2 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN PHẠM HỒNG VIỆT
CÁC GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY HOẠT ĐỘNG
CỦA TRUNG TÂM ỨNG DỤNG TIẾN BỘ KHOA HỌC VÀ
CÔNG NGHỆ ĐỊA PHƢƠNG THEO CƠ CHẾ TỰ CHỦ
(NGHIÊN CỨU TRƢỜNG HỢP TRUNG TÂM ỨNG DỤNG TIẾN
BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THÁI BÌNH)
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH CHI
́
NH SA
́
CH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
MÃ SỐ: 60.34.70
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Hoàng Xuân Long Hà Nội, 2013
4 MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 6
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU 7
MỞ ĐẦU 8
1. Lý do nghiên cứu 8
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu 9
3. Mục tiêu nghiên cứu 10
4. Đối tƣợng nghiên cứu 10
BÌNH HIỆN NAY 44
5 2.1. Hiện trạng của Trung tâm Ứng dụng tiến bộ KH&CN Thái Bình 44
2.1.1. Về cơ cấu tổ chức bộ máy, nguồn nhân lực 44
2.1.2. Về công tác quản lý của đơn vị cấp trên đối với Trung tâm Ứng dụng
tiến bộ KH&CN Thái Bình 47
2.1.3. Hoạt động của Trung tâm Ứng dụng tiến bộ KH&CN Thái Bình trong
giai đoạn 2008-2012 48
2.1.4. Tình hình tài chính 52
2.1.5. Cơ sở vật chất hạ tầng 53
2.2. Đánh giá hiện trạng của Trung tâm Ứng dụng tiến bộ KH&CN Thái Bình
54
Kết luận Chƣơng 2 57
CHƢƠNG 3 59
CÁC GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY HOẠT ĐỘNG CỦA TRUNG TÂM ỨNG
DỤNG TIẾN BỘ KH&CN THÁI BÌNH THEO CƠ CHẾ TỰ CHỦ, TỰ CHỊU
TRÁCH NHIỆM 59
3.1. Mục tiêu phát triển của Trung tâm Ứng dụng tiến bộ KH&CN Thái Bình
khi thực hiện chuyển đổi theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm 59
3.1.1. Về lựa chọn hình thức chuyển đổi 59
3.1.2. Về xây dựng cơ sở vật chất 59
3.1.3. Về phát triển nguồn nhân lực 60
3.1.4. Về hoạt động của Trung tâm 60
3.2. Một số thuận lợi, khó khăn trong thực tiễn khi thực hiện chuyển đổi theo
cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm 61
3.3. Các giải pháp thúc đẩy hoạt động của Trung tâm Ứng dụng tiến bộ KH&CN
Thái Bình theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm. 63
7
6
Bảng 2.2
Phân loại nguồn nhân lực
43
7
Bảng 2.3
Danh mục các đề tài, dự án KH&CN giai
đoạn 2008-2012
47
8
Hình 3.1
Sơ đồ tổ chức bộ máy của Trung tâm Ứng
dụng tiến bộ KH&CN khi chuyển đổi
66
9
Bảng 3.1
Nhân lực dự kiến của trung tâm
69
vǎn. Tinh thần hợp tác giữa các nhà khoa học, giữa các cơ quan nghiên cứu
khoa học còn yếu. Từ những đánh giá trên, quan điểm chỉ đạo về phát triển
KH&CN của Đảng và Nhà nước đã được chỉ rõ trong các văn kiện như: Nghị
quyết Trung ương 2 khoá VIII, Luật khoa học và công nghệ, Văn kiện Đại hội
Đảng lần thứ IX, Kết luận của Hội nghị Trung ương 6 khoá IX, Nghị quyết
Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI (Nghị quyết số
20-NQ/TW) về phát triển KH&CN phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH trong điều
kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.
Từ năm 2000 đến nay, Nhà nước đã tiến hành công cuộc đổi mới triệt
để hơn và mang tính hệ thống về cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động
của các tổ chức KH&CN. Xu hướng của đổi mới là từng bước thực hiện xã
hội hoá hoạt động KH&CN, hợp lý hoá phương thức tài trợ của Nhà nước,
từng bước xoá bỏ bao cấp, tăng cường tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của
9 các tổ chức KH&CN, đặc biệt là các tổ chức KH&CN công lập. Chủ trương
này được cụ thể hóa tại Nghị định số 115/2005/NĐ-CP ngày 5/9/2005 của
Chính phủ quy định cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức KH&CN
công lập (sau đây gọi tắt là Nghị định 115).
