MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................................... 3
I. Tính cấp thiết của đề tài ....................................................................................3
II. Mục đích nghiên cứu........................................................................................6
III. Phạm vi nghiên cứu ........................................................................................6
IV. Hƣớng tiếp cận và phƣơng pháp nghiên cứu ...............................................6
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN........................................................................................... 8
1.1 TỔNG QUAN VỀ LƢU VỰC NGHIÊN CỨU .............................................8
1.1.1 Đặc điểm địa lý tự nhiên ............................................................................8
1.1.2 Đặc điểm khí tƣợng thủy văn ...................................................................14
1.2 HIỆN TRẠNG KINH TẾ XÃ HỘI VÀ PHƢƠNG HƢỚNG PHÁT
TRIỂN ..................................................................................................................34
1.2.1 Hiện trạng kinh tế xã hội tỉnh Thái Bình .................................................34
1.2.2 Xu thế biến đổi các quá trình tự nhiên và xu thế phát triển kinh tế xã hội
...........................................................................................................................39
1.3 QUAN ĐIỂM MỤC TIÊU QUY HOẠCH PHÒNG CHỐNG LŨ ...........44
1.3.1 Quan điểm quy hoạch...............................................................................44
1.3.2 Mục tiêu quy hoạch ..................................................................................45
1.3.3 Các chỉ tiêu tính toán thiết kế phòng chống lũ .........................................45
1.3.4 Mức đảm bảo phòng chống lũ tuyến sông ...............................................46
CHƢƠNG 2: TÍNH TOÁN LŨ THIẾT KẾ CHO SÔNG TRÀ LÝ ......................... 49
2.1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT MÔ HÌNH MIKE 11 ...............................................49
2.2 ỨNG DỤNG MÔ HÌNH TÍNH TOÁN THỦY LỰC CHO HỆ THỐNG
SÔNG TRÀ LÝ ...................................................................................................54
2.2.1 Phạm vi nghiên cứu của mô hình thủy lực ...............................................54
2.2.2 Biên tính toán mô hình thủy lực ...............................................................56
2.2.3 Tài liệu địa hình mạng lƣới sông .............................................................56
2.2.4 Tài liệu thuỷ văn.......................................................................................57
2.2.5 Tính toán mô phỏng thủy lực hệ thống sông ...........................................58
2.3 TÍNH TOÁN LŨ THIẾT KẾ TUYẾN SÔNG TRÀ LÝ ...........................66
2.3.1 Tính toán biên mạng thủy lực hệ thống sông ...........................................66
thống sông Hồng tiếp giáp với biển Đông. Sông Trà Lý có hƣớng chung là Tây Đông. Bắt đầu từ xã Hồng Minh, huyện Hƣng Hà tỉnh Thái Bình, chảy quanh co,
uốn khúc qua Quyết Chiến, Đồng Phú, Đông Phù của huyện Đông Hƣng, Thành
Phố Thái Bình, Đông Huy rồi đến Thái Hà, Thái Phúc của huyện Thái Thụy đổi
hƣớng Bắc-Nam đến Thái Thành, Thái Thọ cuối cùng tới Định Cƣ rồi đổ ra Vịnh
Bắc Bộ tại cửa Trà Lý. Sông dài 64 km, và là một con sông tự nhiên, mới chỉ chịu
tác động của con ngƣời là việc đắp đê hai bên bờ và ngăn các sông nhỏ bằng các
cống. Sông Trà Lý chảy dọc theo vùng kẹp giữa sông Hồng và sông Hóa, chia vùng
này thành hai hệ thống thủy lợi tách biệt: hệ thống bắc và hệ thống nam. Là vùng
đồng bằng ở hạ du sông Hồng lại ở ven biển nên hệ thống sông ngòi ở đây đều chịu
ảnh hƣởng của chế độ thủy triều. Mặt khác chế độ thủy văn của sông này cũng chịu
ảnh hƣởng của nguồn nƣớc thƣợng lƣu. Mùa lũ tăng dần từ tháng V đến tháng VIII
và hạ dần từ tháng IX.
