Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Bối cảnh nghiên cứu
Rừng và nghèo đói là một lĩnh vực đang được quan tâm trên toàn cầu.
Tình trạng phá rừng ngày càng trở nên phổ biến đối với mỗi quốc gia, làm
cho diện tích đất trống đồi trọc ngày càng gia tăng. Đó là lý do chính gây ra
các trận bão lụt mang tính lịch sử từ trước đến nay. Những thiên tai, bão lũ đó
luôn đe dọa đến đời sống của người dân trong đó có cả lực lượng lao động
chính và tài sản vốn có ít ỏi.
Hay đối với những người dân sống phụ thuộc rất nhiều vào rừng, thì nạn
phá rừng chính là thủ phạm làm phá vỡ lưới an toàn đảm bảo cuộc sống của
họ. Nói ngắn gọn, chính nạn phá rừng đã làm cho tình trạng nghèo đói càng
trở nên trầm trọng hơn
Những năm 1960, các tổ chức phát triển đã tuyên bố về tiềm năng sử dụng
tài nguyên rừng thúc đẩy quá trình giảm nghèo ở các nước đang phát triển.
Nhưng những dự báo này phần lớn không trở thành hiện thực, sau một thời
gian nó đã không được ưa chuộng nữa. Cho đến những năm gần đây, chủ đề
này đã bắt đầu nhận lại sự quan tâm của các cấp, các ngành.
Hiện nay, Việt Nam đang ra sức bảo vệ và khôi phục lại những cánh rừng
đã mất. Đồng thời, đẩy mạnh tốc độ giảm nghèo cho các dân tộc thiểu số ở
vùng sâu vùng xa để đảm bảo tính công bằng giữa các dân tộc. Mặc dù đã
được chính quyền nhà nước quan tâm, độ che phủ rừng đã được khôi phục,
nhưng tình trạng phá rừng vẫn đang tiếp diễn. Thảm họa thiên nhiên, bão lũ,
sạt lở đất liên tiếp diễn ra trong những năm gần đây và đời sống của đồng bào
dân tộc vùng cao sống gần rừng, điển hình ở miền núi phía Bắc, vẫn còn gặp
nhiều khó khăn, tình trạng thiếu ăn còn phổ biến. Chính vì vậy, tôi đã quyết
Trần Thị Bích Diệp Lớp: KTPT47B
1
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
định chọn đề tài “Ngăn chặn nạn phá rừng để giải quyết vấn đề nghèo đói
do suy thoái rừng gây ra ở các tỉnh miền núi phía Bắc của Việt Nam”.
Do trình độ, điều kiện nghiên cứu và tài liệu tham khảo còn nhiều hạn
chế, nên đề tài không tránh khỏi những thiếu sót. Kính mong sự đóng góp ý
kiến của các thầy cô, cán bộ Văn phòng Phát triển bền vững và các bạn đọc để
đề tài của tôi hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Trần Thị Bích Diệp Lớp: KTPT47B
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA BẢO VỆ
RỪNG VÀ XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO
1.1. Tài nguyên rừng
1.1.1. Khái quát về tài nguyên rừng
1.1.1.1. Khái niệm rừng
Rừng là một quần xã sinh vật. trong đó cây rừng (gỗ và tre nứa) chiếm ưu
thế. Quần xã sinh vật có diện tích đủ lớn, có mật độ cây nhất định để giữa
quần xã sinh vật với môi trường, các thành phần của quần xã sinh vật có mối
quan hệ hữu cơ hình thành nên một hệ sinh thái.
Tài nguyên rừng được biết đên là một thành phần của tài nguyên thiên
nhiên, là một trong những nguồn tài nguyên có khả năng tái tạo quý giá nhất
trên toàn cầu.
1.1.1.2. Phân loại rừng
Phân loại rừng theo mục đích sử dụng chính:
Rừng của Việt Nam được phân thành 3 loại: rừng sản xuất, rừng phòng
hộ và rừng đặc dụng
Rừng sản xuất: Được xác định chủ yếu để xây dựng và phát triển rừng
cho mục đích sản xuất, kinh doanh lâm sản (trong đó đặc biệt là gỗ và
các loại đặc sản rừng), kết hợp phòng hộ môi trường, cân bằng sin
thái.