Các Trung tâm Ứng dụng tiến bộ KH&CN ở địa phương trực thuộc Sở
KH&CN là đơn vị thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định 115, tuy nhiên
hiện nay việc chuyển đổi hoạt động của các đơn vị này sang cơ chế tự chủ, tự
chịu trách nhiệm theo tinh thần của Nghị định 115 vẫn gặp nhiều khó khăn, vì
trong quá trình tổ chức thực hiện, đơn vị đã gặp phải một số vướng mắc về
phương án chuyển đổi, cơ cấu bộ máy, tổ chức và hoạt động sau khi chuyển
đổi, điều kiện về cơ sở vật chất, hạ tầng, nhân lực để chuyển đổi…
Từ những lý do này, học viên đã lựa chọn “Các giải pháp thúc đẩy
hoạt động của Trung tâm Ứng dụng tiến bộ KH&CN địa phương theo cơ chế
để hoàn thành nhiệm vụ được giao, phát huy mọi khả năng của đơn vị. Một
số Trung tâm Ứng dụng tiến bộ KH&CN ở các tỉnh thành đã xây dựng Đề án
và chuyển đổi hoạt động theo cơ chế mới để nâng cao chất lượng hoạt động
KH&CN, tuy nhiên đối với thực tế tỉnh Thái Bình thì việc áp dụng các chính
sách của Trung ương, của tỉnh vào hoạt động của Trung tâm Ứng dụng tiến
bộ KH&CN Thái Bình còn gặp nhiều bất cập, khó khăn, còn thiếu những cơ
chế, chính sách phù hợp với việc chuyển đổi hoạt động theo cơ chế mới của
các tổ chức KH&CN nói chung trên địa bàn tỉnh và của Trung tâm ứng dụng
tiến bộ KH&CN Thái Bình nói riêng.
Với đề tài này, tác giả đã tổng hợp, tiếp thu những kết quả, kinh
nghiệm trong hoạt động KH&CN theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của
các tổ chức KH&CN trong và ngoài nước; từ đó tiếp cận và đưa ra các giải
pháp gắn với thực tiễn tại địa phương nhằm khắc phục những bất cập, khó
khăn trong việc chuyển đổi hoạt động của Trung tâm Ứng dụng tiến bộ
KH&CN Thái Bình theo cơ chế mới.
3. Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu, đề xuất các giải pháp chính sách phù hợp góp phần thúc
đẩy hoạt động của Trung tâm Ứng dụng tiến bộ KH&CN Thái Bình trong quá
trình chuyển đổi sang cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm.
4. Đối tƣợng nghiên cứu
11 Nghiên cứu và xác định mối quan hệ giữa các yếu tố tác động tới hoạt
động KH&CN theo hướng tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức
KH&CN địa phương nói chung và của Trung tâm Ứng dụng tiến bộ khoa học
và công nghệ Thái Bình nói riêng.
5. Phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ luận văn, trên cơ sở nội dung đã lựa chọn, luận văn
Việc chuyển đổi sang cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo Nghị định
115 vừa là thời cơ vừa là thách thức. Tuy nhiên, để chuyển đổi thành công,
đúng lộ trình và sau khi chuyển đổi hoạt động bền vững và phát triển, Trung
tâm cần phải lựa chọn mô hình hợp lý và bước đi thích hợp, đặc biệt là cần có
những giải pháp hỗ trợ kịp thời từ phía Nhà nước, từ vấn đề pháp lý, cơ chế
hoạt động, chế độ ưu đãi, đầu tư hạ tầng cơ sở, xây dựng tiềm lực trang thiết
bị, tiềm lực cán bộ cũng như phát triển thị trường sản phẩm và dịch vụ v.v.
- Các giải pháp chính sách để nâng cao hiệu quả hoạt động của Trung tâm
là kiện toàn lại và hoàn chỉnh bộ máy tổ chức, nhân lực, cơ sở hạ tầng nhằm
nâng cao hiệu quả hoạt động, do đó giữa công tác tổ chức và hoạt động phải có
sự gắn kết và đồng bộ với nhau.