Phòng chống lũ là chƣơng trình ảnh hƣởng lớn đến sự phát triển kinh tế của
tỉnh Thái Bình nói riêng và của cả nƣớc nói chung. Hệ thống công trình chống lũ
dọc theo sông Trà Lý chủ yếu là hệ thống đê sông, đê cửa sông, ngoài ra còn có
hàng chục km các tuyến đê bối, hàng trăm công trình dƣới đê. Hệ thống đê đã phát
huy hiệu quả rất tốt, đảm bảo an toàn cho các vùng dân sinh kinh tế xã hội ven sông
trong suốt thời gian dài.
Tuy nhiên do sức ép của quá trình phát triển kinh tế - xã hội, việc khai thác
các khu vực bãi sông, lòng sông bừa bãi, không có quy hoạch cụ thể, thiếu sự kiểm
soát và đã ở mức đáng báo động: các đê bối ngày càng lấn ra phía lòng sông và
đƣợc tôn tạo cao hơn, dân cƣ vùng bãi sông trở nên đông đúc và bùng phát việc xây
dựng nhà cửa, lấn chiếm bờ làm co hẹp lòng sông, bãi sông... Mặt khác, diễn biến lũ
trong những năm gần đây ở đồng bằng Bắc bộ rất phức tạp do các nguyên nhân
chính nhƣ thay đổi khí hậu, phá rừng, triều cƣờng, bão, nƣớc biển dâng. Xu thế biến
3
đổi khí hậu toàn cầu ngày càng bất lợi, lũ lụt thƣờng xuyên và lớn hơn, nạn thiếu
bảo đảm chống đƣợc lũ tƣơng ứng với mực nƣớc sông Thái Bình tại trạm Phả Lại là
7,2 m. Đối với hệ thống đê điều các vùng khác bảo đảm chống đƣợc lũ tƣơng ứng
với mực nƣớc sông Hồng tại trạm Long Biên là 13,1 m, phần lƣu lƣợng vƣợt quá
khả năng trên đƣợc sử dụng các giải pháp khác nhƣ: điều tiết hồ chứa, phân lũ,
chậm lũ, cải tạo lòng sông thoát lũ... Các giải pháp phòng, chống lũ hệ thống sông
Hồng, sông Thái Bình bao gồm: điều tiết các hồ chứa cắt giảm lũ; trồng rừng phòng
hộ đầu nguồn; củng cố và nâng cấp hệ thống đê điều; cải tạo lòng dẫn tăng khả năng
thoát lũ; thực hiện phân lũ, chậm lũ, tràn qua các đƣờng tràn cứu hộ và có giải pháp
bảo đảm an toàn đê trong trƣờng hợp tràn toàn tuyến; tổ chức cứu hộ đê.
Sông Trà Lý hiện tại chƣa có quy hoạch phòng chống lũ chi tiết cho tuyến
sông, nên việc tổ chức quản lý và khai thác hợp lý các khu vực bãi sông kết hợp hài
hoà giữa đảm bảo phòng, chống lũ và phát triển kinh tế trung hạn và dài hạn còn
nhiều hạn chế, các công trình dự kiến xây dựng không triển khai đƣợc do chƣa có
quy hoạch, do thiếu cơ sở pháp lý: Nhiều đoạn đê chƣa bảo đảm yêu cầu thiết kế,
nhiều công trình dƣới đê bị xuống cấp cần bổ sung, nâng cấp; Vấn đề vi phạm hành
lang thoát lũ sông trục và hành lang bảo vệ đê điều vẫn xảy ra thƣờng xuyên; Việc
xác định chỉ giới thoát lũ cho các tuyến sông này cần đƣợc thực hiện.
Vì những lý do nêu trên việc xây dựng Quy hoạch phòng chống lũ chi tiết
cho sông Trà Lý để làm cơ sở cho việc lập và điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất,
quy hoạch xây dựng ở khu vực ngoài bãi sông đáp ứng nhu cầu phát triển của các
ngành kinh tế xã hội và đảm bảo thoát lũ, an toàn đê điều và phòng, chống lụt, bão
là cần thiết và cấp bách. Đây cũng là lý do dẫn đến sự hình thành của luận văn:
“Ngiên cứu quy hoạch lũ chi tiết cho sông Trà Lý tỉnh Thái Bình”. Kết quả nghiên
cứu sẽ là một phƣơng án tham khảo cho việc đƣa ra các phƣơng án sử dụng các bối
trong quá trình định hƣớng hoàn thiện các giải pháp phòng, chống lũ phù hợp với
các quy hoạch khác về phát triển kinh tế - xã hội; đảm bảo an ninh quốc phòng;
chiến lƣợc phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai của tỉnh trong giai đoạn mới.
chiều và sử dụng mô hình 1 chiều tìm ra đƣợc phƣơng án sử dụng các bỗi bãi
trong quá trình quy hoạch lũ cho sông Trà Lý tỉnh Thái Bình.