Rừng phòng hộ: Được xác định chủ yếu để xây dựng, phát triển rừng
những cây thân gỗ. Do đó, không được coi là LSNG những sản phẩm cát, đá,
nước và dịch vụ du lịch sinh thái.
Hội nghị lâm nghiệp do tổ chức Nông Lương Liên Hiệp Quốc, 6-1999,
lại đưa ra một khái niệm mới về lâm sản ngoài gỗ, đó là: “Lâm sản ngoài gỗ
Trần Thị Bích Diệp Lớp: KTPT47B
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
bao gồm những sản phẩm có nguồn gốc sinh vật, khác gỗ dược khai thác từ
rừng, đất có cây rừng và cây ở ngoài rừng”. Theo định nghĩa này, LSNG bao
gồm cả động vật, gỗ nhỏ và củi, như vậy rộng hơn định nghĩa trước. Hiện
nay, trên thế giới, hai định nghĩa về LSNG của hai tổ chức trên vẫn được
dùng.
Tuy nhiên, để hạn chế đối tượng nghiên cứu, đánh giá giá trị kinh tế của
LSNG, cũng có những tác giả như Jenne H.De Beer, thêm vào định nghĩa trên
một mệnh đề thành một định nghĩa khác như sau: “Lâm sản ngoài gỗ bao gồm
những sản phẩm có nguồn gốc sinh vật không phải gỗ được người ta khai thác
từ rừng để sử dụng”. Định nghĩa hàm ý chỉ quan tâm đến sản phẩm được khai
thác để dùng.
Vậy có thể hiểu “Lâm sản ngoài gỗ là những sản phẩm không phải là gỗ
có nguồn gốc sinh vật, được khai thác từ rừng tự nhiên hay rừng trồng, có giá
trị nhiều mặt, góp phần phát triển kinh tế - xã hội”.
Về cơ bản LSNG có thể được phân thành 7 nhóm:
Những sản phẩm có sợi cho nguyên liệu thủ công, mỹ nghệ: như tre,
song mây, lá…
Nhóm lương thực, thực phẩm:
- Những thự phẩm có nguồn gốc thực vật như: măng, mộc nhĩ, rau lá, hoa
quả, hạt và các loại gia vị.
- Những loại có nguồn gốc từ động vật như: mật ong, thịt thú rừng, tổ
yến, các loại côn trùng ăn được…
Nhóm cây dược liệu và chất thơm.
rất quan trọng đối với đời sống con người. Với sự tiến hóa bền vững của xã
hội loài người thì mối đe dọa lớn nhất là sự suy giảm đa dạng loài dẫn đến rối
loạn cơ chế điều chỉnh chức năng hệ thống của chúng, khi đó phải cần đến
chức năng bảo tồn đa dạng sinh học rừng. Tiếp đến là chức năng môi sinh của
Trần Thị Bích Diệp Lớp: KTPT47B
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
rừng đã bảo vệ sự tồn tại của con người khỏi sự mất và suy giảm các yếu tố
cơ bản của sự sống như nước, không khí, khí hậu, đất đai. Còn với chức năng
phòng hộ, rừng đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo sự tự do, an toàn
về không gian sống của con người. Rừng còn nơi nghỉ mát, thư giãn đảm bảo
cho cuộc sống tinh thần của con người. Với chức năng kinh tế, rừng còn đảm
bảo cho mức sống của con người tránh khỏi mối đe dọa về suy giảm tiềm
năng và năng suất sản xuất dẫn đến đói nghèo.
1.2. Cách thức và hậu quả của nạn khai thác rừng bừa bãi
1.2.1. Cách thức khai thác rừng bừa bãi
1.2.1.1. Khai thác cây lấy gỗ, lâm sản khác bừa bãi, trái phép
Việc này xảy ra đối với cả các lâm trường thuộc phạm vi quản lý của nhà
nước. Khai thác cây gỗ trong các khu rừng sản xuất không có kĩ thuật, với
một cây gỗ lớn đước đốn phục vụ cho sản xuất thì rất nhiều cây con chưa đế
tuổi trưởng thành cũng bị gẫy nát, đè dẹp. Như thế việc khai thác hợp pháp
cũng góp phần vào việc tàn phá sức sống của rừng chưa cần kể đến việc khai
thác phi hợp pháp.