8. Phƣơng pháp nghiên cứu
a, Phương pháp chứng minh giả thuyết
- Thu thập, nghiên cứu, tổng kết để có nguồn thông tin thứ cấp về hoạt
động của các tổ chức KH&CN nói chung và của Trung tâm Ứng dụng tiến bộ
KH&CN Thái Bình nói riêng từ đó đưa ra được những nhận xét về thực trạng
hoạt động hiện nay của Trung tâm.
b, Phương pháp tiếp cận
- Tiếp cận về lịch sử: kinh nghiệm về hoạt động theo cơ chế tự chủ, tự
chịu trách nhiệm của các tổ chức KH&CN trong và ngoài nước;
- Tiếp cận về xã hội học: đánh giá về thực trạng hoạt động hiện nay của
Trung tâm Ứng dụng tiến bộ KH&CN Thái Bình trước khi chuyển đổi sang
cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm, từ đó rút ra những bất cập, khó khăn còn
tồn tại để khắc phục.
9. Luận cứ nghiên cứu
- Luận cứ lý thuyết: Một số vấn đề lý luận về tổ chức, tổ chức
KH&CN; khái niệm, vai trò, đặc điểm hoạt động của các tổ chức KH&CN;
13
14 CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HOẠT
ĐỘNG TỰ CHỦ, TỰ CHỊU TRÁCH NHIỆM CỦA CÁC TỔ CHỨC
KH&CN
1.1. Những vấn đề cơ bản về tổ chức khoa học và công nghệ
1.1.1 Tổ chức
Một tổ chức thường được định nghĩa là hai hay nhiều người làm việc,
phối hợp với nhau để đạt kết quả chung, hoạt động của tổ chức là một quá
trình đề ra những sự liên hệ chính thức giữa những con người và tài nguyên
để đi đến mục tiêu. Chức năng của tổ chức là tiến hành phối hợp các nỗ lực
qua việc thiết lập một cơ cấu về cách thực hiện công việc trong tương quan
với quyền hạn. Nói một cách khác, chức năng tổ chức là tiến trình sắp xếp các
công việc tương đồng thành từng nhóm, để giao phó cho từng khâu nhân sự
có khả năng thi hành, đồng thời phân quyền cho từng khâu nhân sự tùy theo
công việc được giao phó.
1.1.2. Hoạt động khoa học và công nghệ
Theo Luật KH&CN được Quốc hội thông qua số 21/2000/QH10 ngày
09/6/2000: hoạt động KH&CN bao gồm nghiên cứu khoa học, nghiên cứu và
phát triển công nghệ, dịch vụ KH&CN, hoạt động phát huy sáng kiến, cải tiến
kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất và các hoạt động khác nhằm phát triển KH&CN.
Mục tiêu của hoạt động KH&CN là xây dựng nền KH&CN tiên tiến,
Hoạt động công nghệ là tất cả những hoạt động liên quan đến các quá
trình nghiên cứu - triển khai sản xuất và thị trường áp dụng công nghệ. Nội
dung chính của hoạt động công nghệ là biến các tri thức tiến bộ khoa học kỹ
thuật và công nghệ tiên tiến thành những yếu tố của sản xuất nhằm nâng cao
sức sản xuất của xã hội và con người. Hoạt động công nghệ là hoạt động tạo
ra và hoàn thiện công nghệ mới, sản phẩm mới gồm các bước triển khai thực
nghiệm và sản xuất thử nghiệm.
Nghiên cứu khoa học là hoạt động phát hiện, tìm hiểu các hiện tượng,
sự vật của tự nhiên, xã hội và tư duy, sáng tạo các giải pháp nhằm ứng dụng
vào thực tiễn. Một trong các cách phân loại nghiên cứu khoa học là phân loại
theo tính chất của sản phẩm nghiên cứu. Theo đó nghiên cứu khoa học bao
gồm nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng.
16 Phát triển công nghệ là hoạt động tiếp theo nhằm tạo ra và hoàn thiện
công nghệ mới, sản phẩm mới. Sản phẩm của hoạt động này mới chỉ là những
vật mẫu, hình mẫu có tính khả thi về kỹ thuật để áp dụng vào một điều kiện
kinh tế hoặc xã hội nào đó. Ngoài ra còn phải nghiên cứu những tính khả thi
khác, như khả thi về tài chính, về kinh tế, về môi trường, về xã hội và chính
trị… Phát triển công nghệ bao gồm triển khai thực nghiệm và sản xuất
thử nghiệm. Quan hệ giữa các loại hình nghiên cứu khoa học và phát
triển công nghệ
1
:
quy trình
Tạo mẫu sơ khởi
(Prototype)
Nghiên cứu cơ bản
định hướng
Nghiên cứu cơ bản
thuần túy
Nghiên cứu
chuyên đề
Nghiên cứu
nền tảng
17 1.1.3. Tổ chức khoa học và công nghệ
a. Các loại hình tổ chức KH&CN
Theo Luật KH&CN, các tổ chức KH&CN bao gồm:
- Tổ chức nghiên cứu khoa học, tổ chức nghiên cứu khoa học và phát
triển công nghệ (sau đây gọi chung là tổ chức nghiên cứu và phát triển);
- Trường đại học, học viện, trường cao đẳng ;
- Tổ chức dịch vụ KH&CN.
