Tình hình bệnh viêm tử cung, viêm vú và thử nghiệm một số phác đồ điều bệnh trên đàn lợn nái ngoại tại trang trại chăn nuôi bùi huy hạnh thuộc xã tái sơn tứ kỳ hải dương - Pdf 40

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
----------------------------------

NGUYỄN THỊ LIỀN
Tên đề tài:
TÌNH HÌNH BỆNH VIÊM TỬ CUNG, VIÊM VÚ VÀ
THỬ NGHIỆM MỘT SỐ PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ BỆNH TRÊN ĐÀN
LỢN NÁI NGOẠI TẠI TRANG TRẠI CHĂN NUÔI BÙI HUY HẠNH,
XÃ TÁI SƠN - TỨ KỲ - HẢI DƢƠNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo:
Chuyên ngành:
Khoa:
Khoá học:

Chính quy
Thú y
Chăn nuôi Thú y
2011 - 2016

Thái Nguyên, năm 2015


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-----------------------------------

NGUYỄN THỊ LIỀN

và làm báo cáo tốt nghiệp.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy hướng dẫn, người đã dành
nhiều thời gian quý báu, tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình
nghiên cứu và hoàn thành khoá luận.
Nhân dịp này tôi cũng xin gửi lời cám ơn chân thành tới:
Cán bộ công nhân viên trại lợn Bùi Huy Hạnh, Xã Tái Sơn - Tứ Kỳ Hải Dương đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài trong quá trình thực
tập tại cơ sở.
Ban chủ nhiệm cùng toàn thể các thầy cô giáo trong khoa Chăn nuôi Thú y,
đã tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập, thực tập, nghiên cứu và hoàn
thành khóa luận.
Cuối cùng tôi xin chân thành cám ơn gia đình, người thân, bạn bè,
những người luôn tạo điều kiện, động viên, giúp đỡ tôi vượt qua mọi khó
khăn trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành khoá luận.
Trong quá trình thực tập, bản thân tôi không tránh khỏi những thiếu sót.
Kính mong được sự quan tâm giúp đỡ, đóng góp ý của các thầy cô giáo để bài
khóa luận được hoàn thiện hơn.
Tôi xin trân trọng cám ơn!
Thái Nguyên, ngày

tháng

Sinh viên
Nguyễn Thị Liền

năm 2015


ii

DANH MỤC CÁC BẢNG


:Thể trọng

E.coli

: Escherichia coli

PGF2α : Prostaglandin F2α
Nxb

: Nhà xuất bản

VTM

: Vitamin

VĐSD : Viêm đường sinh dục
Tb

: Trung bình


iv

MỤC LỤC
Trang
Phần 1. MỞ ĐẦU ............................................................................................ 1
1.1. Đặt vấn đề ............................................................................................... 1
1.2. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài ................................................................ 2
1.2.1. Mục tiêu của đề tài ............................................................................ 2

4.1.3. Thụ tinh nhân tạo cho lợn nái ......................................................... 39
4.1.4. Công tác thú y ................................................................................. 40
4.2. Kết quả nghiên cứu và thảo luận........................................................... 51
4.2.1. Cơ cấu đàn lợn nái của trại ............................................................. 51
4.2.2. Tình hình mắc bệnh viêm tử cung, viêm vú ở đàn lợn nái ngoại tại
trang trại .................................................................................................... 52
4.2.3. Hiệu quả của một số phác đồ điều trị bệnh viêm tử cung, viêm vú 57
4.2.4. Hạch toán chi phí ............................................................................ 59
Phần 5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ ............................................................. 60
5.1. Kết luận ................................................................................................. 60
5.2. Đề nghị .................................................................................................. 60
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 62


