MỤC LỤC
Trang
3
MỞ ĐẦU
Chương
1
CƠ SỞ LÝ LUẬN PHÁT TRIỂN Ý TƯỞNG SÁNG
TẠO CỦA HỌC VIÊN SAU ĐẠI HỌC Ở HỌC VIỆN
CHÍNH TRỊ
1.1 Ý tưởng sáng tạo và thực chất phát triển ý tưởng sáng tạo
của học viên sau đại học ở Học viện Chính trị
1.2 Đặc điểm phát triển ý tưởng sáng tạo của học viên sau
đại học ở Học viện Chính trị
Chương THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN Ý TƯỞNG SÁNG TẠO
CỦA HỌC VIÊN SAU ĐẠI HỌC Ở HỌC VIỆN
2
CHÍNH TRỊ HIỆN NAY
2.1 Thực trạng và nguyên nhân phát triển ý tưởng sáng tạo
của học viên sau đại học ở Học viện Chính trị hiện nay
2.2 Một số vấn đề đặt ra và yêu cầu đối với phát triển ý
tưởng sáng tạo của học viên sau đại học ở Học viện
Chính trị hiện nay
MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN PHÁT TRIỂN Ý
Chương
TƯỞNG SÁNG TẠO CỦA HỌC VIÊN SAU ĐẠI
3
94
97
Hiện nay, khi trình độ tri thức của con người đang chuyển sang một cấp độ
cao hơn đó là quá trình “ tổ chức, quản lý sáng tạo và đổi mới” dựa trên cơ sở
của những ý tưởng tiến bộ vượt bậc thì vấn đề phát triển ý tưởng sáng tạo ngày
càng có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với đời sống của con người trong xã hội
hiện đại. Do bản chất, vai trò và tính phức tạp của nó, ý tưởng sáng tạo luôn
được các ngành khoa học quan tâm tìm hiểu, nghiên cứu và ứng dụng. Phần lớn
các sản phẩm (vật chất và tinh thần) được làm ra, kết tinh trong đó chủ yếu là
hàm lượng trí tuệ, chất xám thì vấn đề phát triển ý tưởng sáng tạo ngày càng
được con người quan tâm, chú trọng nhiều hơn.
Phát triển ý tưởng sáng tạo là một yêu cầu khách quan của quá trình đào tạo
nguồn nhân lực, nhất là đối với đào tạo nguồn nhân lực bậc cao trong thời đại cách
mạng khoa học và công nghệ hiện đại. Với tư cách là một trung tâm lớn của quốc
gia về đào tạo sau đại học, Học viện Chính trị đã có những thành tựu quan trọng
trong đào tạo sau đại học về khoa học Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và các
chuyên ngành khoa học xã hội và nhân văn có liên quan chặt chẽ đến xây dựng
quân đội về chính trị, góp phần tăng số lượng và chất lượng nguồn nhân lực bậc cao
cho đất nước và quân đội. Đồng thời, cũng đã có những đóng góp đáng kể vào quá
trình phát triển ý tưởng sáng tạo của học viên sau đại học trong suốt những năm
qua.
Tuy thế, cùng với các thành tựu đã đạt được, đào tạo sau đại học ở Học viện
Chính trị còn có những hạn chế, bất cập về nội dung trương trình đạo tạo,
phương pháp dạy và học chưa tương xứng với bậc học, còn chậm đổi mới làm
hạn chế sự năng động và phát huy tính sáng tạo của người học theo yêu cầu cao.
Về chất lượng luận văn, luận án hàm lượng khoa học tính mới - hữu ích, sự độc
đáo, tính đột phá là chưa rõ ràng, trong các luận văn, luận án, các bài báo khoa
học của học viên, việc tìm kiếm đưa ra ý tưởng mới về hướng tiếp cận hoặc các
văn thạc sĩ chuyên ngành triết học.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Nghiên cứu về phát triển ý tưởng sáng tạo của con người là một vấn đề
phức tạp, rất rộng và đa diện, do đó cần có nhiều cách tiếp cận, luận giải khác
nhau. Những thành tựu nghiên cứu về ý tưởng, ý tưởng sáng tạo và phát triển ý
tưởng sáng tạo đã được các nhà khoa học trên thế giới và ở trong nước thông báo
ở một số công trình, đề tài khác nhau. Ở đây có thể đưa ra một số công trình, đề
tài cụ thể của một số tác giả tiêu biểu:
Tác giả Tony Buzan trong các tác phẩm “Hướng dẫn sử dụng bản đồ tư duy”
và “10 cách đánh thức tư duy sáng tạo” đã chỉ ra cách khai thác tối đa sức sáng tạo
của tư duy, vẽ tương lai ý tưởng của mỗi người bằng bản đồ tư duy. Theo đó, để ý
tưởng sáng tạo luôn thăng hoa, phát triển thì con người phải có ước mơ, khát vọng,
hoài bão trong sáng, sự rèn luyện kiên trì, học tập nỗ lực, có quyết tâm, tín tâm, mạo
hiểm trong cuộc sống. Đặc biệt, phải có óc liên tưởng và sự thông suốt là điều kiện
để nảy sinh ý tưởng mới, giải phóng bộ não. Ông còn chỉ ra con đường đi đến sự
sáng tạo và các yếu tố cấu thành sức sáng tạo, hiệu suất sáng tạo cùng với sức mạnh
dung lượng, tốc độ của nó. “Tính thông suốt của tư duy sáng tạo dùng để chỉ số
lượng của tư duy (hoặc quan niệm) của con người có thể tạo ra tốc độ của sáng tạo.