Phƣơng pháp nghiên cứu: Phƣơng pháp mô hình thủy lực mô phỏng quá
trình thủy động lực học trên hệ thống sông Trà Lý.
7
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1 TỔNG QUAN VỀ LƢU VỰC NGHIÊN CỨU
1.1.1 Đặc điểm địa lý tự nhiên
a. Vị trí địa lý
Sông Trà Lý có hƣớng chung là Tây - Đông. Bắt đầu từ xã Hồng Minh,
huyện Hƣng Hà tỉnh Thái Bình, chảy quanh co, uốn khúc qua Quyết Chiến của
huyện Đông Hƣng, Thành Phố, TP Thái Bình, Đông Mỹ, Đông Huy rồi đến Thái
Hà, Thái Phúc của huyện Thái Thụy đổi hƣớng Bắc-Nam đến Thái Thành, Thái Thọ
cuối cùng tới Định Cƣ rồi đổ ra Vịnh Bắc Bộ tại cửa Trà Lý. Sông dài 64 km, là
một con sông tự nhiên, mới chỉ chịu tác động của con ngƣời là việc đắp đê hai bên
bờ và ngăn các sông nhỏ bằng các cống.
+ Bờ hữu sông Trà Lý gồm các huyện Vũ Thƣ, Thành phố Thái Bình, Kiến
Xƣơng, Tiền Hải
+ Bờ tả sông Trà Lý gồm các huyện Hƣng Hà, Đông Hƣng, TP. Thái Bình,
Thái Thụy
b. Đặc điểm địa hình
Địa thế chung của khu vực: Nằm dốc thoải từ Tây Bắc xuống Đông Nam. Từ
sông Hồng ra đến biển cửa Ba Lạt, từ cửa vào sông Trà Lý đến cửa ra sông Trà Lý
(biển). Từ ven sông Luộc ra tới biển cũng thoải dần theo hƣớng chảy của các sông
vực sông Hồng tính đến Sơn Tây là 143.700 km2, sông Thái Bình là 12.680 km2,
vùng đồng bằng gồm cả sông Tích, sông Bôi là 12.640 km2. Hệ thống sông Hồng,
sông Thái Bình đƣợc hợp thành bởi các lƣu vực sông sau đây:
Sông Thao (dòng chính sông Hồng) bắt nguồn từ dãy Ngụy Sơn - Trung
Quốc có diện tích lƣu vực 51.800 km2, tổng chiều dài 843 km. Thuộc
lãnh thổ Việt Nam có diện tích 12.000 km2 và chiều dài tới Việt Trì 332
km.
Sông Đà, chi lƣu bên phải cũng bắt nguồn từ dãy Ngu Sơn chảy vào
Việt Nam theo hƣớng Tây Bắc - Đông Nam và song song với sông Thao.
Sông Đà có diện tích lƣu vực là 52.900 km2, chiều dài 1010 km. Trên
lãnh thổ Việt Nam có diện tích 26.800 km2 và chiều dài 570 km.
9
Sông Lô bắt nguồn từ cao nguyên Vân Quý Trung Quốc, đầu nguồn cũng
chảy theo hƣớng Tây Bắc - Đông Nam, tới thị xã Hà Giang thì chuyển
hƣớng Bắc Nam và nhập vào sông Hồng ở gần Việt Trì, sông Lô có diện
tích lƣu vực 39.000 km2, chiều dài 470 km, diện tích thuộc lãnh thổ Việt
Nam 22.600 km2 với chiều dài 275 km. Sông Lô có phụ lƣu là sông Gâm,
sông Chảy và sông Phó Đáy.
Sông Thái Bình có diện tích lƣu vực 12.680 km2 gồm sông Cầu
(6.030)km2, sông Thƣơng (3.580 km2) và sông Lục Nam (3.070 km2).
Toàn bộ lƣu vực sông Thái Bình nằm trên lãnh thổ Việt Nam trên vùng
đồi núi thấp vùng Đông Bắc.