1
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Chăn nuôi lợn là một nghề truyền thống có từ lâu đời của nhân dân ta.
Đến nay phong trào nuôi lợn thịt hướng nạc đã và đang phát triển mạnh mẽ
theo hình thức trang trại trên khắp mọi miền đất nước cũng như trên thế giới,
nó đem lại nguồn thu nhập đáng kể cho người chăn nuôi và trở thành ngành
chăn nuôi chính chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu chăn nuôi hiện nay. Để đảm
bảo cung cấp đủ lợn giống cho nhu cầu chăn nuôi của các trang trại và các
nông hộ thì việc phát triển chăn nuôi lợn nái sinh sản là vấn đề cần thiết.
Để đáp ứng nhu cầu của thị trường chúng ta đã chủ động nhập vào một
số giống lợn cao sản từ nước ngoài để đầu tư cho các cơ sở chăn nuôi tập
trung của nhà nước nhằm thích nghi, chọn lọc, lai tạo và nhân giống phục vụ
cho sản xuất.
Tuy nhiên, một trong những vấn đề gây trở ngại lớn nhất cho chăn nuôi

1.3.1. Ý nghiã khoa học
Đề tài xác định một số thông tin có giá trị khoa học bổ sung thêm
những hiểu biết về bệnh viêm tử cung, viêm vú là cơ sở khoa học cho phòng
và điều trị bệnh có hiệu quả.
1.3.2. Ý nghĩa trong thực tiễn
Xác định được một số thuốc có hiệu lực và độ an toàn cao trong
điều trị bệnh.
Từ kết quả của đề tài đưa ra những khuyến cáo giúp người chăn nuôi
hạn chế được những thiệt hại của bệnh.


3
Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở khoa học
2.2.1. Cấu tạo cơ quan sinh dục cái
Theo Đặng Quang Nam (2002) [16], cơ quan sinh dục cái có các bộ
phận sau:
- Buồng trứng (Ovarium): Gồm một đôi (dài 1,5-2,5cm, khối lượng 3-5
gam) nằm trước cửa xoang chậu, ứng với vùng đốt sống hông 3-4. Bề mặt
buồng trứng có nhiều u nổi lên.
Buồng trứng được bọc ở ngoài bởi màng liên kết sợi chắc, bên trong
chia làm 2 phần, cả 2 phần đều phát triển một thứ mô liên kết sợi xốp tạo nên
một loạt chất đệm. Dưới lớp màng liên kết của buồng trứng có nhiều tế bào
trứng non phát triển dần thành nang trứng nguyên thủy, sau đó phát triển
thành nang trứng sơ cấp và cuối cùng phát triển thành bao noãn chín. Dưới tác
dụng của kích tố đặc biệt là kích tố sinh dục tuyến yên, trứng chín sẽ rụng.
Như vậy, buồng trứng có 2 chức năng là sản sinh ra tế bào trứng và tiết
ra hormone sinh dục có ảnh hưởng tới tính biệt, tới chức năng tử cung (đặc
tính thứ cấp của con cái).

đó có nhiều chất nhờn. Âm đạo có khả năng co giãn rất lớn và là đường đi
ra của thai.
- Âm hộ (Vulva): Đây là đoạn sau cùng của bộ máy sinh dục cái, sau
âm đạo và ngăn cách âm đạo bởi màng trinh. Âm hộ nằm dưới hậu môn và
được thông ra ngoài bởi một khe thẳng đứng gọi là âm môn. Trong âm hộ còn
có lỗ thông với bóng đái, tuyến tiền đình (Bartholin) và khí quan cương cứng
gọi là âm vật (Clitoris).