Trong đó các tổ chức nghiên cứu và phát triển được tổ chức dưới các
hình thức: viện nghiên cứu và phát triển, trung tâm nghiên cứu và phát triển,
phòng thí nghiệm, trạm nghiên cứu, trạm quan trắc, trạm thử nghiệm và cơ sở
nghiên cứu và phát triển khác.
Triển khai thực
nghiệm
Nghiên cứu
ứng dụng
Nghiên cứu cơ bản
18 + Tổ chức nghiên cứu và phát triển của bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan
thuộc Chính phủ (sau đây gọi chung là tổ chức nghiên cứu và phát triển cấp
bộ); tổ chức nghiên cứu và phát triển của tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ương (sau đây gọi chung là tổ chức nghiên cứu và phát triển cấp tỉnh); tổ chức
nghiên cứu và phát triển của cơ quan khác của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ
chức chính trị - xã hội ở trung ương.
+ Tổ chức nghiên cứu và phát triển cấp cơ sở.
Tổ chức nghiên cứu và phát triển là một bộ phận thuộc các tổ chức
KH&CN. Dựa vào mục tiêu, nhiệm vụ của các tổ chức KH&CN mà người ta
phân loại như sau:
* Phân loại theo lĩnh vực KH&CN: Khoa học tự nhiên; khoa học kỹ
thuật (KH&CN); khoa học xã hội và nhân văn; khoa học nông nghiệp; khoa
học y dược học.
* Phân loại theo các hoạt động KH&CN: Nghiên cứu và phát triển
(R&D); Chuyển giao công nghệ; Dịch vụ KH&CN.
* Phân loại theo chủ thể sở hữu: Tổ chức KH&CN thuộc khu vực Nhà
nước; Tổ chức KH&CN thuộc khu vực tư nhân; Tổ chức KH&CN thuộc khu
vực tập thể; Tổ chức KH&CN thuộc khu vực đa quốc gia.
b. Nguyên lý hoạt động của tổ chức khoa học và công nghệ
Theo nguyên lý chung về tổ chức, tổ chức KH&CN được tạo ra nhằm
thực hiện mục tiêu của hoạt động KH&CN. Tổ chức KH&CN hoạt động theo
Hình 1.3. Sơ đồ lưu trình để xây dựng và triển khai công tác
tổ chức KH&CN
Hoạt động của các tổ chức KH&CN thực hiện theo các nguyên tắc:
- Phục vụ nhiệm vụ phát triển KT-XH, bảo đảm quốc phòng an ninh;
- Xây dựng và phát huy năng lực nội sinh về KH&CN của đất nước,
tiếp thu có chọn lọc các thành tựu KH&CN của thế giới phù hợp với thực tiễn
của đất nước;
XÂY DỰNG BỘ MÁY TỔ CHỨC
- Khung tổ chức cần thiết; sơ đồ tổ
chức; cấp quản lý (2-3 cấp)
• Yêu cầu người làm tổ chức: Phải
am hiểu chức năng nhiệm vụ từng
người (vị trí).
•Cứ 3-5 năm xem xét lại bộ máy tổ
chức và phải bổ sung, điều chỉnh hợp
lý
QUY ĐỊNH CHỨC
NĂNG
- Các công việc phải
làm (cụ thể) để đạt
mục tiêu vạch ra.
- Yêu cầu người làm
20 - Kết hợp chặt chẽ khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và công nghệ
với khoa học xã hội và nhân văn, gắn khoa học với công nghệ với giáo dục
đào tạo;
- Phát huy khả năng lao động và sáng tạo của mọi tổ chức, cá nhân;
- Trung thực, khách quan và đề cao đạo đức nghề nghiệp, tự do sáng
tạo, dân chủ và tự chủ, tự chịu trách nhiệm.
