5
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một quốc gia hiện có gần 80% dân số là nông dân vẫn
sống chủ yếu bằng nghề nông nghiệp truyền thống, mang tính chất tự cấp,
tự túc. Từ hiện trạng ấy tiến thẳng lên CNXH, bỏ qua chế độ TBCN, do
đó, cũng có nghĩa là bỏ qua dân chủ tư sản, hiển nhiên đặt ra cho chúng ta
nhiều khó khăn. Đối với những nước đã qua dân chủ tư sản, việc sống và
làm việc theo pháp luật, đã trở thành tập quán, thói quen của người dân.
Trái lại, ở nước ta, do chưa trải qua dân chủ tư sản, từ điểm xuất phát thấp
về kinh tế xã hội, nhất là ở nông thôn, người nông dân với truyền thống
"phép vua thua lệ làng" và những quan hệ dòng họ, xóm ngõ, nên chưa có
thói quen sống và làm việc theo pháp luật.
Tiến trình cách mạng XHCN, xây dựng CNXH, thực hiện công
cuộc đổi mới vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,
văn minh là quá trình đưa nông dân lên CNXH. Bởi vậy, cùng với việc
chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho nông dân "chúng ta phải thay
đổi triệt để những nếp sống thói quen, ý nghĩ và thành kiến có gốc rễ sâu
xa hàng ngàn năm" [84, tr. 493] để xây dựng và nâng cao ý thức và năng
lực thực hành pháp luật cho họ. Đây là một tất yếu khách quan và cũng là
một yêu cầu cấp bách.
Lệ làng vốn được xem là công cụ quản lý xã hội trong các làng xã
truyền thống. Bên cạnh giá trị tích cực trong việc điều chỉnh mối quan hệ
xã hội trên quy mô nhỏ hẹp của làng xã, nhìn chung, lệ làng còn có nhiều
yếu tố ảnh hưởng tiêu cực tới việc hình thành YTPL ở người nông dân. Đó
là những cản trở đáng kể cho việc thiết định trong thực tế nguyên tắc sống
và làm việc theo pháp luật, một chuẩn mực của xã hội dân chủ văn minh,
hiện đại. Do vậy, xây dựng YTPL cho nông dân, một mặt phải đẩy mạnh
với nông dân, nông nghiệp và nông thôn trong các giai đoạn cách mạng
nước ta.
- Luận án sử dụng phương pháp duy vật lịch sử của triết học
mácxít, có chú ý đến những đặc thù của phương pháp CNXHKH, gắn lý
9
luận với thực tiễn chính trị xã hội Việt Nam để luận giải những vấn đề đặt
ra. Ngoài ra, luận án cũng sử dụng các phương pháp như lịch sử - lôgic;
phân tích tổng hợp, thống kê, điều tra xã hội học, so sánh, văn bản học...
6. Những đóng góp mới về mặt khoa học của luận án
- Luận án khái quát từ góc độ chính trị - xã hội mối quan hệ giữa lệ
làng truyền thống với luật nước trong lịch sử; Những nét đặc thù của lệ
làng trong thời kỳ đổi mới; làm rõ nội hàm khái niệm YTPL của người
nông dân Việt Nam và ảnh hưởng của lệ làng đối với quá trình hình thành
và nâng cao YTPL cho người nông dân.
- Luận án nêu lên một số giải pháp góp phần xây dựng, nâng cao
YTPL cho nông dân phù hợp với dân chủ hóa xã hội và xây dựng nhà
nước pháp quyền XHCN.
7. Ý nghĩa thực tiễn của luận án
Kết quả nghiên cứu của luận án ở mức độ nhất định có thể sử dụng
làm tài liệu tham khảo, góp thêm cơ sở cho việc hoạch định chính sách của
Đảng và Nhà nước để phát huy nguồn lực lao động ở nông thôn vào sự
nghiệp đổi mới đất nước.
8. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ
lục, luận án gồm 3 chương, 10 tiết.
11
Mỗi làng "là sự kết hợp của các tiểu gia đình trong một khu vực
nhất định" [102, tr. 12]. Quan hệ láng giềng, sự gắn bó trên cùng một địa
bàn cư trú, sinh sống gần gũi, liên kết với nhau là đặc điểm chung của
công xã nông thôn. Ph.Ăngghen đã từng nhận xét về đặc trưng của hình
thái kinh tế - xã hội này: "Lịch sử thời cổ của tất cả, hoặc hầu hết các dân
tộc là: việc phân chia dân cư dựa trên các quan hệ thân thuộc, và chế độ sở
hữu chung về ruộng đất" [73, tr. 469].
Cả hai đặc trưng trên đều tồn tại rõ rệt trong lịch sử hình thành của
các làng Việt. Quan hệ thân thuộc được thể hiện trong những gia đình một
họ "định cư thành từng làng". Cho đến tận ngày nay những tên làng Đào
Xá, Lê Xá, Nguyễn Xá... vẫn tồn tại mặc cho có sự hỗn cư của nhiều họ,
nhưng quan hệ "dây mơ rễ má" vẫn còn tồn tại do quá trình chung sống và
hôn phối tạo nên. Chính quan hệ mang tính huyết thống đó đã chi phối
nhiều mặt trong sinh hoạt làng xã, tạo thành sợi dây ràng buộc quan hệ
ứng xử của những người nông dân.
Làng cũng là nơi cư trú của cư dân nông nghiệp, sản xuất lúa nước
gắn liền với thủ công nghiệp. Ruộng đất công (đất) và thủy lợi (nước) đã
liên kết cư dân thành làng xóm, tự nó đã mang tính chất "siêu ổn định".