Mạng lƣới sông hạ du thuộc địa phận vùng nghiên cứu
Sông Hồng phân nƣớc qua sông Thái Bình qua hai phân lƣu lớn là sông
Đuống (dài 64 km), sông Luộc (dài 72,4km). Sông Hồng còn phân nƣớc
sang sông Đáy qua sông Nam Định (dài 31,5 km) và chảy thẳng ra biển
(Vịnh Bắc Bộ) ở cửa Ba Lạt và hai phân lƣu nữa là sông Trà Lý (dài 64
Hồng. Sông Trà Lý có hƣớng chung là Tây – Đông. Bắt đầu từ xã Hồng
Minh, huyện Hƣng Hà tỉnh Thái Bình, chảy quanh co, uốc khúc qua
Quyết Chiến, Đồng Phú, Đồng Phú của huyện Đông Hƣng, TP. Thái
Bình, Đông Mỹ, Đông Huy rồi đến Thái Hà, Thái Phúc của huyện Thái
Thu đột ngột đổi hƣớng Bắc – Nam đến Thái Thành, Thái Thọ cuối
cùng tới Định Cƣ rồi đổ ra Vịnh Bắc Bộ tại cửa Trà Lý. Sông dài 64 km.
Sông Trà Lý vẫn là sông thiên nhiên, mới chỉ có tác động của con ngƣời
là đê đƣợc đắp hai bên bờ và ngăn các sông nhỏ bằng các cống.
Sông Trà Lý chảy qua vùng đất thấp, cốt đất đoạn cửa vào phổ biến là
khoảng (+1,0)m và đoạn cửa ra khoảng trên dƣới (+0,75m). Riêng vùng
Bắc Thái Bình có 24200 ha ruộng có cốt đất thấp dƣới (+1,00m) về vụ
mùa thƣờng hay bị ngập úng; có 15100 ha ruộng có cốt đất nhỏ hơn
(+0,75)m. Vùng Nam Thái Bình cũng ở tình trạng nhƣ vậy (hƣớng dốc ra
cửa Lân).
Ngày nay đê sông Hồng, sông Luộc, sông Trà Lý, sông Hoá đã hình thành
khá hoàn chỉnh, căn bản ngăn đƣợc lũ hạ lƣu sông Hồng. Tuy còn một số đoạn đê
chất lƣợng nền móng kém, nhƣng thân đê ngày càng đƣợc kiên cố hơn.
11
Hệ thống đê và các cống lấy nƣớc phía bờ hữu sông Luộc, tả sông Hồng, hữu
sông Hoá và hai bên tả, hữu sông Trà Lý đã ngăn cách nƣớc lũ sông ngoài bao
quanh vận hành chống lũ tiêu thoát nƣớc nội đồng và lấy nƣớc cấp cho nội đồng
phục vụ sản xuất, sinh hoạt, đẩy và rửa mặn, thau chua… khi đƣợc phép mở cống,
đặc biệt trong các tháng mùa kiệt. Các hệ thống thuỷ nông các sông nội đồng đã
đƣợc hình thành, tạo thành hai khu thuỷ lợi chính của tỉnh Thái Bình: khu Bắc Thái
Bình và khu Nam Thái Bình.
a. Trong khu Bắc Thái Bình có các trục dẫn nƣớc có hƣớng chung phù hợp
với thế đất và địa hình nội đồng là từ Tây Bắc chảy xuống Đông Nam ra Vịnh Bắc
c. Đặc điểm hình thái và diễn biến sông Trà Lý
Sông Trà lý dài khoảng 64 km, sông quanh co uốn khúc, nhiều đoạn sông có
bán kính cong khá nhỏ khoảng trên dƣới 500m, nhƣng cũng có đoạn bán kính cong
lớn khoảng một vài nghìn mét. Bề rộng của sông cũng biến thiên lớn, nhiều đoạn
sông có bề rộng chỉ khoảng hơn trăm mét, nhiều đoạn rộng đến vài trăm mét.
Bảng 1. Các thông số lòng dẫn sông Trà Lý
TT
Đoạn sông cong
1
2
3
4
5
6
7
8
K1+460 tả TL
K2+830 hữu TL
K14 tả TL
K22+160 tả TL
K36 hữu TL
K39+620 hữu TL
K4+30 đê biển 7
K13+130 đê biển 7
Bc
(m)
động trong khoảng 8% -11% tùy theo trận lũ và tùy địa hình lòng dẫn của sông Trà
Lý tƣơng ứng với lòng dẫn của hệ thống sông Hồng.