Đối với lâm tặc, buôn lậu gỗ, thì việc chặt được gỗ thu lợi nhuận trước
mắt là mục tiêu duy nhất của chúng, vì thế chúng thả sức đốn hạ cây rừng mà
không cần quan tâm hậu quả của những việc khai thác để lại. Từng cây gỗ
trong rừng bất kể ở độ tuổi nào đều bị đổ rạp khi những chiếc cưa máy đi qua.
Đặc biệt là đối với những người dân sống dựa vào rừng thì tình trạng khai
thác các lâm sản ngoài gỗ quá mức càng trở lên phổ biến hơn. Họ vào rừng
bắt thú, đào cây thuốc, chặt gỗ để bán, làm nhà, và mọi hoạt động của họ rất
Suy thoái rừng ở đây được hiểu là sự suy giảm chất lượng của rừng, trong
đó có sự suy giảm về tính năng thể hiện chức năng của rừng, với trực quan thì
ta có thể nhận thấy sự thu hẹp độ che phủ của rừng, và sự thưa thớt của các
Trần Thị Bích Diệp Lớp: KTPT47B
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
tán cây rừng một phần nào đó nó thể hiện sự suy thoái của rừng. Và giảm sự
đa dạng các loài động vật và thực vật có trong rừng. Khi đó cũng phải kể đến
sự xói mòn và bạc màu của đất rừng, vì đất rừng là nguồn nuôi dưỡng các cây
rừng, sinh vật rừng. Nếu đất tốt thì các sinh vật rừng có điều kiện sinh sôi,
phát triển, còn nếu đất xấu thiếu độ phì, hay bạc màu, cằn cỗi thì làm cho môi
trường sống của các sinh vật đó trở nên khắc nghiệt, đến một giới hạn nào đó
sẽ không thấy sự tồn tại của một số loài trên mảnh đất rừng đó nữa.
1.2.2.1. Gây ra lũ lụt, xói mòn, sạt lở đất và núi
Cây rừng bị khai thác một cách nhanh chóng không kịp tái tạo, giảm độ
che phủ rừng, làm tăng diện tích đất trống đồi trọc, đất rừng không được giữ
bởi các rễ cây như trước khi bị tàn phá. Khi diện tích của rừng bị thu hẹp, làm
giảm hiệu ứng điều tiết của cây cối và khả năng xảy ra tác động thiên nhiên sẽ
nhiều hơn. Các vụ xạt lở đất đá liên tục xảy ra ở các khu vực miền núi
Đặc biệt đối với rừng phòng hộ đầu nguồn, nơi giữ đất, chắn gió bão chắn
nước lũ ở các con sông lớn. Vì vậy việc giảm diện tích và chất lượng của loại
rừng này sẽ tác động nghiêm trọng đến thời tiết, khí hậu của một vùng, một
quốc gia.
1.2.2.2. Làm giảm nhiều loại động, thực vật rừng
Việc khai thác rừng ngày càng trở nên phổ biến và đa dạng dưới nhiều
hình thức khác nhau, không có sự quản lý chặt chẽ của các tổ chức nhà nước,
đồng thời do suy thoái môi trường sống, đặc biệt là việc mất rừng. Nên các
loại thực vật, đặc biệt là các loài thảo dược quý, và các loại động vật quý ngày
càng trở nên hiếm ở các khu rừng. Việc tìm kiếm các loại này ngày nay khó
khăn hơn rất nhiều so với trước kia.
tạo áp lực đối với quỹ đất canh tác vì nhu cầu đất sản xuất gia tăng và
từ đó làm cho việc phá rừng diễn ra ngày càng phức tạp.