Theo Luật KH&CN, nhiệm vụ chủ yếu của hoạt động KH&CN là:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận và vận dụng vào thực tiễn để xây
dựng luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chính sách, luật pháp
và phát triển kinh tế-xã hội đất nước, làm giàu kho tàng tri thức thế giới;
- Nâng cao năng lực KH&CN để làm chủ và sáng tạo công nghệ.
- Tiếp thu các thành tựu KH&CN và thực hiện chuyển giao công nghệ
tạo ra sản phẩm mới có sức cạnh tranh cao.
1.2. Lý luận về tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức Khoa
học và Công nghệ
1.2.1 Tự chủ
Thuật ngữ “tự chủ” (Autonomy) đi với nhiều từ khác nhau, tạo ra các
cụm từ với khái niệm khác nhau như: tự chủ tài chính, tự chủ về kinh tế, tự
chủ về chuyên môn, tự chủ của tổ chức, cơ quan Thuật ngữ tự chủ trong các
cụm từ trên được hiểu là sự chủ động, tự quyết của chủ thể được tự quyết định
về một số lĩnh vực, một số mặt nào đó. Theo đó, thực hiện tự chủ là một sự
chia sẻ quyền lực, giao quyền cho cấp dưới nhiều hơn, giảm bớt sự tập trung
hoá và như vậy sẽ tăng hiệu quả quản lý của các cấp trong bộ máy quản lý.
Các cấp quản lý cần phải có thông tin đầy đủ hơn, nhất là trong quá trình phát
triển ngày càng phức tạp của xã hội hiện đại, Nhà nước sẽ khuyến khích việc
tự điều hành của cấp dưới.
định, dựa trên cơ chế thị trường và hạch toán kinh tế.
Tuy nhiên, tự chủ về bản chất cũng không phải là tuyệt đối đối với các
tổ chức KH&CN. Có rất nhiều tác động khác lôi cuốn các hướng hoạt động
của họ dựa trên định hướng chung về phát triển khoa học và công nghệ quốc
gia cũng như định hướng phát triển KT-XH. Trường hợp các tổ chức này
nhận các dự án nghiên cứu từ các quỹ là một ví dụ. Quỹ phát triển khoa học
và công nghệ ở các nước, phần lớn là có nguồn kinh phí từ chính phủ, các
chương trình nghiên cứu định hướng vào các ưu tiên quốc gia về KH&CN.
22 Và như vậy, định hướng phát triển KH&CN quốc gia tác động trực tiếp đến
hướng hoạt động của tổ chức này.
Tự chủ về quy trình (thủ tục): theo các học giả nước ngoài, tự chủ về
quy trình nghĩa là tự điều hành, từ khâu điều hành kế hoạch hoạt động, đến
khâu điều hành tài chính, nhân lực và đánh giá tổ chức. Tự chủ hay tự điều
hành này thường gắn với các tổ chức KH&CN công lập.
Tính tự chủ là một phạm trù khách quan, phản ánh thuộc tính tự do,
bình đẳng của các thực thể hoạt động trong nền kinh tế thị trường, bất kể
chúng thuộc hình thức sở hữu nào. Khi tính tự chủ của một tổ chức được Nhà
nước nhận thức và thể chế hoá thành văn bản, chỉ thị, quyết định và áp dụng
đối với thực thể nào đó thì gọi là quyền tự chủ. Khác với tính tự chủ, quyền tự
chủ là một phạm trù mang tính chủ quan, phụ thuộc vào nhận thức của chủ
thể quản lý, ra quyết định công nhận sự tự chủ của thực thể với mức độ khác
nhau.
Tự chủ của tổ chức KH&CN thường gắn liền với tự do trong hoạt động
KH&CN, tuy nhiên chúng không đồng nghĩa với nhau. Tự do trong hoạt động
KH&CN là một yếu tố rất tốt cho tự chủ, song lý tưởng nhất vẫn là có hiện
diện cả hai. Trên thực tế, có thể có tự chủ nhưng không có tự do trong hoạt
Research) năm 1988 đưa ra 3 loại trách nhiệm:
- Trách nhiệm tài chính và hành chính: trách nhiệm đối với vốn về tài
chính và các qui định về hành chính.
- Trách nhiệm khoa học: Liên quan đến việc đạt được các kết quả và
tiến bộ như mục tiêu đã đề ra.
