BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN VÙNG BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI CẤP BỘ NGHIÊN CỨU VÀ ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP ĐẢM BẢO
TÍNH BỀN VỮNG CỦA CÔNG TÁC CHUYỂN GIAO TIẾN BỘ
KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG NÔNG NGHIỆP
CÁC TỈNH MIỀN NÚI PHÍA BẮC Chủ nhiệm đề tài: KS. TRẦN ANH TUẤN
60% tổng số các hộ nghèo sống ở các tỉnh trong vùng miền núi phía Bắc. Quá
75% số người nghèo là đồng bào dân tộc thiể
u số (Báo cáo của UNDP năm
2006). Nông nghiệp và nông thôn ở đây chưa thực sự phát triển xứng với tiềm
năng. Năng suất cây trồng và vật nuôi thấp, sản xuất nông nghiệp không ổn
định, tài nguyên rừng bị giảm cấp và ngày càng kiệt quệ. Tình hình trên đe dọa
sự phát triển bền vững nông nghiệp và nông thôn không những ở miền núi và
đồng bằng.
Có nhiều tiến bộ khoa học và công nghệ (TBKHCN) trong nông nghiệp
đã
được chuyển giao tới nông dân thông qua các chương trình, dự án, các tổ chức
quốc tế và các tổ chức phi chính phủ tiến hành. Tuy vậy, hiệu quả của công tác
chuyển giao TBKHCN trong nông nghiệp còn bị hạn chế do chúng ta chưa có
những biện pháp phù hợp và còn nhiều bất cập trong phương thức chuyển giao.
Công tác chuyển giao TBKHCN trong nông nghiệp còn nặng đưa từ trên xuống,
chưa phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh kinh tế xã hội, t
ập quán và nhu cầu của
nông dân và cộng đồng. Chưa gắn chặt giữa việc chuyển giao với thị trường tiêu
thụ sản phẩm. Công tác chuyển giao chưa huy động được sự tham gia có hiệu
quả của nông dân và cộng đồng và vì thế, các TBKHCN trong chuyển giao
thường kém bền vững.
Từ trước đến nay, có rất nhiều nghiên cứu về chuyển giao TBKHCN trong
nông nghiệp. Tuy nhiên, có rất ít nghiên cứu về biện pháp nhằm chuyể
n giao
TBKHCN trong nông nghiệp một cách bền vững được tiến hành. Xuất phát từ
những đòi hỏi thực tiễn đó, đề tài: “Nghiên cứu và đề xuất các biện pháp đảm
bảo tính bền vững của công tác chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ
trong nông nghiệp các tỉnh miền núi phía Bắc" được thực hiện theo Quyết
định số 1042/QĐ-BKHCN ngày 15 tháng 06 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Khoa
học và Công nghệ
ngoài nước từ các nguồn hiện có (lưu trữ và trên mạng,…), phân tích,
đánh giá, rút ra những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu, giải quyết.
- Nghiên cứu, thẩm định, phân tích số liệu đ
ã thu thập khi điều tra, khảo
sát thực tiễn; so sánh giữa thực tiễn và văn bản hiện hành, tìm hiểu
nguyên nhân và đề xuất khuyến nghị.
- Hội thảo lấy ý kiến chuyên gia để hoàn thiện đề xuất, khuyến nghị.
Trước thời điểm đề tài này được xác lập, các nghiên cứu về chuyển giao
tiến bộ khoa học và công nghệ trong nông nghiệp đã được tiến hành ở Việ
t Nam
một cách có hệ thống, bởi những nhóm tác giả uyên bác và giàu kinh nghiệm:
• Những nghiên cứu của PGS.TS Đỗ Kim Chung được tổng kết trong cuốn sách
"Chính sách và phương thức chuyển giao kỹ thuật tiến bộ trong nông
nghiệp ở miền núi và trung du phía Bắc Việt Nam", xuất bản năm 2005.
• Những nghiên cứu của nhóm tác giả Viện Chiến lược và Chính sách Khoa
học và Công nghệ do KS. Nguyễn Văn Phú chủ trì, trong khuôn khổ đề tài:
"Nghiên c
ứu đánh giá phương thức tổ chức chuyển giao công nghệ
trong sản xuất nông nghiệp", tổng kết tháng 4 năm 2004.
