nguyên vẫn chưa được giải quyết triệt
để. Một bộ phận dân cư vùng sâu, vùng xa tiếp tục cuộc sống du canh du cư. 19
PHẦN II: VÀI NÉT VỀ TÌNH HÌNH NGHÈO ĐÓI Ở CÁC TỈNH
MIỀN NÚI PHÍA BẮC
1. Tình hình cơ bản ở các tỉnh miền núi phía Bắc có ảnh hưởng tới

quốc (1.229 m
2
).
Về điều kiện tự nhiên, 65% diện tích vùng có độ cao từ 200 m trở lên,
14% có độ cao khoảng 100 m. Trừ một số ít lưu vực giữa núi và các thung lũng
sông, địa hình phần lớn bị chia cắt bởi độ dốc lớn. Hơn 50% vùng cao có các
sườn dốc trên 20 độ, do đó khó khăn cho việc xây dựng đường sá, đường điện,
các công trình hạ tầng cơ sở khác cũng như việc việc duy tu bảo dưỡng chúng.
Khí hậu khắc nghiệt, nhiệt độ trong ngày thường thay đổi lớn (thường đêm và
sáng sớm trời lạnh đặc biệt đối với những vùng cao) gây ảnh hưởng không nhỏ
tới hoạt đông sản xuất cũng như sinh hoạt của người dân. Mưa nhiều, tập trung
nên thường gây thiệt hại cho sản xuất nông nghiệp, giao thông và hệ thống thuỷ
nông, các ruộng bậc thang hàng năm bị xói mòn mạnh, ước tính hàng năm mất 20
150 - 350 tấn/ ha (trong khi diện tích đất bằng hạn chế, nông dân muốn canh tác
phải làm trên nương rẫy, ruộng bậc thang trên sườn dốc). Đây cũng là một lí do
dẫn tới hiện trạng chặt phá rừng để sản xuất nông nghiệp làm tăng diện tích đất
trống đồi núi trọc. Tuy nhiên mưa phân bố không đều nên mặc dù có những nơi
mưa nhiều bị úng ngập, nhưng cũng có nhiều nơi chịu hạn hán nghiêm trọng
(nhất là vào mùa khô), có nơi người dân phải đi lấy nước xa 15 - 20km. Đất
feralit đỏ vàng là phổ biến, đất nghèo dinh dưỡng chiếm tỉ lệ cao, thiếu vi lượng
đối với cây trồng nên thường gây bệnh bướu cổ (do thiếu iốt).
Rừng bị tàn phá nghiêm trọng. Diện tích chiếm trên 11ha trong 16ha ở
miền Bắc, nhưng trong vòng 20 năm trở lại đây nó đã bị khai thác và tàn phá
kiệt quệ để lại nhiều vùng đất nghèo nàn về sinh thái và kinh tế. Nhiều loại lâm
thổ sản và động vật quí có nguy cơ tuyệt chủng. Đất thì bị xói mòn dẫn tới biến
đổi môi trường sinh thái, xảy ra nhiều thiên tai (như lở đất, lũ quét…) gây nhiều
khó khăn trong sản xuất và đời sống.