- Trách nhiệm xã hội: Liên quan đến các mục tiêu xã hội cụ thể mà tổ
chức phải thực hiện.
Tự chịu trách nhiệm của một tổ chức được Mortimer (1972) phân biệt
ra trách nhiệm bên trong và trách nhiệm bên ngoaì, tức là trách nhiệm đối với
xã hội nói chung và trách nhiệm đối với chính tổ chức nơi họ đang làm việc,
hoạt động. Ở đây liên quan đến chịu trách nhiệm về các quyền lợi khác nhau
với các cơ quan khác nhau, chịu trách nhiệm về chức năng của mình, chịu
trách nhiệm với các cơ quan hành pháp, lập pháp và tư pháp về hiệu quả hoạt
động về hành vi của đội ngũ nhân lực mà tổ chức đó quản lý và về sự đúng
đắn và quá trình ra quyết định trong nội bộ tổ chức.
Theo Mortimer (1972), cần có sự kiểm tra đối với tự chịu trách nhiệm.
Nhưng vấn đề là ở chỗ ai là người thực hiện việc kiểm tra đó. Trong xã hội
quản lý tập trung, cả giới chuyên môn và quản lý đều thực hiện việc này.
Trong xã hội thị trường, hầu hết sự kiểm tra được tiến hành thông qua kiểm
định. Trong xã hội hiện đại, dư luận công chúng luôn là yếu tố phản ánh sự
24 chịu trách nhiệm. Nhưng trong các nước đang phát triển, cơ chế dư luận công
chúng ít có tác dụng và sự chịu trách nhiệm không thực hiện được là mấy.Tóm lại, quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm là hai mặt đi đôi với nhau
trong một cơ chế thống nhất. Cơ chế tự chịu trách nhiệm đòi hỏi người đại
nhiệm vụ KH&CN, kiểm toán nhà nước, các hiệp hội có liên quan, chính phủ,
các tổ chức KH&CN khác…
Vấn đề chịu trách nhiệm như thế nào là nói đến hệ thống giá trị của
chịu trách nhiệm. Nó quyết định các nguyên tắc, tiêu chuẩn về thất bại hay
thành công trong mối quan hệ trách nhiệm. Các tiêu chuẩn này tựa như thấu
kính quyết định trọng tâm của chịu trách nhiệm. Hệ thống giá trị của trách
nhiệm có thể là chính trị, pháp lý, chuyên môn, tinh thần,…Đối tượng chịu
trách nhiệm, chẳng hạn cương lĩnh chính trị, có thể thành công về mặt trách
nhiệm chính trị của người thực hiện nhưng lại thất bại về trách nhiệm tài
chính cũng của người thực hiện. Chính vì vậy cần có sự phân biệt về đối
tượng chịu trách nhiệm và trọng tâm (trọng điểm) của chịu trách nhiệm.
Đánh giá về chịu trách nhiệm là nói đến các phương pháp xác định,
đảm bảo và tiến hành đánh giá việc chịu trách nhiệm: các quy định trong xác
định mục tiêu, việc cấp kinh phí, các công cụ đo lường về số lượng và chất
lượng của việc thực hiện mục tiêu và mối tương tác giữa người có trọng trách
với tổ chức trong quá trình đánh giá.
1.2.3. Ý nghĩa của tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong các tổ chức
KH&CN
Một là góp phần thúc đẩy đổi mới chính sách quản lý KH&CN: Thực
hiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với các tổ chức KH&CN tạo ra một cơ
chế vận hành mới, một cách quản lý mới. Một mặt tiếp tục duy trì sự can
thiệp đối với tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức KH&CN, mặt
khác, điều chỉnh cách can thiệp của nhà nước đối với hoạt động của các tổ
chức này. Những can thiệp quá sâu, quá cụ thể đã tỏ ra không thích hợp, làm
mất tính chủ động, năng động và linh hoạt của các tổ chức. Các nỗ lực cải
cách tập trung vào việc điều hành chủ yếu thông qua các công cụ gián tiếp và
giảm dần sự can thiệp vi mô trong tổ chức KH&CN; đưa một số yếu tố thị
trường trong hoạt động của các tổ chức này, trước hết là khâu xây dựng nhiệm
vụ, khâu thu hút tài chính…
triển Nhà nước.
Tóm lại, để thực hiện chính sách tăng quyền chủ động cho các tổ chức
KH&CN, ở các nước đã thúc đẩy một loạt các đổi mới chính sách trong quản