• Những nghiên cứu của nhóm tác giả Viện Dân tộc do TS. Phan Văn Hùng
chủ trì, trong khuôn khổ dự án: "Điều tra, đánh giá một số hoạt động
chuyển giao tiến bộ khoa học – kỹ thuật và công nghệ trong quá trình phát
triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiếu số và miền núi", tổ
ng kết tháng 12
năm 2007.
Các khuyến nghị.
Việc định hướng nghiên cứu và trình bày các kết quả đạt được của đề tài đều
dựa trên một triết lý đơn giản là: chúng tôi muốn chia sẻ những trăn trở của người
chuyển giao và người được chuyển giao là làm thế nào để việc chuyển giao
TBKHCN được hiệu quả và góp phần phát triển nông thôn một cách bền vững
Nhóm nghiên cứu nhận thấy rằng, sau rất nhiều nỗ lực, chúng tôi vẫn không
thể vượt qua những hạn chế, những thiếu sót trong kết quả nghiên cứu này. Vấn
đề
nghiên cứu là rất rộng và cũng rất khó. Chúng tôi mong muốn nhận được những ý
kiến phê bình, góp ý từ phía độc giả với sự trân trọng và biết ơn.
Hà Nội, ngày 28 tháng 6 năm 2009
Nhóm nghiên cứu
TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN VÙNG
- 5 -
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ
nghệ vũ trụ, v.v lại là kết quả trực tiếp của vận dụng các thành quả của hoạt
động nghiên cứu cơ bản.
Tuy mối quan hệ giữa khoa học và công nghệ hết sức gắ
n bó, nhưng giữa
chúng cũng có những khác biệt quan trọng:
Một là, nếu như các tri thức khoa học có thể được phổ biến không hạn chế, thì
công nghệ lại là một thứ hàng dùng để mua bán với các yếu tố sở hữu và giá cả.
Hai là, trong khi các hoạt động khoa học thường được giá bằng các thước
đo trực cảm thì thước đo đối với công nghệ lại là phần đóng góp cụ thể
đối với
việc giải quyếtcác mục tiêu kinh tế xã hội.
Ba là, các hoạt động khoa học thường đòi hỏi phỉ có một khoảng thời gian
giải quyết dài với các yếu tố bất định khá lớn, ngược lại, đối với hoạt động công
nghệ thời gian giải quyết thường ngắn hơn.
1.2 – Khái niệm về chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ
Khái niệm về
chuyển giao công nghệ (CGCN) đã xuất hiện ở nhiều nước
trên thế giới trong thế kỷ 20. Dưới đây xin trích dẫn một số định nghĩa về
chuyển giao công nghệ của các cơ quan, tổ chức từ nhiều góc nhìn khác nhau:
Định nghĩa 1. CGCN được định nghĩa trong Dự thảo luật quốc tế về thực
hiện CGCN là: chuyển giao một hệ thống kiến thức để
tạo ra một sản phẩm, để
- 7 -
áp dụng một quy trình hay để cung cấp dịch vụ; khái niệm này không bao trùm
các giao dịch chỉ đơn thuần là bán và cho thuê hàng hóa
1
.
Định nghĩa 2. CGCN có nghĩa là việc tiếp nhận công nghệ nước ngoài và
là một quá trình vật lý (trí tuệ), một quá trình đi kèm với việc huấn luyện toàn
CGCN có thể diễn ra:
- Từ một ngành công nghiệp sang một ngành khác.
- Từ một tổ chức này sang một tổ chức khác.
- Ở quy mô quốc tế.
- Giữa hai nước phát triển.
- Giữa hai nước đang phát triển.
- Giữa một nướ
c phát triển và đang phát triển.
(Theo Nawaz Sharif, Quản lý chuyển giao và phát triển công nghệ - APCTT, 1983).
1
Water Goode: Từ điển chính sách thương mại quốc tế. Trung tâm nghiên cứu kinh tế quốc tế - Đại học
Adelaide, NXB Thống kê 1995.
2
Ủy ban kinh tế - xã hội châu Á – Thái Bình Dương: Hỏi đáp về CGCN nước ngoài, đàm phán và ký kết hợp
đồng, Hà nội 1999.
3
Từ điển kinh tế, tài chính, kế toán Anh Pháp Việt, NXB KHKT – 2001.
4
Từ điển Bách khoa Việt Nam tập I, năm 1995.
- 8 -
Định nghĩa 7. Chuyển giao công nghệ là chuyển giao quyền sở hữu hoặc
quyền sử dụng một phần hoặc toàn bộ công nghệ từ bên có quyền chuyển giao
sang bên nhận công nghệ. (Luật chuyển giao công nghệ – Quốc hội khoá XI –
Số 80/2006 QH II ngày 29-11-2006).