-
Trong thời đoạn 1972 ÷ 1987 lƣu lƣợng đỉnh lũ bình quân ở Sơn Tây là
17.540m3/s (coi 100%) thì phân lƣu lƣợng lũ bình quân vào sông Trà Lý
1.380m3/s chiếm 8,6% lƣu lƣợng sông Hồng ở Sơn Tây.
-
Lũ tháng VIII năm 1971 lớn nhất ở sông Hồng sau khi đã vỡ đoạn đê
Cống Thôn ở sông Đuống thì Qmax Hà Nội còn đạt 22.200m3/s và lƣu
lƣợng max qua sông Trà Lý 2.610m3/s.
-
Lũ tháng VIII năm 1969: Hà Nội 17.800m3/s, thì lƣu lƣợng qua Quyết
Chiến sông Trà Lý 2.440m3/s.
-
Lũ năm tháng VIII/1996 lƣu lƣợng Hà Nội là 14.800m3/s thì lƣu lƣợng
qua Quyết Chiến là 2180 m3/s.
Qua đó có thể thấy rằng sông Trà Lý là một phân lƣu quan trọng trong thoát lũ của
hệ thống sông Hồng và đồng bằng Bắc Bộ.
1.1.2 Đặc điểm khí tƣợng thủy văn
a. Đặc điểm khí hậu
Mùa đông: bắt đầu từ tháng XI tới tháng III , gió mùa đông bắc đã ngự trị
hoàn toàn trong vùng nghiên cứu với trung bình từ 2 tới 4 đợt gió mùa Đông bắc
tràn về, nhiệt độ giảm xuống nhanh chóng và đạt thấp nhất vào tháng I. Nhiệt độ
trung bình tháng I đạt 16-16,80C, nhiệt độ thấp nhất tuyệt đối đạt 4,5 tới 7,00C.
Lƣợng mƣa trung bình tháng XII, I chỉ bằng 1,2 -1,5% lƣợng mƣa năm.
Vào cuối mùa đông từ tháng II tới tháng IV áp cao Nam Trung Hoa dịch
chuyển sang phía đông gió mùa có hƣớng lệch sang đông bị biến tính khi thổi qua
biển Nam Hải nhiệt độ không khí cao hơn và độ ẩm tƣơng đối đạt 90-91% bầu trời
u ám mây thấp và mƣa phùn ẩm ƣớt, số ngày mƣa lên đến 15-20 ngày mỗi tháng,
lƣợng bốc hơi piche giảm chỉ còn 30-40mm/tháng.
* Nhiệt độ
Nhiệt độ trung bình năm vùng nghiên cứu đạt 23,30C tại Thái Bình. Nhiệt độ
trung bình tháng cao nhất vào tháng VII đạt 29,20C, thấp nhất vào tháng I đạt
15
16,30C. Nhiệt độ tối cao đạt 39,20C vào tháng 5/VII/1967, nhiệt độ tối thấp đã quan
trắc đƣợc 4,10C vào 2/I/1974.
Bảng 2. Đặc trƣng khí hậu tại trạm Thái Bình
Trạm
VI VI
XI Nă
IX X XI
I
II
I
m
16. 17. 19. 23. 26. 28. 29. 28. 27. 24. 21. 17. 23.
6
2.4 2.4 2.2 2.4 2.3 2.3 2.5 1.8 1.8 2.1 2.1 2.1 2.2
I
Nhiệt độ (oC)
Nắng (giờ)
Độ ẩm (%)
Bốc hơi Piche
(mm)
Tốc độ gió
II
III
IV
V
VI
* Nắng
Vùng nghiên cứu có số giờ nắng hàng năm khoảng 1600 giờ, tháng có số giờ
nắng nhiều nhất là từ tháng V đến tháng VII, tháng nhiều nhất là tháng VII trong
năm, đạt 205 giờ/tháng, 6,6giờ/ ngày. Tháng có số giờ nắng ít nhất là từ tháng I đến
tháng III có từ 40 ÷ 70 giờ/ tháng đạt bình quân 1 đến 2 giờ/ ngày. Nhìn chung số
giờ nắng các tháng trong năm thuận lợi cho phát triển của cây trồng, đặc biệt là các
tháng mùa hè.