Do quan niệm của nhiều người về những tác dụng thần kỳ của các lâm
Trần Thị Bích Diệp Lớp: KTPT47B
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
sản. Mỗi loại lâm sản quý có những tác dụng nhất định đối với đời
sống con người. Tuy nhiên, có những đồn thổi sai lệch về những tác
dụng thần kỳ của một số lâm sản. Từ đó, khiến cho làn sóng tiêu thụ
những sản phẩm này diễn ra mạnh mẽ. Cầu lớn, thu được nhiều lãi, thì
chắc chắn việc đẩy mạnh khai thác những loại lâm sản này cũng
không thể tránh khỏi.
Do sự tha hóa, buông lỏng quản lý, trách nhiệm của những người có
chức năng bảo vệ rừng. Lực lượng bảo vệ rừng còn mỏng kết hợp với
những khó khăn do khách quan tạo ra nên việc bảo vệ rừng chưa có
hiệu quả. Ngoài ra, cũng có không ít những cán bộ có chức năng đã
xuống cấp. Họ mắc ngoặc, hậu thuẫnn cho những kẻ phá rừng, buôn
lậu. Thậm chí lợi dụng chức quyền, chính họ đã tự tổ chức khai thác
rừng trái với quy định của nhà nước.
1.3. Lý thuyết về nghèo đói và giảm nghèo
1.3.1. Khái niệm về nghèo đói và chỉ tiêu đánh giá đói nghèo
1.3.1.1. Khái niệm nghèo đói, giảm nghèo
Dù do nguyên nhân nào gây ra, thì nghèo đói vẫn được định nghĩa là một
cuộc sống thiếu thu nhập hay tiêu dùng, dễ bị tổn thương và độ rủi ro cao,
không có quyền và không có tiếng nói trong xã hội (Ngân hàng thế giới 2001)
Xóa đói giảm nghèo có thể được định nghĩa là làm giảm đi những thiếu
thốn trong cuộc sống của con người
1.3.1.2. Chỉ tiêu đánh giá đói nghèo – Tỷ lệ nghèo
Tỷ lệ nghèo: phản ánh quy mô đói nghèo (diện nghèo) của một quốc gia
hay một khu vực nào đó. Nó được tính theo công thức:
lũ chính là nạn phá rừng, nó đã làm giảm đi tính năng của rừng trong
Trần Thị Bích Diệp Lớp: KTPT47B
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
việc phòng hộ các thiên tai. Chính vì vậy mà số lượng và mức độ trầm
trọng của các vũ bão, lũ lụt cũng tỷ lệ thuận với số lượng và chất
lượng rừng bị thu hẹp. Trung bình 10 cơn bão, lụt một năm và một số
sự cố thời tiết khác đã là nguyên nhân cơ bản làm cho hàng triệu
người thiếu đói hàng năm. Vì bão, lũ có thể cướp trắng vụ mùa chưa
kịp thu hoạch của người nông dân, nhà cửa và cả tính mạng cũng có
thể bị cuốn trôi theo nước lũ. Chính vì vậy, vô hình chung nguyên
nhân sâu xa làm cho hàng triệu người túng thiếu ở đây chính là tình
trạng khai thác rừng bừa bãi làm suy kiệt chức năng chắn lũ lụt, gió
bão của rừng.
1.3.2.2. Nhóm nguyên nhân chủ quan
Như dân số tăng, thiếu kiến thức làm ăn, thiếu vốn, thiếu lao động, không
có việc làm…
Không có việc làm và thiếu tính đa dạng hóa nghề nghiệp.Việc làm là
nguồn tạo ra thu nhập cho cá nhân và hộ gia đình, vì vậy đặc điểm của việc đó
nó cũng quyết đinh mức và tính ổn định của thu nhập. Thông thường người dễ
rơi vào tình trạng nghèo đói là những người không có việc làm hay tính chất
của công việc không ổn định, có tính rủi ro cao. Thêm vào đó, nguồn thu duy
nhất của họ là dựa vào một nghề, một việc thì tính chất bất ổn của thu nhập
càng gia tăng.