nhận những công nghệ mới, chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, do vậy một
tất yếu là năng suất lao động quá thấp.
2. Khái quát tình hình nghèo đói ở các tỉnh miền núi phía Bắc:
Theo số liệu thống kê năm 1999, tỉ lệ hộ nghèo đói của các tỉnh miền núi
phía Bắc là 40,63% gấp 1,44 lần so với tỉ lệ hộ nghèo đói bình quân cả nước
(28,21%) và cao nhất so với các vùng miền khác. Nhìn chung, tình hình nghèo
đói ở đây đã có sự chuyển biến đáng kể cả tuyệt đối lẫn tương đối. Điều đó
được biểu hiện qua số liệu về hộ đói nghèo như sau:
- Năm 1992: 799.500 hộ.
- Năm 1996: 695.503 hộ (giảm so với năm 1992 là 103.997 hộ, tốc
độ giảm bình quân là 3,25%/năm).
- Năm 1998: 570.445 hộ (giảm so với năm 1996 là 125.058 hộ, tốc
độ giảm bình quân là 9%/năm).
Đây thực sự là những kết quả đáng mừng và đáng khích lệ trong công
cuộc xoá đói giảm nghèo ở các tỉnh miền núi phía Bắc. Tuy nhiên chúng ta
không thể không suy ngẫm trước thực trạng về đời sống đói nghèo ở đây và nỗi 22
lo vẫn còn nhiều. Năm 1999, thu nhập bình quân một người một tháng là
210.000 đồng trong khi chi tiêu là 193.020 đồng. Suy ra khả năng tích luỹ bình
quân của mỗi người một tháng là 16.980 đồng và một năm là 203.760 đồng.
Với số tiền tích luỹ ít ỏi như vậy không biết đến bao giờ những hộ nghèo đói
mới cải thiện được cuộc sống. Một trong những nỗi lo của các nhà chức trách
hiện nay là khoảng cách giàu nghèo ở thành thị cũng như nông thôn đang có xu
hướng giãn ra nhanh chóng. Và một vấn đề cần đặc biệt quan tâm đối với các
tỉnh miền núi phía Bắc là phần lớn hộ đói nghèo là đồng bào dân tộc thiểu số. 23

chất lượng còn thấp, khả năng cạnh tranh kém. Do đó, cần giúp họ có cơ hội
tiếp cận với công việc bằng cách tạo thêm việc làm ở nông thôn (kể cả nghề
nông, công nghiệp và dịch vụ). Đồng thời có những biện pháp thích hợp để
nâng cao chất lượng nguồn lao động như: phổ cập tiểu học, trung học cơ sở,
chương trình khuyến nông, chương trình chăm sóc sức khoẻ, xây dựng cơ sở
hạ tầng phục vụ đời sống, tăng phúc lợi xã hội…
- Xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất như điện,
đường giao thông, thuỷ lợi… kết hợp với trang bị những kĩ thuật khác cũng
là hình thức trang bị vốn cho người nghèo.
 Vai trò của Nhà nước:
- Xoá đói giảm nghèo là một vấn đề đòi hỏi sự đóng góp nỗ lực của
toàn Đảng, toàn dân, các tổ chức quốc tế, các tổ chức quần chúng, trong đó
vai trò của Nhà nước đặc biệt quan trọng. Nhà nước cần ban hành hệ thống
chính sách mới như chính sách tín dụng, chính sách thị trường tiêu thụ sản
phẩm, chính sách đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, chính sách thuế, chính
sách khuyến nông… để khuyến khích nông dân giảm nghèo, làm giàu.
2. Phương hướng:
Phương hướng chung là không ngừng phát triển sản xuất kinh doanh, gắn
chương trình giải quyết việc làm với xóa đói giảm nghèo. Hướng trọng tâm là
chuyển đổi cơ cấu kinh tế gắn với bố trí cơ cấu lao động hợp lí, khai thác triệt
để tiềm năng đất đai bằng mở rộng diện tích, thâm canh tăng vụ, thay đổi cơ cấu
mùa vụ, thay đổi cơ cấu giống cây trồng vật nuôi để thu được giá trị kinh tế cao
trên một đơn vị diện tích. Từng bước nâng cao tỉ trọng cây công nghiệp, sản
phẩm chăn nuôi, tiểu thủ công nghiệp và ngành nghề dịch vụ nhằm tăng thu
nhập, nâng cao đời sống. Vấn đề có tính chất quyết định là khuyến khích mọi
nhà, mọi người chăm lo phát triển kinh tế hộ gia đình, kết hợp một cách biện
chứng giữa sức vận động của từng cá nhân người nghèo với sự hỗ trợ của cộng 25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status