Trong sản xuất và đời sống, các cụm từ “công nghệ” và “kỹ thuật” hay
được dùng khá phổ biến. Theo nghĩa hẹp, “kỹ thuật” thường được hiể
u là các
n giao TBKHCN” trình bày trong nghiên cứu này chủ yếu là
giai đoạn thứ ba của việc chuyển giao công nghệ.
TBKHCN trong nông nghiệp là những kỹ thuật được khẳng định là phù
hợp và khả thi về sinh thái, kinh tế xã hội trên đồng ruộng của người dân, góp
phần nâng cao hơn hiệu quả sử dụng nguồn lực trong nông nghiệp, tạo điều kiện
phát triển bền vững về kinh tế, xã hội và môi trường cho nông nghiệp và nông
thôn. Tính t
ừ “tiến bộ” ở đây thể hiện sự “tốt hơn” và “mới hơn” so với những gì
hiện có. TBKHCN góp phần nâng cao năng suất, hiệu quả sản xuất kinh doanh và
cải thiện đời sống của nông dân và cư dân nông thôn. Khoa học và công nghệ
- 9 -
mang tính “tiến bộ” phải phù hợp với nhu cầu địa bàn chuyển giao. Theo tác giả
Bùi Mạnh Hải và Nguyễn Văn Thu (năm 2002), khi xem xét khả năng ứng dụng
và phổ cập một TBKHCN vào thực tiễn, cần phải tính toán đến “sức đẩy của công
nghệ” và “sức kéo nhu cầu” của công nghệ đó. Sự phổ cập của một TBKHCN
phụ thuộc rất nhiều vào “sức kéo của nhu cầu”. Vì thế, v
ẫn theo hai tác giả trên
khi lựa chọn TBKHCN để chuyển giao cần không những xem xét “tính tiến bộ”
mà quan trọng hơn phải làm rõ được “nhu cầu” thật của địa bàn sẽ tiếp thu công
nghệ. TBKHCN là khái niệm chỉ mang tính tương đối, TBKHCN có thể mới với
cộng đồng nông dân này, vùng này mà có thể là không “mới” với cộng động nông
dân khác, vùng khác. TBKHCN có thể là sản phẩm của cơ quan nghiên cứu và
chuyển giao, cũng có thể là kết quả của quá trình t
ự đánh giá, lựa chọn và đổi mới
của nông dân cho phù hợp hơn với nhu cầu sản xuất và đời sống của họ. Chuyển
giao TBKHCN trong nông nghiệp là quá trình giúp nông dân áp dụng được các
TBKHCN để giải quyết được các khó khăn trong nông nghiệp và nâng cao đời
sống, lợi ích của nông dân.
1.3 – Khái niệm về “tính bền vững” của chuyển giao TBKHCN
- 10 -
vững về kinh tế sẽ bị đe doạ nếu cả mức cung và mức cầu đều giảm, dẫn đến phá
vỡ sự bền vững nếu như cân bằng giữa lợi ích và chi phí không đạt được.
Khi bàn tới “tính bền vững” của chuyển giao TBKHCN người ta thường
cân nhắc trên cả hai giác độ:
Một là, công nghệ chuyển giao phải “phù hợp” với mục tiêu ưu tiên của
địa bàn ứng d
ụng.
Hai là, công nghệ chuyển giao phải phù hợp với “điều kiện tiếp thu” của
địa bàn nói chung và người dân nói riêng.
1.4 – Mục đích của chuyển giao TBKHCN
Công tác chuyển giao TBKHCN nhằm giúp nông dân tự giải quyết các
vấn đề của gia đình và cộng đồng nhằm đẩy mạnh sản xuất, nâng cao đời sống
và dân trí, góp phần xây dựng và phát triển nông thôn mới thông qua áp dụng
thành công TBKHCN bao gồm cả những kiến thức và kỹ năng qu
ản lý, thông tin
và thị trường, các chủ trương chính sách và nông nghiệp – nông thôn – nông
dân. Chuyển giao TBKHCN còn phải giúp nông dân liên kết lại với nhau để
phòng và chống thiên tai, tiêu thụ sản phẩm, phát triển ngành nghề, xúc tiến
thương mại, giúp nông dân tự phát triển khả năng quản lý điều hành và tổ chức
các hoạt động xã hội nông thôn ngày càng tốt hơn. Như vậy, mục đích của
chuyển giao TBKHCN là:
- Đẩy mạnh sản xuất hàng hoá một cách bền v
ững, góp phần xây dựng
nông nghiệp – nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
- Nâng cao thu nhập của nông dân, giúp nông dân giải quyết và đáp ứng
được các nhu cầu cơ bản của họ, thực hiện việc xoá đói giảm nghèo.