* Bốc hơi
Độ ẩm tƣơng đối trung bình trong các tháng phổ biến đều vƣợt trên 80%. Độ
Đến tháng 10, gió tây nam yếu và tan đi, áp cao phía Bắc hoạt động mạnh
dần lên và đi về phía đông, bắt đầu hình thành hoàn lƣu gió mùa mùa đông.
Gió mùa mùa đông cũng đƣợc chia làm hai thời kỳ khác nhau:
- Đầu mùa đông từ tháng 10 đến tháng 1 năm sau là thời kỳ lạnh và khô.
Nguyên do áp cao Xiberi tràn qua lục địa Trung Quốc từ phía Bắc xuống Việt Nam.
- Giai đoạn cuối mùa đông từ tháng 1 đến tháng 4, không khí lạnh biến tính
qua biền tới Bắc Bộ cho thời tiết lạnh ẩm, có mƣa phùn kèm theo.
Vào mùa đông, luôn có sự tranh giành ảnh hƣởng của tín phong và gió mùa cực đới,
do đó thể hiện tính biến động mạnh mẽ: xen kẽ thời tiết lạnh khác thƣờng của gió
mùa cực đới và thời tiết ấm áp của tín phong. Mùa hạ cũng xảy ra sự tranh giành
17
ảnh hƣởng của gió mùa mùa hạ và tín phong xảy ra ở dãy hội tụ- đó là nguyên nhân
gây mƣa mùa hạ.
Trong vùng không có sự phân hóa đáng kể từ nơi này qua nơi khác.
Bão là nhiễu động thời tiết mạnh mẽ nhất trong cơ chế gió. Bản chất của bão
là vùng áp thấp khá sâu phát triển trên rãnh nội chí tuyến vùng biển nhiệt đới phía
đông nƣớc ta. Bão gây mƣa lớn kéo dài vài ngày, lƣợng mƣa lớn từ 100-300 mm
(hoặc hơn) trên diện rộng 100-200 km2 xung quanh tâm bão.
Theo kết quả thống kê 403 trận bão đổ bộ vào Việt Nam trong vòng 100 năm
thì có 126 trận (tức 31%) đổ bộ vào vùng biển từ Quảng Ninh đến Ninh Bình.
Trong đó xảy ra vào tháng IX có 37 trận, tháng VII có 35 trận và tháng VIII có 26
trận (cũng là những tháng xảy ra lũ lớn).
Tốc độ gió mạnh làm dâng mực nƣớc biển. Trong 101 trận bão gây nƣớc
dâng thống kê đƣợc từ Cửa Ông đến Cửa Đáy, thì có 35 trận gây nƣớc dâng thấp
hơn 0,50 m, 38 trận gây nƣớc dâng từ 0,5÷1,0 m, 17 trận gây nƣớc dâng 1,00 ÷ 1,50
m, 8 trận gây nƣớc dâng từ 1,50-2,00 m, 3 trận gây nƣớc dâng 2,0-2,5 m và không
có trận gây nƣớc dâng cao hơn 2,5 m.
Bảng 3. Lƣợng mƣa 1 ngày max và 3 ngày max vùng nghiên cứu
Tên Trạm
TP. Thái Bình
Tiền Hải
Kiến Xƣơng
Tiên Hƣng
Thái Thu
Thuyền Quan
Phủ Dực
Bến Hiệp
Tên
trạm
Thái
Bình
Tiền
Hải
Mƣa 1 ngày max
300,0 mm (1990)
353,5 mm (1990)
313,3 mm (1982)
428,0 mm (1975)
408,5 mm (1963)
317,3 mm (1966)
379,2 mm (1978)
357,5 mm (1978)
Mƣa 3 ngày max
454,0 mm (1990)
.9
5
5
3.1
1.5 1.5 2.6 4.5 9.9 11. 13. 17. 19. 12. 4.1 1.5
K%
100
1
8
8
1
7
18 34 80 67 05 9
2
X(m 22. 28. 40. 61. 151 154 200 320 353 221 66. 16. 163
m)
4
7
4
3
.0
.8
.7
.8
.2
.7
9
6
8.6
X(m
m)
K%
X(m
m)
K%
X(m
m)
K%
X(m
m)
K%
X(m
m)
K%
I
II
III IV
1.3
7
20.