5
Âm môn là một khe thẳng đứng dưới hậu môn, có 2 môi nối với nhau
bởi 2 mép. Môi lớn ở ngoài dày trùm lấy môi nhỏ ở trong. Mép trên hơi nhọn,
mép dưới rộng bao quanh âm vật. Mép trên và dưới được bao bởi lớp da
mỏng mịn, phía dưới mép dưới có lông.
Bộ phận phía trong âm hộ và âm môn:
+ Màng trinh (Hymen): Ngăn cách giữa âm đạo và âm hộ.
+ Lỗ đái là đường thông ra của niệu đạo con cái. Lỗ đái nằm ở thành
dưới âm môn ngay sau dưới màng trinh hình một cái khe có van trùm lên,
cánh van hướng về sau. Bên cạnh lỗ đái còn có lỗ đổ ra của ống tuyến tiền
đình. Đôi tuyến này tiết ra dịch nhờn làm ẩm ướt cửa vào âm đạo phía trong
âm hộ và có thành phần sát khuẩn.
+ Âm vật (Clitoris): Là tổ chức cương cứng, có nhiều dây thần kinh
nên tính cảm giác tập trung ở đây cao.
Cấu tạo âm hộ từ ngoài vào có các lớp sau: Lớp da mỏng mịn có nhiều
sắc tố, lớp cơ gồm cơ thắt và dây treo âm hộ, lớp niêm mạc trong cùng có
nhiều tuyến tiết dịch nhờn.
- Tuyến vú (Mamma): Lợn là động vật đa thai có từ 6-8 đôi vú xếp 2
hàng từ vùng ngực đến vùn bụng bẹn. Tuyến này chỉ phát triển khi con cái
đến tuổi thành thục về tính và phát triển to nhất ở thời kỳ chửa, đẻ. Thời kỳ
con vật đẻ, tuyến vú tiết ra sữa cung cấp dinh dưỡng cho con sơ sinh và lúc

là cơ thể tương đối hoàn chỉnh về sự phát triển của các cơ quan bộ phận như
não đã phát triển khá hoàn thiện, xương đã cốt hoá hoàn toàn, tầm vóc ổn
định… Nói một cách khác, khi gia súc đã thành thục về tính thì sự sinh
trưởng, phát triển của cơ thể vẫn còn tiếp tục đến độ trưởng thành. Đây là đặc
điểm cần chú ý trong chăn nuôi, không nên sử dụng gia súc vào mục đích sinh
sản quá sớm vì:


7
- Đối với gia súc cái nếu phối giống sớm khi cơ thể chưa trưởng thành
về thể vóc 1 sẽ ảnh hưởng xấu như: Trong thời gian chửa có sự phân tán dinh
dưỡng, ưu tiên cho phát triển bào thai, do vậy, nhu cầu dinh dưỡng cho sự
sinh trưởng và phát triển cho bào thai cũng bị ảnh hưởng. Kết quả: mẹ yếu,
con nhỏ và yếu, tuổi sử dụng con mẹ cũng giảm xuống. Hơn nữa, do xoang
chậu chưa phát triển hoàn toàn, nhỏ, hẹp, làm cho con vật đẻ khó (Hoàng
Toàn Thắng, Cao Văn, 2006) [22].
Thời gian thành thục về thể vóc của lợn là 7 - 9 tháng.
* Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển của trứng
Sự hình thành và phát triển của trứng: Tế bào trứng hay trứng hình
thành trong buồng trứng, nó được phát triển từ các tế bào sinh dục chưa
thành thục gọi là noãn nguyên bào (ovogonie). Ở giai đoạn sớm của đời
sống cá thể, các noãn nguyên bào trải qua nhiều lần phân bào nguyên
nhiễm, đến noãn bào sơ cấp. Tất cả các tế bào sinh dục chưa chín đó chứa
số lượng lưỡng bội NST. Các noãn nguyên bào được bao bọc bởi lớp tế bào
biểu mô. Đến khi thành thục về tính, dưới ảnh hưởng điều hòa của trung
khu sinh dục ở vùng dưới đồi (Hypothalamus) thông qua các yếu tố giải
phóng kích dục tố RF, kích thích tuyến yên tiết các hormone hướng sinh
dục FSH, LH để điều khiển quá trình phát triển nang trứng và rụng trứng
(Hoàng Toàn Thắng, Cao Văn, 2006) [22].
Quá trình phân chia thành thục của trứng được chia làm hai giai đoạn:

- Giống: Các giống khác nhau, chất lượng của quá trình phát triển nang
trứng cũng khác nhau do gen quy định.
Ngoài ra, còn có các yếu tố khác như: Khí hậu, điều kiện chăm sóc…
cũng ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển của trứng.
* Chu kỳ động dục
Khi gia súc cái thành thục về tính, cứ sau mỗi khoảng thời gian nhất