- Nâng cao dân trí trong nông thôn.
- Phát hiện các vấn đề mới nẩy sinh, thẩm định các kết quả nghiên cứu để
hình thành các chiến lược nghiên cứu. Công tác chuyển giao TBKHCN chỉ có
Để thực hiện việc chuyển giao TBKHCN các phương thức này đều phải
thực hiện cách tiếp cận giống nhau đố
i với người nông dân và người sản xuất.
Những cách tiếp cận bao gồm:
+ Xây dựng mô hình để tiếp cận: chuyển giao, trình diễn, lan rộng
+ Huấn luyện kỹ thuật cho nông dân và người sản xuất là một trong những
cách tốt nhất để tạo cơ hội cho họ tiếp cận với tiến bộ kỹ thuật.
+ Tiếp cận qua thăm hỏi nông dân và người sản xuất ở đồ
ng ruộng,
chuồng trại, cơ sở sản xuất hoặc qua câu lạc bộ khuyến nông, các nhóm cùng sở
thích. Đó là cách tiếp cận trực tiếp. Cũng có thể tiếp cận với người nông dân và
người sản xuất thông qua điện thoại trao đổi, viết thư cá nhân hoặc sử dụng các
phương tiện thông tin công cộng để trả lời hay hướng dẫn. Đó là cách tiếp cận
gián tiếp.
+ S
ử dụng phương tiện nghe, nhìn để nông dân và người sản xuất tiếp cận
thực hiện phương thức chuyển giao TBKHCN.
+ Thông tin, quảng bá qua các tài liệu, ấn phẩm, áp phích…
Vì các phương thức chuyển giao TBKHCN đều áp dụng cách tiếp cận
phổ biến là: xây dựng mô hình, tổ chức huấn luyện, thực hiện tuyên truyền
quảng bá cho nên nhiều khi người ta cho cách tiếp cận này là phương thức
chuyển giao TBKHCN.
2.2 - Các phương thức chuyển giao công ngh
ệ đang được áp dụng
2.2.1 - Phương thức dự án, chương trình (The project approach)
Phương thức chuyển giao tiến bộ kỹ thuật và công nghệ theo dự án có
mục tiêu, biện pháp đồng bộ được ứng dụng rộng rãi cho nhiều lĩnh vực kinh tế-
xã hội. Trong đó, được xác định mục tiêu chung có tính lâu dài và mục tiêu cụ
thể cần đạt được khi kết thúc dự án. Vì vậy, dự án thường có kinh phí thực hiện.
V
thức chính thống bởi tính hiệu quả và s
ự bền vững của nó. Phương thức này
được FAO khuyến khích áp dụng. Chương trình xây dựng mô hình chuyển giao
công nghệ phục vụ phát triển kinh tế – xã hội nông thôn miền núi trong thời gian
1998 - 2002 có hàng vạn hộ nông dân tham gia là một chứng minh cụ thể cho
việc ứng dụng phương thức này.
Mục tiêu của phương thức chuyển giao TBKHCN có người dân tham gia
là tạo ra sự bền vững cho những tiến bộ kỹ thuật được áp dụng trong s
ản xuất và
đáp ứng yêu cầu của người sản xuất.
Địa bàn áp dụng phương thức này ở tất cả mọi nơi khi nông dân và người
sản xuất có yêu cầu.
Đối tượng áp dụng phương thức chuyển tiến bộ kỹ thuật và giao công
nghệ có người dân tham gia là nông dân và người sản xuất. áp dụng phương
thức này người dân tham gia được bảo đảm sự dân chủ và bình đẳng khi lựa
chọ
n tiến bộ, kỹ thuật và công nghệ không bị áp đặt bởi các cơ quan của Nhà
nước, của các đơn vị nghiên cứu khoa học và của doanh nghiệp. Người dân tham
- 13 -
gia thảo luận quy hoạch và xây dựng kế hoạch, nội dung và phương thức chuyển
giao công nghệ.
Về lực lượng thực hiện phương thức chuyển giao TBKHCN này rất rộng
rãi bao gồm người dân và cán bộ kỹ thuật.