Tính thông suốt là một trong những mục tiêu chủ yếu mà tất cả các nhà tư tưởng
sáng tạo và thiên tài vĩ đại đều theo đuổi” [41, tr.113].
Hai tác giả Bobbi Deporter & Mike Hernacki trong các tác phẩm “Phương
pháp ghi nhận siêu tốc”,“Phương pháp học tập siêu tốc” và “Phương pháp tư
duy siêu tốc” đã khẳng định sáng tạo là một kỹ năng phổ biến vốn có của con
người, song nếu không được rèn luyện sẽ bị mai một. Để phát triển kỹ năng sáng
tạo thì phải có sự tin tưởng và an toàn, theo đó các ông đã chỉ ra vai trò của môi
trường sáng tạo và những quy tắc nhất định mà các chủ thể khi tiến hành hoạt
động sáng tạo phải tuân theo chúng. Đồng thời, các ông chỉ ra phương pháp lập kế
hoạch và giải quyết vấn đề sáng tạo: 1) nắm rõ mục tiêu của vấn đề; 2) đưa ra các
giai đoạn phát triển khác nhau của lịch sử xã hội và cả những cái mới trong hoạt
động thực tiễn đã và đang nảy sinh. “Có thể kéo dài vô tận những cái mới hiện có
và có thể có. Cái gì là chung cho tất cả những loại mới đó? Khởi đầu của tất cả là ý
tưởng nảy sinh trong đầu óc một ai đó. Về thực chất bất cứ quá trình sáng tạo nào
cũng bắt đầu từ ý tưởng” [48, tr.31]. Ý tưởng và các sản phẩm có kết quả từ ý tưởng
là điểm khởi đầu và cũng là điểm kết thúc của toàn bộ quá trình sáng tạo.
Tác giả Nguyễn Đình Gấm trong bài viết: “ Sáng tạo - phẩm chất nhân cách
hàng đầu của con người trong xã hội hiện đại”, Tạp chí Nghiên cứu con người,
số 5/2004, đã đưa ra quan điểm coi sáng tạo: là tìm ra cái mới, cách giải quyết
mới, không bị gò bó, phụ thuộc vào những cái đã có. “Ý tưởng là mầm mống của
sự sáng tạo, do đó trước tiên cần quan tâm đến các ý tưởng mới” [16, tr.60].
Đồng thời, tác giả còn nhấn mạnh các ý tưởng mới chỉ có giá trị khi mang trong
đó các hạt nhân hợp lý, những tiền đề cho giải quyết vấn đề đang đặt ra. Tố chất
cá nhân, phương pháp giáo dục và môi trường xã hội là các nhân tố ảnh hưởng,
quy định đến sự xuất hiện các ý tưởng mới. Cần phải có cơ chế khuyến khích,
động viên các tập thể, cá nhân biến những ý tưởng sáng tạo trong khoa học, nghệ
thuật, kinh doanh… hiện thực hoá trong thực tiễn.
Tiến sĩ Đào Văn Tiến khi nghiên cứu về “Phát triển năng lực tư duy sáng
tạo của đội ngũ sĩ quan cấp phân đội Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay”,
cho rằng năng lực tư duy sáng tạo là “tổng hợp những khả năng ghi nhớ, tái hiện,
liên tưởng, trừu tượng hoá, khái quát, xử lý thông tin trong quá trình phản ánh và
tạo ra tri thức mới về đối tượng để chỉ đạo hoạt động thực tiễn của con người
ngày càng có hiệu quả cao” [39, tr.22].
Tiến sĩ Lê Quý Trịnh khi nghiên cứu về “Phát triển năng lực trí tuệ của sĩ quan
trẻ trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay” đã đưa ra quan niệm năng lực trí
tuệ là “khả năng hoạt động của trí tuệ trong việc tìm kiếm, khám phá, tích luỹ tri
thức và vận dụng tri thức vào giải quyết những nhiệm vụ do cuộc sống đặt ra, đảm
bảo cho hoạt động của con người đạt chất lượng và hiệu quả cao” [43, tr.17].
Đối tượng nghiên cứu: Phát triển ý tưởng sáng tạo của học viên sau đại học
ở Học viện Chính trị.
Phạm vi nghiên cứu: Tập trung vào một lớp đối tượng là học viên sau đại
học (đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ) ở Học viện Chính trị. Thời gian điều tra khảo sát, sử
dụng tài liệu chủ yếu từ năm 2000 đến nay.
5. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của luận văn là hệ thống các quan điểm, nguyên tắc, phương pháp
luận của chủ nghĩa Mác- Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng
Cộng sản Việt Nam.