9
định, cơ quan sinh dục của nó có những biến đổi đặc biệt, kèm theo đó là rụng
trứng và động dục. Hiện tượng này lặp đi lặp lại một cách có chu kỳ, gọi là
chu kỳ động dục hay chu kỳ tính.
Chu kỳ tính của lợn là 21 ± 4 ngày. Trứng rụng vào lúc 36 - 42 giờ sau
khi xuất hiện động dục. Thời điểm phối giống thích hợp nhất là 24 - 36 giờ
sau khi xuất hiện động dục. Số trứng rụng từ 16 - 17 tế bào.
* Cơ chế động dục và biểu hiện động dục cửa lợn nái
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [19], cơ chế động dục của lợn nái:
Khi lợn nái đến tuổi thành thục về tính dục, các kích thích bên ngoài như ánh
sáng, nhiệt độ, thức ăn, feromon của con đực và các kích thích nội tiết đi theo
dây thần kinh li tâm, đến vỏ đại não qua vùng dưới đồi (Hypothalamus) tiết ra
kích tố FRF (Folliculin Releasing Factors), có tác dụng kích thích tuyến yên
tiết ra FSH, làm cho bao noãn phát dục nhanh chóng. Trong quá trình bao
noãn phát dục và thành thục, thì thượng bì bao noãn tiết ra oestrogen chứa đầy
trong xoang bao noãn, làm cho lợn nái có biểu hiện động dục ra bên ngoài.
Theo Hoàng Toàn Thắng và Cao Văn (2006) [22]: Chu kỳ động dục
của gia súc được chia làm 4 giai đoạn:
+ Giai đoạn trước động dục: Bao noãn phát triển, các tế bào vách ống
dẫn trứng tăng sinh. Hệ thống mạch quản trong dạ con phát triển. Các tuyến
trong dạ con bắt đầu tiết dưới tác dụng của hormone estrogen. Thay đổi của
đường sinh dục: Tử cung, âm đạo, âm hộ bắt đầu xung huyết.

2.1.3.2. Hậu quả của phản ứng tuần hoàn và phản ứng tế bào trong viêm
Phản ứng tuần hoàn và phản ứng tế bào trong viêm đã gây nên các rối
loạn chủ yếu sau:
* Rối loạn chuyển hóa
Tại ổ viêm quá trình oxy hóa tăng mạnh, nhu cầu oxy tăng, nhưng vì có


11
rối loạn tuần hoàn nên khả năng cung cấp oxy không đủ, gây rối loạn chuyển
hóa gluxit, lipit và protit gây ra hiện tượng tăng độ axit, xeton, lipit,
albumoza, polipeptit và các axit amin tại ổ viêm.
* Tổn thương mô bào
Các tế bào bị tổn thương tại ổ viêm giải phóng các enzym càng làm
trầm trọng thêm quá trình hủy hoại mô bào và phân hủy các chất tại vùng
viêm, chúng tạo ra các chất trung gian có hoạt tính sinh lý cao và hạ thấp độ
pH của ổ viêm.
Như vậy, ngoài tính chất bảo vệ thì tổn thương mô bào còn tạo ra nhiều
chất có hại tham gia vào thành phần của dịch rỉ viêm, chính các chất này đã
góp phần hình thành và phát triển vòng xoắn bệnh lý trong viêm.
* Dịch rỉ viêm
Dịch rỉ viêm là sản phẩm được tiết ra tại ổ viêm bao gồm các thành phần
hữu hình và các chất hòa tan như nước, muối, albumin, globulin, fibrinogen, bạch
cầu, hồng cầu, tiểu cầu có tác dụng tạo vành đai ngăn cản viêm lan. Đặc biệt là các
chất có hoạt tính sinh lý như histamin, serotonin, axetinchorin có tác dụng làm
giãn mạch và tăng tính thấm thành mạch gây đau.
* Tăng sinh mô bào
Là hiện tượng tăng lên về số lượng các tế bào trong ổ viêm, các tế bào
này có thể từ trong máu tới hoặc các tế bào tại chỗ sản sinh, phát triển ra.
Trong quá trình viêm, giai đoạn đầu chủ yếu tăng sinh bạch cầu đa
nhân trung tính. Sự tăng sinh và phát triển của các loại tế bào phụ thuộc vào

hình chùm nho, đường kính 0,7-1µ, không di động, không sinh nha bào,
không có lông, bắt màu gram dương, staphylococcus thuộc họ Micrococeae
gồm ba loại: Staphylococcus aureus, staphylococcus epidermidis và
staphylococcus sarprophyticus. Tụ cầu thường ký sinh trên da, niêm mạc của
người và gia súc, khi sức đề kháng của cơ thể giảm sút hoặc tổ chức bị thương