Lại nói đến những người sống gần rừng, rừng gắn liền với cuộc sống của
họ, đặc biệt đối với những hộ không có hoặc đất canh tác nông nghiệp, thì
nguồn thu nhập chính phục vụ cho chi tiêu hàng ngày của họ phụ thuộc chủ
yếu vào việc khai thác, hái lượm lâm sản. họ có thể đi làm thuê cho các lâm
trường, các tổ chức khai thác gỗ cả hợp pháp và bất hợp pháp, hoặc tự vào
rừng thu lượm lâm sản phục vụ cho chính bản thân và gia đình. Nhưng nếu
liệu sinh hoạt hàng ngày cho những người miền xuôi lên mua hay
Trần Thị Bích Diệp Lớp: KTPT47B
15
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
những vùng miền lân cận. Cho nên khi rừng bị mất đồng nghĩa với
việc nguồn sinh kế của họ cũng không còn được bảo đảm. Trường hợp
này gắn liền với định nghĩa tránh nghèo hoặc giảm nghèo trong 2
Phương thức giảm nghèo dựa vào rừng của FAO (trình bày ở phấn
1.4)
Thiên tai bão lũ, xạt lở đất luôn đe dọa đến tính mạng của người dân
sống gần rừng, ảnh hưởng đến lực lượng lao động chính, tài sản vốn ít
ỏi.
Do khả năng điều tiết của cây rừng cũng giảm theo lượng đã mất, nên
hiểm họa thiên nhiên luôn đe dọa đời sống của người dân không chỉ với
những người sống gần rừng mà cả những người sống xa rừng. Lũ lụt, hạn hán
làm xáo trộn cuộc sống sinh hoạt của người dân. Đặc biệt là ở nông thôn., sau
mỗi đợt bão lũ kéo về, hoa màu, vật nuôi hoặc có thể bị mất trắng hoặc là bị
thiệt hại nặng nề. Mà nông dân sống chủ yếu dựa vào nông nghiêp thông qua
trồng trọt và chăn nuôi. Như vậy, ho sẽ rơi vào cảnh nghèo đói thiếu lương
thực không đảm bảo cho cuộc sống vào thời gian trước mắt.
Hay đối với những người sống gần rừng, dân tộc thiểu số, ngoài việc tạo
thu nhập bằng việc thu lượm các lâm sản thì cũng có phần đông người dân
tham gia sản xuất nông, lâm nghiệp. Họ thường sống ở các vùng cao hay
thung lũng nhưng cũng không thể tránh được các hiểm họa của thiên nhiên.
Diện tích đất canh tác nông nghiệp cũng bị thu hẹp dần do các vụ xạt lở đất
gây ra. Hay đất cát bị rửa trôi độ màu mỡ cũng gây khó khăn cho người nông
dân trong trồng trọt. từ việc thiếu đất canh tác cùng với việc đất đai bị cằn cỗi
cũng đã làm cho người dân ở đây gặp khó khăn cho việc tạo nguồn thu cho
cuôc sống.
Chưa kể đến việc những thiên tai xảy ra còn đe dọa tính mạng của người
đói nghèo bằng cách đóng vai trò như một nguồn tiết kiệm, đầu tư,
Trần Thị Bích Diệp Lớp: KTPT47B
17
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
tích lũy, đa dạng sinh kế, tăng thu nhập cố định và chất lượng cuộc
sống.
1.4.2. Các phương thức giảm nghèo và cải thiện sinh kế dựa vào rừng
Chuyển đổi rừng sang sản xuất nông nghiêp: ít được coi là một trong
những đường lối chính trong công tác giảm nhèo dựa vào rừng.
Phương thức này nhằm chuyển đổi đất rừng để mở rộng hoạt động sản
xuất nông nghiệp, đồng thời tạo điều kiện tiếp cận với các sản phẩm
gỗ.
Phương thức giảm nghèo dựa vào gỗ: Giá trị gỗ thương mại hàng năm
ở các nước đang phát triển rất cao. Vì vậy giảm nghèo nên được đầu
tư nhiều hơn từ nguồn lợi này.
Các lâm sản ngoài gỗ: lâm sản ngoài gỗ có thể coi là một lưới an toàn
cho những người sống dựa vào rừng, có ghĩa là lâm sản ngoài gỗ có
thể giúp họ đối phó với những giai đoạn thiếu thốn. Nếu nguồn lợi này
được quản lý tốt thì người dân có thể dựa vào chúng mà vươn lên làm
giàu.