Cơ sở thực tiễn của luận văn là thực trạng của phát triển ý tưởng sáng tạo
của học viên sau đại học ở Học viện Chính trị hiện nay; những biến đổi của giáo
dục - đào tạo trên thế giới, trong nước và quân đội có liên quan đến ý tưởng sáng
tạo. Các số liệu điều tra xã hội học ở một số công trình nghiên cứu của các nhà
khoa học; kết quả khảo sát của tác giả ở Hệ Sau đại học - Học viện Chính trị.
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả sử dụng phương pháp phân tích, tổng
hợp, trừu tượng hoá, khái quát hoá, phương pháp quan sát, điều tra, phỏng vấn
trực tiếp và phương pháp chuyên gia.
6. Ý nghĩa của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần giải quyết một số vấn đề lý luận
và thực tiễn về phát triển ý tưởng của học viên sau đại học ở Học viện Chính trị.
Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo, nghiên cứu trong công tác
giáo dục, đào tạo và quản lý ở Học viện Chính trị hiện nay.
7. Kết cấu của luận văn
Luận văn gồm: phần mở đầu, 3 chương (7 tiết), kết luận, danh mục tài liệu
tham khảo, phụ lục.
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN PHÁT TRIỂN Ý TƯỞNG SÁNG TẠO
CỦA HỌC VIÊN SAU ĐẠI HỌC Ở HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ
sáng tạo thực chất là hành động tư duy làm bật ra những ý tưởng mới khi đối mặt
với các tình huống có vấn đề, nó xuất hiện khi có sự mâu thuẫn giữa cái đã biết với
cái chưa biết, với những phương thức cũ, lạc hậu không còn phù hợp đòi hỏi con
người không ngừng tìm kiếm ý tưởng, đề ra phương pháp giải quyết mới cho các
vấn đề cấp thiết của cuộc sống.
Ý tưởng không phải là một cái gì đó chung chung, trừu tượng. Trên thực tế ý
tưởng thường được thể hiện dưới những hình thức cụ thể nhất định và được truyền
tải dưới các dạng viết, vẽ, ghi âm, ghi hình hoặc được trình bày dưới một hình thức
bất kỳ nào đó để có thể hiểu và lưu trữ được. Các hình thức thể hiện ý tưởng của
con người rất phong phú, đa dạng và tuỳ theo từng lĩnh vực cụ thể mà ý tưởng tồn
tại dưới nhiều dạng, loại khác nhau.
Hành trình tạo ra ý tưởng không phải là một cái gì đó quá khó khăn. Trên thực
tế không phải cứ có ý tưởng là có tất cả và mọi ý tưởng đều trở thành hiện thực.
Điều quan trọng là làm thế nào để ý tưởng lưu chuyển, bộc lộ trở thành hiện thực và
có ích lợi. Nhưng toàn bộ quá trình này lại tuỳ phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác
nhau như là các phẩm chất, năng lực tư duy....các điều kiện về kinh tế, tài chính. Có
những ý tưởng thiên tài, có ý tưởng tạo nên sự khác biệt và mọi sáng tạo đột phá
trước khi trở thành sự thật đều nảy sinh từ một ý tưởng của một cá nhân nào đó.
Nhưng ngay cả một số ý tưởng, dù rất vĩ đại, nếu không được hiện thực hoá và
được mọi người công nhận thì vẫn chỉ dừng lại ở một “ý tưởng” đơn thuần không
có giá trị. Bởi vì, ý tưởng là những ý nghĩ nảy sinh trong đầu thường chưa thật trọn
vẹn, do vậy nó có thể còn chung chung, trừu tượng. Ý tưởng chỉ là chất liệu “thô”
ban đầu và trên chất liệu ấy con người tiến hành các thao tác, kỹ năng “ cơ bắp” của
tư duy để hoàn thiện và hiện thực hoá ý tưởng vào cuộc sống, mang lại ích lợi cho
xã hội và cho cá nhân, đến lúc đó ý tưởng mới thực sự có giá trị và ý tưởng mới
mang nghĩa đầy đủ là ý tưởng sáng tạo.
Tất nhiên, để có thêm cơ sở cho nghiên cứu về ý tưởng sáng tạo cũng cần làm
rõ một số vấn đề liên quan đến khái niệm sáng tạo. Đơn giản bởi vì, không phải
mọi ý tưởng đều là sáng tạo. Sáng tạo gắn liền với lịch sử tồn tại và phát triển của
xã hội loài người. Từ việc tìm ra lửa, chế tạo ra công cụ bằng đá thô sơ... cho đến
cá nhân và toàn xã hội.
Đồng thời cùng với tính mới, ý tưởng phải có tính hữu ích. Ý tưởng sáng
tạo luôn gắn rất chặt với hành động sáng tạo để đưa đến các sản phẩm sáng tạo
và chúng luôn có mối quan hệ với hiện thực. Tính hữu ích của ý tưởng sáng tạo
tức là trong ý tưởng đó phản ánh hiện thực một cách tối đa trong những tình
huống mới, chất lượng mới và cả mục đích mới, ý tưởng sáng tạo trong bất kỳ
lĩnh vực nào của đời sống xã hội bao giờ cũng gắn với việc tạo ra cái mới, độc
đáo, tốt đẹp hơn và luôn có lợi cho sự phát triển của xã hội.