7
1.3
1
21.
8
3
1.4
8
28.
9
1.7
5
24.
8
1.5
8
27.
9
1.7
9
2.4
7
44.
3
2.8
1
49.
5
3.2
0
42.
1
2.5
6
6
81.
1
5.1
6
69.
7
4.4
7
V
VI
VII
VII
I
IX
X
XI
XI
I
9.2
1
29
184
.7
11.
93
190
.5
11.
58
190
.6
11.
52
186
.5
11.
86
193
.3
12.
40
12.
25
191
.7
12.
17
200
.7
.9
19.
87
315
.5
19.
07
294
.5
18.
74
293
.5
18.
83
21.
56
356
.2
22.
61
282
.1
18.
22
319
.8
19.
44
70
166
.6
10.
60
159
.1
10.
21
4.0
8
62.
9
3.9
9
62.
1
4.0
1
62.
0
3.7
7
69.
1
4.1
8
58.
7
8
1.4
7
Nă
m
100
157
5.2
100
154
8.1
100
164
4.8
100
165
4.1
100
157
1.8
100
155
8.6
100
* Các nhiễu động thời tiết gây mƣa lớn
Các tác nhân gây mƣa lớn là các nhiễu động trong cơ chế gió mùa gồm các
nhiễu động kiểu front, kiểu hội tụ, rãnh, xoáy hoặc dông nhiệt. Nhiễu động có
cƣờng độ biến đổi càng lớn thì tác động gây mƣa càng lớn. Nhiễu động có tác động
Tới đầu tháng 9 trục của rãnh hƣớng dần theo vĩ tuyến và có vị trí trung bình ở
khoảng Trung Bộ.
Sang tháng 10 vị trí trung bình của trục rãnh ở các vĩ độ thấp và nhanh chóng
lùi về phía Nam bán cầu.
Hội tụ nội chí tuyến hoạt động rõ nét nhất trong tháng 8 đặc biệt ở lƣu vực
sông Thái Bình, sông Lô, Trung hạ lƣu sông Thao và hạ lƣu sông Đà.
Tuy nhiên có những năm gió mùa Tây Nam mạnh nhƣ năm 1964, 1990, 1991
thì ngay trong tháng 8 hội tụ nội chí tuyến cũng không thâm nhập đƣợc vào Bắc Bộ.
ngƣợc lại năm 1992 gió mùa Tây Nam yếu nên ngay trong tháng 7 giải hội tụ nhiệt
đới đã xâm nhập nhiều lần vào lãnh thổ của các lƣu vực sông Thái Bình, sông Lô,
và Thao.
Bão là nhiễu động thời tiết mạnh mẽ nhất trong cơ chế gió mùa. Bản chất của
bão là vùng áp thấp khá sâu phát triển trên rãnh nội chí tuyến vùng biển nhiệt đới
phía đông nƣớc ta trên Thái Bình Dƣơng.
21
b. Đặc điểm thủy văn
*Dòng chảy năm
Nguồn nƣớc trong vùng nghiên cứu bao gồm nguồn nƣớc sinh tại chỗ và
nguồn nƣớc ngoại lai chảy vào vùng từ các sông suối của hệ thông sông Hồng –
Thái bình ở phần hạ lƣu.
Nƣớc do mƣa trong vùng: Với tổng lƣợng mƣa năm trung bình nhiều năm
trong vùng là 1610mm, nhƣng vì Thái Bình là vùng đồng bằng ven biển không có
điều kiện xây dựng các hồ chứa nên lƣợng nƣớc này phần lớn chảy ra biển chỉ tích
lại một phần nhỏ trong các lòng sông, ao hồ vùng trũng.
Lƣợng nƣớc ngoại lai chảy vào vùng nghiên cứu: Nguồn nƣớc chảy vào
vùng nghiên cứu là nguồn nƣớc từ các phân lƣu ở châu thổ sông Hồng –Thái Bình
gồm
- Phân qua sông Rạng ở Quảng Đạt: 9,6% sau đó phân sang sông Lạch Tray
5,6%.
•Phân phối dòng chảy dọc sông Kinh Thày
- Phân sang Kinh Môn ở An Phụ: 22%.