13
ở da và niêm mạc hoặc những rối loạn về chức năng thì các nhiễm trùng do tụ
cầu dễ dàng xuất hiện. Vi khuẩn gây những ổ mủ ở ngoài da và niêm mạc.
Một số trường hợp vi khuẩn vào máu gây nhiễm trùng huyết, huyết nhiễm
mủ. Trong ba loài của giống staphylococcus thì staphylococcus aureus là loài
gây bệnh hay gặp nhất, nó gây các nhiễm trùng ở các loài gia súc, nhất là các
cơ sở chăn nuôi tập trung có mật độ đàn gia súc lớn.
- Eschelichia coli (E.coli): Là trực khuẩn ruột già thuộc trực khuẩn
đường ruột Enterobacteriaceae, bắt màu gram âm, hình gậy ngắn kích thước
2-3 x 0,6µ. Phần lớn E. coli di động do có lông ở quanh thân, vi khuẩn không
sinh nha bào, có thể có giáp mô. E. coli có sẵn trong ruột của động vật, nhưng
chỉ có tác động gây bệnh khi sức đề kháng của con vật giảm sút (do chăm sóc,
do cảm lạnh hoặc cảm nóng). E. coli thường gây bệnh cho gia súc mới đẻ từ
2-3 ngày hay 4-8 ngày.
- Klebsiella: Giống Klebsiella cũng thuộc họ trực khuẩn đường ruột
Enterobacteriaceae, gồm những trực khuẩn không có lông, không hình thành nha
bào, thường sinh giáp mô và sản sinh niêm dịch, bắt màu gram âm. Giống
Klebsiella có 2 type điển hình là: K.pneumoniea và K.aerogenes. Trong tự nhiên
Klebsiella thường sống rải rác khắp nơi (đất, nước) hoặc ký sinh ở đường hô hấp
trên, vi khuẩn có thể gây viêm phổi ở người và viêm phổi truyền nhiễm có bại
huyết cho ngựa, bê, lợn,... (Nguyễn Văn Thanh, 2002) [21].
2.1.4. Những hiểu biết cơ bản về bệnh viêm tử cung, viêm vú trên lợn nái
2.1.4.1. Bệnh viêm tử cung

+ Khoáng chất, vitamin ảnh hưởng đến viêm tử cung. Thiếu VTMA
gây sừng hóa niêm mạc, sót nhau (Lê Hồng Mận (2006) [15].
- Do chăm sóc quản lý
+ Vệ sinh chuồng trại kém, vệ sinh bộ phận sinh dục của lợn nái trước
khi đẻ không tốt, khu vực chuồng trại có mầm bệnh.


15
+ Thời tiết khí hậu quá nóng hoặc quá lạnh trong thời gian đẻ dễ làm
cho lợn nái bị viêm tử cung. Vì vậy, chúng ta phải tạo tiểu khí hậu phù hợp
với lợn nái khi sinh để làm hạn chế viêm tử cung.
* Triệu chứng
Bệnh được chia làm 3 thể viêm chính gồm: Viêm nội mạc tử cung (thể
nhẹ), viêm cơ tử cung (thể trung bình), viêm tương mạc tử cung (thể nặng)
với các biểu hiện cụ thể được trình bày trong bảng 2.1.
Bảng 2.1: Một số tiêu chí phân biệt các thể viêm tử cung
Chỉ tiêu
phân biệt
Sốt

Thể viêm
Viêm nội mạc tử Viêm cơ tử cung

Viêm tƣơng mạc tử

cung (thể nhẹ)

(thể trung bình)

cung (thể nặng)