Dịch vụ môi trường: rừng cung cấp nhiều hình thái dịch vụ trực tiếp về
môi trường cho những người dân sống gần rừng, bao gồm: khôi phục
độ màu mỡ của đất trong nông nghiệp luân canh, duy trì lượng nước
và bảo vệ chất lượng nước, cung cấp cỏ chăn nuôi gia súc, thụ phấn
cho thực vật, kiềm chế sâu cỏ và duy trì đa dạng sinh học bao gồm cả
duy trì giống cây cho nông nghiệp. Những dịch vụ môi trường này có
liên quan trực tiếp đến định nghĩa tránh hoặc giảm thiểu nghèo của
phương thức xóa đói giảm nghèo dựa vào rừng. Những người sống
gần rừng có thể được hưởng lợi từ nguồn thu nhập có được do người
sống xa rừng chi trả cho việc duy trì các dịch vụ rừng này.
Trần Thị Bích Diệp Lớp: KTPT47B
19
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
2.1.1.1. Địa hình và khí hậu
Địa hình vùng MNPB bị chia cắt mạnh bởi ảnh hưởng của các dãy núi
lớn, đặc biệt là dãy Hoàng Liên Sơn. Đây cũng là dãy núi chia cắt MNPB
thành hai tiểu vùng Tây Bắc và Đông Bắc với đặc điểm khí hậu khác nhau.
Địa hình của Tây Bắc có nhiều núi cao, cao nguyên và nhiều thung lũng
hiểm trở. Trung tâm của vùng là một hệ thống cao nguyên núi đá vôi và núi
đất chạy từ Tây Bắc xuống Đông Nam dọc theo sông Đà. Tây Bắc nằm trong
vùng khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, với số giờ nắng cao và ít chịu ảnh hưởng
trưc tiếp của các cơn bão mùa hè cũng như các đợt gió mùa Đông Bắc vào
mùa đông.
Đông bắc có địa hình chủ yếu là đồi núi thấp, có nhiều thung lũng. Các
dãy núi có độ cao khá đồng đều khoảng từ 1000 – 1500 m được hình thành từ
các loại đá khá phổ biến như diệp thạch, sa thạch, đá vôi. Đông Bắc nằm
trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng trực tiếp của gió mùa
Đông Bắc.
2.1.1.2. Tài nguyên
MNPB là vùng giàu có tài nguyên bậc nhất cả nước. Trước hết phải kể
đến đất đai. Theo thống kê năm 2001, tổng quỹ đất nông lâm nghiệp là
5.187.400 ha, chiếm 24,4% tổng diện tích đất nông lâm nghiệp của cả nước.
Trong đó, đất nông nghiệp khoảng 1.315.000 ha, đất lâm nghiệp khoảng
3.872.400 ha. Theo đánh giá của các nhà khoa hoc, đất đai vùng miền núi
phía Bắc không xấu, có khả năng phát triển sản xuất, đặc biệt là sản xuất lâm
nghiệp
Vùng MNPB còn là vùng có tài nguyên khoáng sản có trữ lượng lớn và
tương đối đa dạng. Bên cạnh đó, vùng còn có nguồn tài nguyên về sinh thái,
nhân văn đa dạng, giàu bản sắc cộng đồng, các dân tộc thiểu số sinh sống trên
vùng đất này.
Trần Thị Bích Diệp Lớp: KTPT47B
21
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Tổng cộng
3.923.05
4
4.163.87
4
4.307.83
2
4.505.55
5
4.644.82
7 4.742.034
Rừng TN 3.190.523 3.349.705 3.449.505 3.598.715 3.660.562 3.701.235
Rừng trồng 732.531 814.169 858.327 906.840 984.310 1.040.799
Nguồn: Cục Lâm nghiệp
Qua bảng 1, cho thấy diện tích rừng ở miền núi phía Bắc chủ yếu là rừng
tự nhiên. Tuy nhiên, diện tích hai loại rừng tự nhiên và rừng trồng đều được
cải thiện qua các năm. Tuy nhiên theo các cuộc nghiên cứu gần đây cho thấy
diện tích rừng tăng lên chủ yếu là do việc trồng rừng, nên chất lượng rừng vẫn
còn thấp, tính đa dạng không cao như trước kia.