Tất nhiên, tính thông suốt cũng là một đặc trưng, một thuộc tính của ý
tưởng sáng tạo, đó là tốc độ đưa ra kiến giải mới và được định hướng theo mạch
tư duy nhất định. Theo đó, toàn bộ quá trình nảy sinh ý tưởng đến tổ chức thực
thi ý tưởng luôn tuân theo các quy luật, quy tắc của tư duy. Tính thông suốt là
thước đo của ý tưởng sáng tạo.
Một trong những đặc trưng quan trọng của ý tưởng sáng tạo là tính linh
hoạt của nó. Tính linh hoạt là sự nhìn nhận vấn đề từ mọi góc độ, xem xét vấn đề
từ những góc nhìn của người khác, tổ hợp khái niệm cũ bằng phương thức mới,
suy diễn, lập luận ngược lại với các cách nghĩ đã có trước đây. Nó còn bao gồm
các khả năng cảm quan khi sáng tạo ra ý tưởng mới.
Bên cạnh đó, tính độc đáo cũng là một thuộc tính không thể thiếu được của
ý tưởng sáng tạo. Thể hiện khả năng sáng tạo ra ý tưởng hoàn toàn mới mẻ có sự
khác biệt với những ý tưởng trước đó và của người khác. Từ khi phát ra ý tưởng
(nhìn nhận vấn đề) và các cách thức thực thi ý tưởng (phương án giải quyết, tổ
chức thực hiện vấn đề) có sự khác lạ với thông thường và có khuynh hướng
tránh lặp lại cách giải quyết cũ đã có bằng sự hoài nghi.
Tính phát tán, nối kết và rút gọn là một thuộc tính vốn có của ý tưởng sáng
tạo. Một người suy nghĩ có tính sáng tạo thường bắt đầu từ một ý tưởng trung tâm
rồi lấy đó làm cơ sở để dẫn dắt, phát tán, kết nối kéo dài tư duy ra các hướng và dần
hoàn thiện khiến nó trở thành một ý tưởng sáng tạo hoàn chỉnh hoặc trên cơ sở rất
đồng về nhiều mặt; luôn thể hiện sự thống nhất cao trong suy nghĩ và hành động.
Đây là những điểm thuận lợi để họ giao lưu, chia sẻ cùng nhau phát triển ý tưởng
sáng tạo trong quá trình học tập, nghiên cứu. Đặc biệt, học viên sau đại học rất
nhạy cảm, ham hiểu biết, có khả năng tiếp thu kiến thức mới; giao tiếp rộng, dễ
hoà nhập và luôn gắn bó với nhau; có sự đoàn kết cộng đồng khá tốt, các thành
viên đều nỗ lực, cố gắng thực hiện tốt các nhiệm vụ đào tạo sau đại học và luôn
có ý thức, trách nhiệm đối với tập thể. Điểm nổi bật của họ là ưa hoạt động
nghiên cứu, tìm tòi, khám phá cái mới, có thái độ động cơ, mục đích phấn đấu
đúng đắn trong học tập, công tác.
Tuy nhiên, học viên sau đại học ở Học viện Chính trị cũng đã và đang gặp
không ít khó khăn trong quá trình đào tạo. Ở họ còn có những hạn chế, thiếu hụt
về lượng tri thức, kỹ năng, kỹ sảo, phương pháp tư duy. Mặc dù, “họ đều đã
được đào tạo ở nhiều cấp, nhiều khoá huấn luyện, song chưa thật đồng bộ, thiếu
tính hệ thống…Ở họ chưa thật sự hình thành thói quen về những phương pháp
học tập, nghiên cứu khoa học” [19, tr.36]. Hơn nữa, những tác động từ mặt trái
của nền kinh tế thị trường và tiêu cực xã hội trong thời kỳ hội nhập, dẫn đến
những biến đổi, phức tạp, nhạy cảm trong các mối quan hệ xã hội, làm cho trạng
thái tinh thần, tư tưởng, trạng thái tâm sinh lý của học viên sau đại học thêm
phức tạp hơn. Chính sự phức tạp này tiếp tục quy định và ảnh hưởng không nhỏ
tới thái độ, động cơ, sức sáng tạo của học viên trong quá trình đào tạo sau đại
học ở Học viện. Đó là những vấn đề mà chúng ta phải tính đến, phải đối mặt
trong quá trình gây dựng, phát triển ý tưởng sáng tạo ở đối tượng học viên đặc
biệt này.