Điều kiện để thực hiện là phải có phương thức vận động quần chúng tốt
thì mới có người dân tham gia. Muốn vậy người cán bộ kỹ thuật phải bi
ết vận
động, chứng minh, thuyết phục và giúp đỡ nông dân và người sản xuất áp dụng
TBKHCN. Mặt khác phải lựa chọn các hoạt động chuyển giao TBKHCN có
người dân tham gia là không tốn kém, tạo được sự bền vững và dễ dàng khi mở
2.2.4 - Phương thức chuyển giao công nghệ theo huấn luyện và thăm
hỏi (The Training and Visit approach - T and V):
Đây là một trong những phương thức chuyển giao TBKHCN được áp
dụng phổ biến ở nước ta. Nông dân vốn là người thực hiện cho nên đối với tiến
- 14 -
bộ kỹ thuật họ mong muốn “trăm nghe không bằng một thấy” cho nên cách tốt
nhất là xây dựng mô hình trình diễn để nông dân và người sản xuất được thăm
quan, huấn luyện tại chỗ từ đó thuyết phục để họ làm theo.
Mục đích của phương thức chuyển giao TBKHCN theo huấn luyện và thăm
hỏi là nhằm nâng cao năng lực cho nông dân và người sản xuất.
Địa bàn áp dụng phương th
ức này được thực hiện rộng rãi nhất là những
vùng sâu, vùng xa, vùng còn nhiều khó khăn.
Đối tượng áp dụng là người nông dân và người sản xuất.
Điều kiện để thực hiện cần đảm bảo các yêu cầu:
+ Có đội ngũ cán bộ kỹ thuật chuyên môn giỏi.
+ Có kinh phí để thực hiện đào tạo.
+ Công việc đào tạo huấn luyện phải đều đặn, liên tục.
Về huấn luy
ện:
Mục đích cuối cùng là huấn luyện nông dân và người sản xuất có khả
năng tự giải quyết công việc của bản thân, gia đình, cộng đồng của họ.
Người thực hiện huấn luyện cho nông dân và người sản xuất là những cán
bộ kỹ thuật các cấp. Vì vậy họ phải được đào tạo có bài bản về chuyên môn và
phương thức chuyển giao TBKHCN để họ có kh
ả năng giúp đỡ và huấn luyện
cho nông dân.
Về thăm hỏi:
Cán bộ kỹ thuật ở các cấp nhất là ở cơ sở phải có lịch tiếp xúc trao đổi
dân và người sản xuất là để đạt mục tiêu của Nhà nước và người sản xuất đều
mong muốn. Đây là cách chuyển giao TBKHCN theo phương châm Nhà nước
và nhân dân cùng làm.
Những nơi quá nghèo, Nhà nước hỗ trợ đầu tư một phần và trả lương cho
cán bộ đến địa phương làm vi
ệc, thực hiện chuyển giao TBKHCN cho nông dân
và người sản xuất. Địa phương bỏ một phần kinh phí chủ yếu giá trị được tính từ
đóng góp công, đất đai, chuồng trại và các vật tư địa phương đã có cũng như
việc bố trí nhà ở, văn phòng làm việc cho cán bộ kỹ thuật, có nơi còn cung cấp
lương thực thực phẩm cho cán bộ kỹ thuật khi họ ở địa ph
ương để thực hiện
nhiệm vụ xây dựng mô hình chuyển giao TBKHCN.
Chương trình nông thôn - miền núi trong thời gian 1998 - 2002 đã hỗ trợ
các tỉnh 131.095 triệu đồng bằng 42% so với tổng đầu tư 313.437 triệu đồng
(các nguồn vốn khác huy động từ ngân sách địa phương, đóng góp của nhân
dân, vốn các doanh nghiệp, vốn vay ngân hàng ) đã thể hiện rõ việc thực hiện
phương thức chuyển giao công nghệ theo cùng chia sẻ phí tổn vớ
i người dân.
Hiện nay chương trình khuyến nông, khuyến ngư quốc gia đang thực hiện hỗ trợ
từ nguồn ngân sách bằng 60% kinh phí đầu tư đối với mô hình thực hiện ở các
tỉnh miền núi, những vùng khó khăn và 40% đối với các tỉnh đồng bằng phần
còn lại do dân đóng góp nhằm huy động nguồn nhân lực tại chỗ và tăng cường
trách nhiệm của người dân thông qua đóng góp đối vớ
i tiến bộ kỹ thuật họ được
chuyển giao và tiếp nhận.