Gỗ
Gỗ ở các khu rừng MNPB cho giá trị kinh tế cao với các loại gỗ quý như
trò chỉ, gỗ nghiến,…
Theo nhận định sau các cuộc khảo sát rừng của các cơ quan chức năng
cho rằng rừng ở MNPB tuy tăng về diện tích qua các năm nhưng chất lượng
rừng vẫn còn suy yếu, không đa dạng về các loài lâm sản, do việc trồng rừng
chủ yếu tập trung trồng thuần một loại cây chủ yếu là cây nhập nội. Vì thế mà
trữ lượng rừng sau khi trồng không thể bằng trữ lượng của rừng tự nhiên.
LSNG ở các tỉnh MNPB. Tuy nhiên, theo thống kê năm 2004 cho thấy diện
tích rừng có thể khai thác, thu hái LSNG ở các tiểu vùng của MNPB, được thể
hiện ở bảng dưới đây.
Bảng 2.3: Diện tích rừng có khả năng khai thác, thu hái LSNG
Đơn vị: ha
LSNG
Tây Bắc Đông Bắc Cả vùng
RT RTN RT RTN RT RTN
Tre nứa, lồ
ô
51.186 74.644 125.830
Cây thuốc 6400 6400
Trám 3.663 5.000 3.663 5.000
Thông
nhựa
730 114.866 5.000 115.596 5.000
Luồng 18.735 27.000 45.735
Thảo quả 1.582 2.680 4262
Hồi, quế 80.300 80.300
Trần Thị Bích Diệp Lớp: KTPT47B
23
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Trẩu 1500 71 1.571
Song mây 40 550 590
Tre măng 935 935
Loại khác 250 200 3.841 150 4091 350
Tổng cộng 22.837 51386 233.906 91.194 256.743 142.580
Nguồn: Kế hoạch hành động bảo tồn và phát triển LSNG 8/2007
LSNG được thống kê ở bảng trên chủ yếu thuộc loại sợi cho nguyên liệu
thủ công mỹ nghệ, dược liệu. Có thể thấy được tình trạng suy giảm trữ lượng
Dưới đây là bảng số liệu dẫn chứng về diện tích rừng bị chặt phá qua các
năm ở miền núi phía Bắc
Bảng 2.4: Diện tích rừng bị chặt phá ở MNPB
Đơn vị: ha
Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007
Toàn vùng 332,5 218,2 239,2 199,5 208,2 238,5 239,4 204,6
Tây Bắc 266,7 156,5 194,0 98,8 123,9 143,2 208,1 170,0
Đông Bắc 65,8 61,7 45,2 100,7 84,3 95,3 31,3 34,6
Nguồn: Cục Kiểm Lâm.
Diện tích rừng bị chặt phá tăng giảm theo từng giai đoạn, xét tổng thể
toàn miền núi phía Bắc, năm 2003 là năm được cho là diện tích rừng bị tàn
phá ít nhất với 199,5 ha, còn rừng bị chặt phá nhiều nhất vào năm 2000 với
332,5 ha rừng. Các năm còn lại tuy có xu hướng giảm so với năm 2000 nhưng
vẫn giữ ở mức tương đối.
Xét ở từng tiểu vùng của miền núi phía Bắc, Tây Bắc có diện tích rừng
nhỏ hơn vùng Đông Bắc rất nhiều nhưng diện tích rừng bị mất ở vùng này lại
lớn hơn Đông Bắc. Trừ năm 2003 thì các năm còn lại có diện tích rừng bị chặt
phá ở Tây Bắc luôn gấp 3-5 lần Đông Bắc. Điều này chứng tỏ hoạt động khai
thác và tàn phá rừng ở đây diễn ra mạnh mẽ hơn cả.
Theo thống kê của Cục Kiểm Lâm năm 2008, đối tượng vi phạm chính
trong việc khai thác rừng bừa bãi ở các miền núi phía Bắc chủ yếu là hộ gia
Trần Thị Bích Diệp Lớp: KTPT47B
25