Từ cơ sở phân tích một số đặc điểm cơ bản của học viên sau đại học ở Học
viện Chính trị, tác giả đưa ra khái niệm: Ý tưởng sáng tạo của học viên sau đại
học ở Học viện Chính trị là kết quả của quá trình tư duy với nền tảng là một hệ
thống tri thức mang tính đặc thù, hướng đến các phát hiện mới có giá trị nhằm
giải quyết hiệu quả nhiệm vụ đặt ra đối với học viên cao học và nghiên cứu sinh
luận duy vật biện chứng, vận hành theo hệ thống các nguyên tắc, quy luật của
quá trình tư duy lôgíc chính xác, lôgíc biện chứng và hệ thống tri thức khoa học.
Tính định hướng của ý tưởng sáng tạo của học viên sau đại học ở Học viện
còn được thể hiện trong nội dung của nó, luôn xuất phát từ nền tảng lý luận của
chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng,
đường lối nghệ thuật quân sự và hệ thống tri thức khoa học mà người học đã
được trang bị, thẩm thấu; là sự thống nhất giữa nội dung với cách thức diễn đạt,
trình bày bằng hệ thống thuật ngữ chuyên ngành thể hiện tính học thuật cao.
Ý tưởng sáng tạo là hình ảnh, kết quả của quá trình tư duy nên ý tưởng của
học viên sau đại học đã được bóc tách khỏi sự tiếp xúc trực tiếp với đối tượng và
được trừu tượng hoá, khái quát hoá từ đó đưa ra những hiểu biết mới dưới các
dạng: quan niệm, khái niệm, đặc trưng, đặc điểm, vấn đề có tính quy luật hay
những phương pháp, cách thức tiếp cận mới trong phát hiện, giải quyết vấn đề
mà ý tưởng đề cập tới.
Tính định hướng của ý tưởng sáng tạo đòi hỏi người học, chủ thể của quá
trình tư duy giữ đúng hướng, mạch lạc trong tư duy; ý tưởng được trình bày
chính xác, rõ ràng, văn phong trong sáng, khúc triết, không phạm lỗi tư duy, bảo
đảm tính khoa học và sự chuẩn hoá cao.
Do liên quan một cách trực tiếp đến quá trình tổ chức, thực hiện các sản
phẩm khoa học chủ yếu của học viên sau đại học là các luận văn, luận án nên ý
tưởng sáng tạo của họ phải mang tính thực tế - khả thi. Ý tưởng chỉ có ý nghĩa khi
được hiện thực hoá vào trong các bài viết, công trình của họ. Do đó, cần xác định
quy trình thực thi, lưu chuyển ý tưởng thành thực tế. Tính khả thi được xác định
bằng các kế hoạch cụ thể nhằm bảo đảm quá trình triển khai ý tưởng thông suốt,
người học thiết kế, lên kế hoạch cho các hành động, việc làm, sắp xếp chúng theo
thứ tự ưu tiên. Dự kiến thời gian, tự thi công, giám sát tiến độ và kiểm tra kết quả.
Đồng thời, điều đó còn giúp người học tự kiểm soát và cân bằng các nguồn lực
nhằm mục đích bảo đảm và gia tăng kết quả cho sự thành công của ý tưởng.
thực. Dự kiến là một trong các biểu hiện quan trọng của tính tích cực, chủ động suy
nghĩ sáng tạo của người học ở những điều kiện, hoàn cảnh vật chất nhất định.
Ý tưởng sáng tạo của học viên sau đại học ở Học viện Chính trị thường gắn
với lĩnh vực quân sự, nên dự kiến là một đòi hỏi khách quan, tất yếu và phổ biến.
Ngay từ trong thời bình chúng ta cần có những dự kiến, chủ động về chiến tranh
tương lai có thể xảy ra là như thế nào. Từ đó đặt ra hàng loạt các vấn đề về xây
dựng nhân tố chính trị, tinh thần, bản lĩnh, niềm tin..., trong mỗi vấn đề ấy lại có
những dự kiến mới, từ đó vạch ra các biện pháp hữu hiệu ngăn ngừa, làm giảm tới
mức thấp nhất yếu tố bất lợi, xây dựng và làm gia tăng các nhân tố tích cực để
giành được nhiều thắng lợi.
Ý tưởng sáng tạo của học viên sau đại học phát sinh từ một dung lượng tri
thức nhất định và được khái quát thông qua hoạt động học tập, nghiên cứu khoa
học. Mặc dù chưa được thực tiễn kiểm nghiệm nhưng vẫn có thể khẳng định ý
tưởng sáng tạo của học viên sau đại học ở Học viện chính trị có độ chính xác cao.
Người học có thể tự hình dung được những hình ảnh mới, điều gì sẽ xảy ra, chủ
động dự kiến tương đối sát tình huống diễn biến, khả năng có thể xảy ra, nhận
định đánh giá đúng tình hình từ đó chuẩn bị được nhiều phương án, biện pháp xử
lý các tình huống đạt hiệu quả cao nhất.