Từ 1988 tới nay do có sự vận hành của hồ chứa lớn Hòa bình và từ năm 2006
có thêm sự vận hành của hồ Tuyên Quang nên tỷ lệ phân dòng chảy mùa lũ và mùa
cạn từ sông Hồng sang sông Đuống tăng lên đạt trung bình là 29% về mùa cạn và
30% về mùa lũ và lƣợng nƣớc sông Hồng qua mặt cắt Hà Nội cũng giảm về mùa lũ
và mùa cạn chỉ còn 76% về mùa cạn và 72% về mùa lũ. Do sự thay đổi tỷ lệ trên
nên lƣợng nƣớc qua sông Kinh Thày, Văn Úc có tăng lên khi nhận lƣợng nƣớc của
sông thái Bình và sông Hồng qua sông Đuống và lƣợng nƣớc sông Văn Úc nhận từ
sông Luộc qua sông Mới và lƣợng nƣớc của sông Luộc qua sông Hóa sẽ giảm đi do
sự giảm tỷ lƣu của dòng chính sông Hồng.
Bảng 5. Phân phối lƣu lƣợng mùa lũ, mùa cạn trƣớc và sau khi có hồ chứa lớn Hòa
Bình.
Tháng
Thời kỳ (1956-1987)
%Q
Sơn
Hà
Thƣợn
Sơn
Tây
Nội
g Cát
Tây
(m3/s (m3/s
(%) (m3/s)
)
Tháng
Sơn
Tây
(m3/s
)
11
2762
12
1679
1
1283
2
1072
3
905
4
1072
5
3557
1525
6402
1016
Thời kỳ (1956-1987)
%Q
Hà
Thƣợn
Sơn
Nội
g Cát
Tây
(m3/s
(%) (m3/s)
)
79,
2187
688
2
81,
1371
368
6
81,
1043
237
3
82,
2
75,
3130
1077
9
2699 79
881
1235 82
318
4748 74
1669
852
84
24,
9
21,
9
18,
5
17,
3
17,
0
18,
4
20,
9
24,
7
76,
1432 1090
435
1
74,
1296 967
368
6
75,
1217 924
339
9
75,
1302 988
367
9
77,
1467 1135
419
3
74,
2258 1680
654
4
69,
4699 3263
1362
4
72,
179
1016
76
375
%Q
Sơn
Tây
(%)
30,
1
30,
4
28,
4
27,
8
28,
2
28,
6
29,
0
29,
0
31,
- Trong thời đoạn 1972 ÷ 1987 lƣu lƣợng đỉnh lũ bình quân ở Sơn Tây là
17.540m3/s (coi 100%) thì phân lƣu lƣợng lũ bình quân vào sông Đuống ở
Thƣợng Cát là 4.580m3/s chiếm 29,1%, vào sông Luộc 1360m3/s chiếm 8,6%
vào sông Nam Định 3570m3/s chiếm 23%, vào sông Trà Lý 1.380m3/s chiếm
8,6% vào sông Ninh Cơ 5,7%, ở Phú Hào còn 29% lƣu lƣợng sông Hồng ở
Sơn Tây.
- Lũ tháng VIII năm 1971 lớn nhất ở sông Hồng sau khi đã vỡ đoạn đê Cống
Thôn ở sông Đuống thì Qmax Hà Nội còn đạt 22.200m3/s Thƣợng Cát lên tới
9.000m3/s, Triều Dƣơng (sông Luộc) đạt 2.450m3/s, sông Nam Định
6.700m3/s, sông Trà Lý 2.610m3/s, sông Ninh Cơ và sông Hồng còn khoảng
11.000m3/s.
- Lũ tháng VIII năm 1969: Hà Nội 17.800m3/s, Thƣợng Cát 7.860m3/s, Nam
Định 5.970m3/s, Triều Dƣơng (sông Luộc 2.200m3/s, Quyết Chiến (sông Trà
Lý) 2.440m3/s, Trực Phƣơng (sông Ninh Cơ) 1.736m3/s; Trên sông Hồng:
Sơn Tây 19.900m3/s thực đo (hoàn nguyên là 27.400m3/s), Hà Nội
14.800m3/s thực đo, Thƣợng Cát 5.740m3/s thực đo.
Bảng 6. Mực nƣớc lũ lớn nhất của các trận lũ lớn đã xẩy ra trên các sông Hồng và
các phân lƣu ở hạ du
TT
Tram thuỷ
Sông
Năm 1969
Năm 1971
Năm 1996
25