Địa bàn thực hiện phương thức này ở những nơi dân có yêu cầu được tiếp
nhận tiến bộ kỹ thuật và ở những nơi triển khai các mô hình, dự án chuyển giao
TBKHCN.
Đối tượng áp dụng chuyển giao TBKHCN theo phương thức cùng chia sẻ
phí tổn đối với tất cả mọi nông dân và người sản xuất. Tuy nhiên ở nh
Địa bàn áp dụng chuyển giao TBKHCN theo phương thức chung được áp
dụng ở những nơi thực hiện chương trình Quốc gia.
Đối tượng áp dụng cho tất cả người dân được hưởng lợi chương trình quốc
gia, ví dụ như chương trình nước sạch nông thôn.
Lực lượng tham gia thu hút đông đảo cán bộ nhiều ngành, nhiều cấp
không đơn thuần chỉ là cán bộ kỹ thuật.
Điều kiện áp dụng chuyển giao là phải có kinh phí và cán bộ.
Ưu điểm của phương thức này là nhanh chóng đạt mục tiêu vì bản thân nó
được thực hiện có các biện pháp đồng bộ kèm theo.
Nhược điểm nói chung là tốn kém, nếu quản lý không tốt còn có thể gây
ra sự lãng phí về tài chính và đôi khi không phát huy nguồn lự
c tại chỗ.
2.2.7 - Phương thức chuyển giao TBKHCN theo hệ thống phát triển
nông nghiệp (The Farming systems Development - FSD).
Phương thức chuyển giao TBKHCN theo hệ thống phát triển nông nghiệp
cho thấy một số tiến bộ kỹ thuật nào đấy muốn được người dân áp dụng phải xem
xét đến tính hệ thống hay mối quan hệ của tiến bộ kỹ thuật ấy đối với các vấn đề
khác để có giải pháp đồng bộ. Phương thức phòng trừ dịch hại tổng hợp IPM được
áp dụng trong công tác bảo vệ thực vật là phương thức giống như việc chuyển giao
TBKHCN theo hệ thống phát triển nông nghiệp.
- 17 -
Như vậy, phương thức chuyển giao TBKHCN theo hệ thống phát triển
nông nghiệp - FSD dựa trên cơ sở nông nghiệp sinh thái và nhân văn, bao gồm:
+ Về tự nhiên gồm: Đất, nước, khí hậu, thảm động - thực vật.
+ Về xã hội gồm: Dân cư, dân tộc, đời sống, tập quán canh tác, văn hóa và
tổ chức xã hội.
Đây là phương thức đem đến cho người nông dân và người sản xuất
những tiế
n bộ kỹ thuật phù hợp trong hệ thống phát triển mà họ đang cần.
Mục tiêu của phương thức này là áp dụng việc giáo dục cơ bản, lâu dài, có hệ
th
ống về kỹ thuật trong lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp và đào tạo về phương thức
chuyển giao TBKHCN, phương thức khuyến nông cho các học viên và sinh viên.
Địa bàn áp dụng phương thức này chủ yếu ở trong trường học.
- 18 -
Đối tượng để được giáo dục, đào tạo là học sinh, sinh viên, học viên của
các địa phương được gửi đến đào tạo hệ thống tại nhà trường.
Điều kiện để thực hiện phương thức này là phải có nguồn tài chình ổn
định hàng năm, có cơ sở vật chất và trường sở để đào tạo.
Ưu điểm của phương thức chuyển giao TBKHCN theo giáo d
ục, đào tạo
là kiến thức truyền đạt tương đối toàn diện, hệ thống và cơ bản. Phương thức
này là cách nâng cao năng lực cho cán bộ và người nông dân, người sản xuất.
Đó là cách đào tạo nguồn nhân lực tốt nhất nên khi họ đã tiếp thu TBKHCN thì
sẽ tạo được sự bền vững.
Nhược điểm của phương thức này là tốn kém, số lượng ngườ
i được đào
tạo hạn chế vì phụ thuộc vào trình độ của người được đào tạo và nguồn kinh phí
đào tạo được Nhà nước cấp. Đôi khi phương thức này còn nặng về lý thuyết.
Trên đây là các phương thức để thực hiện chuyển giao TBKHCN, được
giới thiệu một cách tóm tắt. Mỗi phương thức có đặc thù, ưu điểm, nhược điểm
riêng, nhưng c
ả 8 phương thức đều giống nhau mục đích là chuyển giao
TBKHCN cho nông dân và người sản xuất, giống nhau về phương thức tiếp cận.