Do tính chất nhiệm vụ của hoạt động quân sự, trực tiếp nhất là do yêu cầu
của bậc đào tạo đã đặt ra những đòi hỏi mang tính ràng buộc đối với mỗi học viên
sau đại học ở học viện Chính trị phải có các ý tưởng mới, hiểu biết mới, luận giải
mới một cách sâu sắc, chính xác về các hiện tượng, quá trình quân sự đã và đang
diễn ra. Đồng thời, những đòi hỏi này đã làm cho tư duy, nhận thức của người học
vào trạng thái “kích hoạt” vận động theo sự biến đổi của các hiện tượng, quá trình
quân sự ấy, qua đó cho phép người học vạch ra khuynh hướng phát triển, sự
chuyển hóa giữa chúng; người học sử dụng hệ phương pháp nghiên cứu, các thủ
pháp, cách thức mới để chọn lọc, bóc tách từ vô số các thuộc tính, yếu tố ngẫu
nhiên, không cơ bản, không bản chất để rút ra được những thuộc tính, các “hạt”
hợp lý, các mối quan hệ bản chất có tính quy luật một cách khoa học, chính xác.
tưởng, họ phải luôn đối mặt với hàng loạt mâu thuẫn, các tình huống nảy sinh từ
thực tiễn. Do vậy, người học không được chần chừ, do dự, bỏ lỡ thời cơ, mà cần
chủ động thực hiện ý tưởng đã được “khai sáng”. Đặc biệt, trong lĩnh vực khoa
học xã hội và nhân văn quân sự, nhiều khi ý tưởng độc đáo xuất hiện hết sức đột
ngột, ý tưởng xuất hiện như “tia chớp” vụt thoáng qua, bỏ qua tất cả các bước,
các thao tác của tư duy và tại thời điểm ý tưởng loé sáng, người học có thể thấy
rõ các điều kiện cần thiết. Do đó, phải nhanh chóng nắm bắt lấy thời điểm
“vàng” xuất hiện ý tưởng và quyết tâm tổ chức thực hiện.
Trong quá trình thực hiện ý tưởng gặp khó khăn, hoặc tình hình có sự thay
đổi, người học nhanh chóng đưa ra các phương thức giải quyết tối ưu sao cho phù
hợp với thực tế. Để có sự chủ động, quyết đoán cao trong ý tưởng sáng tạo, người
học cần linh hoạt trong xử lý các vấn đề bằng sự tinh tế, nhạy cảm của hệ thống cơ
quan cảm giác, bằng trực giác quân sự. Yêu cầu cao về tính đa dạng trong phương
án xử lý tình huống, xem xét vấn đề theo nhiều chiều hướng khác nhau không
phiến diện, bất biến, dập khuôn, máy móc.
1.1.2. Thực chất phát triển ý tưởng sáng tạo của học viên sau đại học ở
Học viện Chính trị
Từ những phân tích khái lược trên đây có thể đưa ra khái niệm: Phát triển ý
tưởng sáng tạo của học viên sau đại học ở Học viện Chính trị là quá trình
tương tác tích cực, tự giác giữa chủ thể và đối tượng đào tạo nhằm tích hợp,
chuyển hoá lượng tri thức của người học theo hướng đưa ra những ý tưởng
mới nhằm giải quyết sáng tạo các mục tiêu, nhiệm vụ đặt ra đối với học viên
sau đại học trong từng giai đoạn của quá trình đào tạo sau đại học ở Học viện.
Thứ nhất, phát triển ý tưởng sáng tạo của học viên sau đại học ở Học viện
Chính trị là quá trình tương tác tích cực, tự giác, thường xuyên tác động, tiếp
nhận tác động giữa chủ thể đào tạo và đối tượng đào tạo diễn ra trong hoạt
động giáo dục - đào tạo sau đại học ở Học viện Chính trị.
Kết quả của quá trình phát triển ý tưởng sáng tạo của học viên sau đại học ở
tạo sau đại học ở Học viện Chính trị. Các nhân tố trong môi trường tác động đến
quá trình phát triển đó theo những hướng khác nhau, có hướng tích cực, tiêu cực.
Do đó, cần tạo ra hợp lực đủ mạnh, các tác nhân tích cực để thúc đẩy quá trình
phát triển ý tưởng sáng tạo của học viên sau đại học luôn đúng hướng. Điều này
đòi hỏi sự cố gắng, quyết tâm của tất cả các tổ chức, các lực lượng, trong đó đặc
biệt nhấn mạnh tới đội ngũ các nhà giáo, nhà khoa học tham gia trực tiếp vào
quá trình đào tạo sau đại học ở Học viện và sự nỗ lực không ngừng của mỗi học
viên.
Thứ hai, phát triển ý tưởng sáng tạo của học viên sau đại học ở Học viện
Chính trị là quá trình tích luỹ, chuyển hoá vốn tri thức, kiến thức, người học đưa
ra được những ý tưởng mới và hiện thực hoá chúng nhằm giải quyết tốt nhất các
nhiệm vụ đặt ra đối với mỗi học viên sau đại học ở Học viện.