Đau có phản ứng

Bỏ ăn hoàn toàn

Bỏ ăn hoàn toàn

Phản ứng đau
Bỏ ăn

Bỏ ăn một phần
hoặc hoàn toàn

(Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [6] )
+ Viêm tử cung thể nhẹ (+) gọi là viêm tử cung nhờn, thể hiện thân
nhiệt bình thường, có khi hơi cao 39 - 39,5°C, kém ăn có dịch tiết ra từ âm hộ,
12 - 72 giờ sau đẻ dịch lỏng có màu trắng đục hoặc xanh dạng sợi mùi hôi
tanh. Thể viêm này ít ảnh hưởng đến sản lượng sữa của lợn mẹ.
+ Viêm tử cung thể vừa (++) thuộc dạng viêm tử cung mủ, thân nhiệt
lợn nái cao 39,5 - 40°C, lợn ăn ít hoặc bỏ ăn, hay nằm lỳ. Khi nằm có dịch từ
âm hộ chảy ra màu vàng xanh lẫn mủ trắng đục, hơi sệt, mùi tanh thối.
Khi soi đường sinh dục, vùng âm đạo có dính váng mủ, niêm mạc có
vùng nhạt đỏ không đều, niêm dịch chảy từ cổ tử cung ra có mùi thối.


16
+ Viêm tử cung thể nặng (+++) thuộc dạng viêm tử cung mủ, thân nhiệt
tăng cao 39,5 - 40°C, lợn nái ủ rũ, hay nằm, bỏ ăn, dịch tiết từ âm hộ ra dạng
mủ xanh vàng sệt, có khi lẫn máu, mùi tanh thối.
Niêm mạc âm đạo nhợt nhạt, nhiều mủ đặc dính lại, cổ tử cung hơi mở,

để nguội pha thuốc sát trùng Bioxit 0,1% sau đó bơm kháng sinh vào.
- Phòng bệnh truyền nhiễm Leptospirosis, Brucellosis… bằng cách
dùng vaccine đúng quy trình, đúng thời gian cho đàn lợn sinh sản, tránh
những trường hợp bị sốt đột ngột gây sảy thai.
* Điều trị
Nguyên tắc chung trong việc điều trị bệnh: Bệnh do vi khuẩn gây ra
nên việc đầu tiên trong quá trình điều trị bệnh là phải tiêu diệt sớm và kịp thời
tránh sự lây lan của vi khuẩn. Để có hiệu quả cao, điều quan trong nhất là
phải xác định được vai trò của vi khuẩn gây bệnh, sự mẫn cảm của chúng với
kháng sinh và hóa dược trong điều trị.
Để thải hết dịch viêm, mủ, niêm dịch và các chất bẩn trong tử cung ra
ngoài, thụt rửa tử cung bằng các loại thuốc sát trùng: Dung dịch Rivanol
0,1%, Acid Boric 3%, thuốc tím 0,1%...
Trường hợp bệnh nặng, đồng thời với điều trị cục bộ người ta có thể điều
trị toàn thân như: Sau khi thụt rửa xong người ta có thể tiêm bằng các loại
kháng sinh cho con vật kết hợp với việc chăm sóc, nuôi dưỡng vệ sinh tốt.
Theo Lê Văn Năm (1997) [17] cho biết: điều trị viêm tử cung cần đạt 2
mục đích sau:
Phục hồi nguyên vẹn niêm mạc tử cung và phục hồi chức năng co bóp
của tử cung. Người ta dùng phương pháp thụt rửa và sau đó can thiệp bằng
các loại thuốc kháng sinh và thuốc bổ bằng cách tiêm, cho uống hay bơm vào
tử cung.


18
Thụt rửa bằng các dung dịch: Nước sinh lý, nước muối 1-2%,
Streptocid 1%, thuốc tím 0,05%.
Sau khi thụt rửa xong thì có thể dùng thuốc theo liệu trình sau:
Tiêm bắp Calcium fort 10ml/nái/2 lần/ngày.
Bơm vào dạ con 500.000 UI Penicillin hòa với 50ml nước cất. Ngày


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status