Đây là những phương thức để cùng thực hiện một mục đích chuyển giao
TBKHCN tùy thuộc theo điều kiện cụ thể từng ngành, của địa phương, của
người nhận chuyển giao để lựa chọn áp dụng phương thức nào cho phù hợp
nhằm mang lại kết quả và hiệu quả. Trách nhiệm lựa chọn này thuộc về cán bộ
khuyến nông không cao. Hiện nay xu hướng chung là công tác chuyển giao
TBKHCN được thực hiện dưới nhiều hình thức thích hợp, giảm dần sự trợ cấp
của chính phủ, tăng cường sự phát huy và tham gia của nông dân. Theo Robert
Chamber (năm 1993), có một số nhược điểm lớn của các chương trình khuyến
nông ở các nước phát triển là: tập trung nhiều vào người giàu, nam giới hơn là
người nghèo và phụ nữ;
Các tác giả Chamber (năm 1994), Media (năm 1989), Light Food (năm
1985) bà Baker (năm 1998) đã khẳng định: Phần lớn các nghiên cứu trên đều
hướng vào việc xây dựng phương pháp tiếp cận trong chuyển giao TBKHCN
trong nông nghiệ
p cho nông dân. Từ trước đến này, từ khi có khoa học khuyến
nông, trên thế giới trải qua các phương thức chuyển giao chủ yếu sau:
a) Chuyển giao theo chiều hướng từ trên xuống (kỹ thuật được nghiên
cứu ở cơ quan nghiên cứu và đưa thẳng cho nông dân).
b) Chuyển giao từ dưới lên.
c) Chuyển giao với sự tham gia của người dân.
d) Chuyển giao với sự tham gia chặt chẽ giữa nhà nghiên cứu, khuy
ến
nông và nông dân để cùng giải quyết những vấn đề khó khăn của nông
dân. Nhiều nghiên cứu đã đánh giá chuyển giao TNKHCN có sự tham
gia của người dân là một phương thức tốt nhất đã được nhiều nước trên
thế giới áp dụng.
Nghiên cứu tình hình chuyển giao TBKHCN ở một số nước trên thế
giới có thể rút ra một số kinh nghiệm chủ yếu sau:
• Chuyển giao TBKHCN là cần thiết trong m
ọi chiến lược phát triển nông
nghiệp và nông thôn. Chuyển giao TBKHCN cần được coi trọng là trọng
tâm trong tổ chức hệ thống nghiên cứu và phát triển nông nghiệp và nông
thôn. Nghiên cứu và chuyển giao là hai nhiệm vụ không thể tách rời nhau.
• Chuyển giao TBKHCN lấy chiến lược hướng cầu là chính: phải dựa vào
- 21 -
CHƯƠNG 2
ĐÁNH GIÁ TÍNH BỀN VỮNG CỦA
CHUYỂN GIAO
TIẾN BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
TRONG NÔNG NGHIỆP Ở CÁC TỈNH MIỀN NÚI PHÍA BẮC - 22 -
I – ĐẶC ĐIỂM VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÙNG MIỀN NÚI PHÍA BẮC
Vùng miền núi phía Bắc nước ta được cấu thành bởi vùng Đông Bắc và
vùng Tây Bắc với tổng thể 15 tỉnh, trong đó:
- Vùng Đông Bắc bao gồm 11 tỉnh: Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Tuyên
Quang, Lào Cai, Yên Bái, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Bắc Giang và
Phú Thọ.
- Vùng Tây Bắc gồm 04 tỉnh: Hoà Bình, Sơn La, Lai Châu và Điện Biên.
Vùng miền núi phía Bắc có tới 3/4 diệ
n tích đất đai là đồi núi cao phổ
biến từ 200m đến 2.000m, địa hình dốc và chia cắt phức tạp nhất của lãnh thổ
Mùa mưa tập trung từ tháng 5 đến tháng 9 hàng năm, chiếm khoảng 80% tổng
lượng mưa cả năm. Đây là một đặ
c điểm vừa gây hạn lại vừa gây úng, trở ngại
cho việc sản xuất và sinh hoạt của nhân dân.
Do địa hình bị chia cắt mạnh, núi cao, suối sâu, độ dốc lớn nên đã hình
thành nhiều tiểu vùng khí hậu nhiệt đới, á nhiệt đới khác nhau. Ở vùng thấp có
khí hậu lạnh cả mùa đông, ở vùng cao có khí hậu ôn đới mát mẻ, thuận lợi cho
phát triển ngành nông nghiệp.