Phát triển ý tưởng sáng tạo của học viên sau đại học được thực hiện trong
suốt quá trình đào tạo ở Học viện, là quá trình người học lựa chọn, tiếp nhận, tích
luỹ dần những lượng tri thức tổng hợp, tri thức lý luận chuyên ngành. Qua đó học
viên nâng cao nhận thức, hiểu biết, từng bước hoàn thiện, nâng cao trình độ, năng
lực tư duy, khả năng sáng tạo đưa ra ý tưởng mới. Trạng thái quá trình phát triển ý
tưởng sáng tạo của người học diễn ra theo xu thế không thể đảo ngược, phản ánh
tính tiệm tiến, liên tục thống nhất, bao hàm cả tính gián đoạn. Điều đó được thực
hiện qua các giai đoạn học bổ túc kiến thức, viết thu hoạch, bài tập, tiểu luận,
kiểm tra, thi, viết chuyên đề, tham gia các hoạt động khoa học khác, diễn ra theo
tiến độ đào tạo của từng học kỳ, năm học, khoá học. Trong quá trình đó, học viên
sau đại học sẽ trưởng thành, tiến bộ từng bước về tri thức, phương pháp, thao tác,
kỹ năng tư duy, sáng tạo ra ý tưởng mới. Người học chỉ có qua đào tạo cơ bản và
cùng với những trải nghiệm thực tiễn thì mới bảo đảm cho họ có trình độ sâu,
rộng, toàn diện về tri thức lý luận, làm cơ sở cho sự phát triển ý tưởng sáng tạo
của học viên sau đại học ở Học viện Chính trị ngày càng có chất lượng cao và trọn
vẹn.
học ở Học viện Chính trị cũng là quá trình giải quyết những mâu thuẫn nội tại. Đó
là biểu hiện của các mâu thuẫn nổi lên giữa xu hướng mong muốn phát hiện, tạo
lập, xây dựng, phát triển ý tưởng với một số nhân tố, bộ phận làm cản trở, suy
giảm tới quá trình phát triển đó. Đây là biểu hiện của cuộc đấu tranh giữa những
khó khăn, phức tạp, không thuận lợi với xu hướng tích cực, chủ động, bứt phá
vươn lên, sáng tạo trong học tập, nghiên cứu; là cuộc đấu tranh giữa cái mới và cái
cũ, cái tiến bộ với cái lạc hậu đang diễn ra giữa các nhân tố trong và bên ngoài liên
quan trực tiếp đến người học; đó là cuộc đấu tranh giải quyết mâu thuẫn ở mỗi
người học, mỗi tập thể học viên diễn ra trong đào tạo sau đại học ở Học viện.
Theo quan điểm chủ nghĩa duy vật biện chứng đã chỉ ra, ứng với những
điều kiện, hoàn cảnh nhất định thì mọi sự vật, hiện tượng mới có thể nảy sinh và
phát triển. Khi những điều kiện, hoàn cảnh thay đổi căn bản thì sự vật, hiện
tượng cũ trở nên lỗi thời, lạc hậu, đồng thời sẽ làm nảy sinh sự vật, hiện tượng
mới. Cái mới ra đời từ mảnh đất hiện thực và từ trong lòng cái cũ, trong cuộc
đấu tranh với cái cũ. Với ý nghĩa đó, phát triển ý tưởng sáng tạo của học viên sau
đại học ở Học viện Chính trị được xem như là cái mới trong giải quyết các vấn
đề về lý luận và thực tiễn. Do vậy, đấu tranh giữa cái cũ và cái mới, giữa cái tiến
bộ và cái lỗi thời, lạc hậu trong quá trình phát triển ý tưởng là một tất yếu khách
quan. Đó là quá trình đấu tranh khắc phục về những biểu hiện nhận thức chưa
đúng, chưa đầy đủ của người học về mục tiêu, yêu cầu, mô hình đào tạo, về vai
trò và sự cần thiết phát triển ý tưởng sáng tạo. Đó là quá trình đấu tranh khắc
phục, loại bỏ lối tư duy siêu hình, máy móc, thụ động, chủ quan, cứng nhắc thiếu
sáng tạo, thiếu mạnh dạn, quyết đoán. Đó còn là quá trình đấu tranh giữa khả
năng vận dụng các kiến thức, tri thức lý luận được trang bị cùng với các phương
pháp, thao tác, kỹ năng tư duy hướng vào giải quyết các nhiệm vụ trong quá
trình học tập, nghiên cứu khoa học còn hạn chế, bất cập. Hiệu quả quá trình đấu
tranh góp phần quyết định đến sự phát triển ý tưởng sáng tạo của người học. Con
đường đấu tranh giải quyết mâu thuẫn được thông qua nhiều hình thức, biện
Thứ năm, phát triển ý tưởng sáng tạo của học viên sau đại học là không
ngừng làm gia tăng, nảy nở các ý tưởng mới, những phương pháp hoạt động
sáng tạo trong học tập, nghiên cứu khoa học của người học ở Học viện Chính
trị.
Học viên sau đại học ở Học viện Chính trị có đầy đủ các tố chất cần thiết. Ở
họ luôn có sự nhạy cảm với cái mới, linh hoạt, sáng tạo, chủ động trong tiếp nhận
hệ thống tri thức. Bởi vì, trong quá trình học tập, nghiên cứu khoa học luôn xuất
hiện nhiều vấn đề mới mà lý luận chưa theo kịp hoặc giải quyết chưa thoả đáng,
người học trên cơ sở đó chủ động nắm bắt tình hình thực tiễn, xây dựng kế hoạch,
nội dung, phương pháp, cách thức học tập, nghiên cứu, mạnh dạn đưa ra ý tưởng
mới, những sáng kiến mới đáp ứng cho chính quá trình hoạt động đó.
Trước những vấn đề thực tiễn của đào tạo, học viên sau đại học ở Học viện
Chính trị luôn có trăn trở, suy nghĩ đặt ra câu hỏi làm thế nào để nâng cao chất
lượng học tập, nghiên cứu các môn khoa học xã hội nhân văn, học tốt các môn bổ
túc kiến thức, viết báo khoa học, viết luận văn, luận án không sa vào đường mòn
lối cũ, trùng lặp, giao thoa, đề xuất được các sáng kiến, phương pháp, mở ra
những hướng đi mới. Các bài báo khoa học, chuyên đề, đề tài, công trình luận văn,
luận án có tính ứng dụng cao, thể hiện được tính chất xã hội hoá. Trong các công
trình khoa học đó có đóng góp mới, xuất hiện các ý tưởng độc đáo, sáng tạo. Tuy
rằng những cái mới có thể chưa thật sự trọn vẹn về phương diện, góc độ lập luận,
luận giải, cần phải tiếp tục hoàn thiện, bổ sung. Tuyệt nhiên không phải là những
sản phẩm chỉ mang tính chất thuần tuý công bố kết quả của cá nhân, ở đó hàm
lượng khoa học sáng tạo ít, hoặc thậm chí không có.
Phát triển ý tưởng sáng tạo của học viên sau đại học ở Học viện Chính trị là
một quá trình đưa người học vào trạng thái cần phải phát huy tối đa mọi năng lực
trong phát hiện và giải quyết vấn đề, chỉ ra được cái mới về phương diện lý luận
trong thực tiễn hoạt động quân sự gắn với từng chuyên ngành đào tạo. Ở đó luôn
xuất hiện các tình huống có vấn đề đòi hỏi người học nghiên cứu, giải quyết, tìm
ra các thuộc tính mới, bản chất mới của sự vật, trên cơ sở đó cụ thể hoá, chuyển tải
viện Chính trị. Nó giúp cho người học đưa ra ý tưởng mới lạ, những sản phẩm độc
đáo, hợp lý ngay trong quá trình học tập, nghiên cứu. Cùng với các yếu tố khác của
ý tưởng, tính độc lập, sáng tạo trong quá trình thực hiện ý tưởng bảo đảm cho người
học ngày càng nhận thức sâu sắc, toàn diện, đi vào chiều sâu của các lớp đối tượng
nghiên cứu theo từng chuyên ngành đào tạo. Biết sáng tạo ra cái mới cho xã hội và
cho bản thân, tạo lập nên những phong cách mới, thích ứng hoà nhập và luôn phù
hợp với hoạt động quân sự nói riêng và xã hội nói chung.
Bốn là, các thao tác, kỹ năng đưa ra ý tưởng của học viên sau đại học trong
quá trình đào tạo ở Học viện. Người học thành thạo trong các khâu các bước tạo
lập, triển khai tổ chức thực hiện ý tưởng, khả năng vận dụng hệ thống tri thức,
phương pháp, kỹ năng tư duy và các thành tựu khoa học cùng với những kinh
nghiệm vào giải quyết các ý tưởng đã đề ra. Đây là một trong những tiêu chí
đánh giá trực tiếp sự phát triển ý tưởng sáng tạo. Sự phát triển này không chỉ dựa
vào các yếu tố tích cực chủ động, tự giác trong việc tiếp thu lĩnh hội tri thức mà
còn được đánh giá bằng các thông số, thao tác, kỹ năng vận hành, thực hành ý
tưởng thành hiện thực.
Trên cơ sở hệ tiêu chí cơ bản trên, việc đánh giá, phân loại mức độ phát
triển ý tưởng sáng tạo của học viên sau đại học ở Học viện, phải căn cứ chủ yếu
vào kết quả học tập, nghiên cứu khoa học của họ, đặc biệt chú ý tới những đóng
góp mới của học viên về mặt lý luận, các hệ thống giải pháp hướng vào giải
quyết các hoạt động thực tiễn quân sự. Chính kết quả học tập, nghiên cứu phản
ánh cả về mặt số lượng và chất lượng là thước đo đánh giá trực tiếp sự phát triển
ý tưởng sáng tạo của người học. Nó biểu hiện ở sự phát triển liên tục các kết quả
học tập cũng như chất lượng mới trong đào tạo sau đại học ở Học viện Chính trị.
1.2. Đặc điểm phát triển ý tưởng sáng tạo của học viên sau đại học ở
Học viện Chính trị
Phát triển ý tưởng sáng tạo của học viên sau đại học ở Học viện Chính trị là
một quá trình vừa làm khởi phát, nảy nở vừa gia tăng tính bền vững các yếu tố cấu