- 23 -
Vùng miền núi phía Bắc có khoảng 11,9 triệu người và 2,2 triệu hộ, chiếm
15,2% dân số và 15,7 số hộ cả nước và 40 dân tộc sinh sống. Hơn 89% dân số
làm nghề nông lâm nghiệp.
II – NHỮNG THÀNH TỰU CƠ BẢN TRONG PHÁT TRIỂN NÔNG
NGHIỆP CÁC TỈNH MIỀN NÚI PHÍA BẮC
So với cả nước thì vùng dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc chiếm tỷ trọng
khá về lâm nghiệp (40,3%), chiếm tỷ trọng nhỏ về nông nghiệp (9,6%) và chi
ếm
tỷ trọng rất nhỏ về thủy sản (1,77%). Nhưng về cơ cấu giá trị nông lâm thủy sản
của vùng thì: nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng cao (76 – 80%), lâm nghiệp chiếm
16 – 23%, thế mạnh lâm nghiệp chưa được phát huy, còn thủy sản chiếm tỷ
trọng rất nhỏ (1,3 – 3,7%).
Bảng 1 - GIÁ TRỊ VÀ CƠ CẤU GIÁ TRỊ SẢN XUẤT NĂM 2007
Nguồn: Niêm giám thống kê năm Việt Nam 2007
a. Trồng trọt:
Về trồng trọt, đã tăng nhanh cả về diện tích, năng suất, sản lượng lương
thực; góp phần đảm bảo an ninh lương thực, nạn đói kinh niên vùng đồng bào
dân tộc thiểu số cơ bản đã được giải quyết. Do tích cực thâm canh tăng vụ, áp
dụng tiến bộ khoa học vào sản xuất nên diện tích gieo trồng lúa bình quân 5 năm
(2000 - 2007) tă
đều tăng lên đáng kể, góp phần rất lớn không chỉ vào việc cứu đói cho bà con
vùng dân tộc thiểu số mà còn tham gia vào việc làm kinh tế phụ cho gia đình.
Khoai lang được sử dụng đầu tư cho chăn nuôi, đậu tương được đưa vào làm các
nhu yếu phẩm cần thiết cho gia đình và thường là nguồn thức ăn chủ yếu và duy
nhất củ
a những khu vực miền núi đặc biệt khó khăn.
Để tận dụng diện tích đất bị bỏ phí và đất trên đất dốc, người dân đã biết
trồng thêm các loại cây ăn quả ưa địa hình và điều kiện khí hậu. Mận, lê, đào là
những cây ăn quả được trồng nhiều ở khu vực miền núi phía Bắc và trở thành
sản phẩm mang đặc trưng của vùng miền Bắ
c so với cả nước. Trong những năm
gần đây, nhiều cây ăn quả đã trở thành hàng hóa đem ra thị trường bên ngoài
tiêu thụ và mang lại nguồn thu nhập không nhỏ cho người dân. Tuy nhiên, do
thiếu kỹ thuật và điều kiện để nhân rộng và phát triển, nên thu nhập từ cây ăn
quả đem lại cho người dân địa phương không nhiều và chủ yếu là lợi nhuận
thuộc về những ngườ
i kinh doanh, các đại lý ở thành phố và huyện lỵ.
Nhìn chung, cơ cấu kinh tế nông nghiệp chưa chuyển dịch mạnh theo
hướng sản xuất hàng hóa: chủ yếu vẫn là cây lương thực; cây ăn quả tăng nhanh
nhưng chỉ nhiều ở Đông Bắc và chưa tương xứng với tiềm năng. Năng suất các
cây trồng có tăng nhưng đều thấp hơn nhiều so với mức bình quân của c
ả nước.
Trình độ cơ giới hóa Nông nghiệp thấp, diện tích cây hàng năm được cày bừa
bằng máy mới chỉ có 7,3% - 20,7%.
b. Chăn nuôi:
Chăn nuôi đã có sự phát triển khá. Năm 2007, đàn trâu tăng 133%, đàn bò
tăng 150%, đàn lợn tăng 160% so với năm 1990. Mặc dù dịch bệnh ngày càng
bùng phát nhiều trong cả nước, nhưng số đàn gia súc ở miền núi phía Bắc vẫn tiếp
tục tăng. Nế
u năm 2000 ở Đông Bắc là 31602 ngàn con, thì đến năm 2007 đã lên