Tính chất này đã hóa thân thành tinh thần công xã, truyền thống đoàn kết
xóm làng trong cuộc đấu tranh chống lại ách nô dịch, đồng hóa của ngoại
xâm. Lịch sử Việt Nam đã chứng minh rằng người Việt có lúc mất nước
nhưng chưa bao giờ mất làng.
Làng Việt tồn tại trên cơ sở sự kết hợp trực tiếp giữa nông nghiệp
và thủ công nghiệp. Những di tích khảo cổ học thời kỳ đồ đồng: Đồng
Đậu, Gò Mun ở Vĩnh Lạc và Phong Châu Vĩnh Phú đã thấy sự tập hợp cư
dân như những làng cổ. Với truyền thuyết Thánh Gióng - người con trai
ngõ xóm để mọi người dùng chung, có giếng làng để mọi người lấy nước
sinh hoạt, có đình làng vừa là nơi thờ thành hoàng, vừa là nơi hội họp.
Không gian kinh tế - xã hội, văn hóa thiêng liêng ấy là yếu tố gắn kết mọi
người chung một làng.
13
Qua hàng ngàn năm, do điều kiện đặc thù của lịch sử quy định, làng
Việt Nam tồn tại như những đơn vị độc lập tương đối. Tính độc lập và
khép kín được xác định bởi những lũy tre xanh bao bọc như những tường
thành ngăn cách và bằng cả một hệ thống thiết chế, tập tục của từng làng.
Về mặt kinh tế, đó là những thể thức phân chia và sử dụng công điền, công
thổ, sử dụng nguồn nước của làng. Về mặt chính trị - xã hội mỗi làng đều
có những quy ước quy định các vị trí đẳng cấp xã hội, cả quyền lợi và
nghĩa vụ, là sự tồn tại và thực hiện chức năng xã hội của các hội, các
phường được thiết lập trong làng. Về mặt văn hóa, đó là các hình thức hội
hè, tập tục, lễ cưới, lễ tang, lễ khao vọng... và gắn với văn hóa tôn giáo, là tín
ngưỡng thành hoàng với "Lệnh làng nào làng ấy đánh, thánh làng nào làng
ấy thờ". Sự khác nhau giữa các làng đã hình thành nên cái mà các nhà
nghiên cứu văn hóa gọi là cái "Ta làng" - cơ sở của tính biệt lập khép kín
của mỗi làng.
Bên cạnh những khác biệt trên, làng Việt nào cũng có đủ tất cả:
ruộng công, ruộng tư, đình chùa, hội hè, đình đám, có phường hội, có
chính quyền quản lý và đó cũng là điểm giống nhau của tất cả các làng.
Làng là đơn vị kinh tế tự túc, tự cấp, có thể thỏa mãn những nhu cầu
tối thiểu của con người: hầu hết các làng đều có một vài hộ làm nghề rèn,
dăm ba hộ làm thợ mộc, thợ nề, một số hộ buôn bán tạp hóa ở chợ làng,
một vài ông đồ dạy học, ông lang bốc thuốc. "Làng có nông, làng cũng có
sĩ, công, thương" [125, tr. 12]. Sự giống nhau đó đảm bảo cho các làng có
thức người nông dân làng xã Việt Nam, ý thức cộng đồng - cái cá nhân
dường như bị tan ra, bị hòa vào cộng đồng. Lợi ích cá nhân nằm trong lợi
ích cộng đồng, danh dự của người nông dân gắn với danh dự của làng xã họ không chỉ sống cho mình mà sống cho làng xã. Người nông dân chấp
nhận những quy tắc ứng xử, nếp sinh hoạt, quan hệ cộng đồng làng xã như
một lẽ tự nhiên. Quan hệ làng xã ấy, vừa có mặt trì trệ bảo thủ của nó,
nhưng chính nó lại là nơi thể hiện khá rõ quyền lợi và nghĩa vụ của người
nông dân mà nhiều nhà nghiên cứu gọi là "dân chủ làng xã". Quan hệ ấy
15
cũng là những bức tường thành kiên cố vững chắc nhất bảo tồn văn hóa
làng, cũng là bản sắc văn hóa dân tộc đã chiến thắng mọi yếu tố tiêu cực
của luồng văn hóa từ bên ngoài.
1.1.2. Sự hình thành "lệ làng" và những nội dung cơ bản của nó
Tập thể cư dân trong mỗi cộng đồng sinh sống lâu dài trong một
địa vực, có những mối liên hệ với nhau trong đời sống sản xuất và xã hội,
trong cuộc đấu tranh thường nhật với thiên tai và địch họa, đều muốn xây
dựng những mối quan hệ ổn định, hòa thuận, một lối sống có kỷ cương,
trật tự. Nhu cầu ấy đòi hỏi phải có những quy ước, những thỏa thuận ràng
buộc nghĩa vụ và trách nhiệm giữa các thành viên trong cộng đồng, giữa
cá thể với cộng đồng làng xã.
Những quy ước lúc đầu mang tính chất đạo đức răn dạy, những
điều nên và không nên làm, được truyền miệng từ đời này sang đời khác,
từ người này sang người khác. Về sau với sự phát triển của làng, số lượng
dân cư ngày một tăng, đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội và các
dạng quan hệ của nó ngày càng phức tạp, thì những quy ước cũng phát
triển như một đòi hỏi tất yếu, để điều tiết các mối quan hệ trong làng, để
đảm bảo tính ổn định của nó. Những quy ước (mặc dù lúc đầu chỉ là truyền
miệng - bất thành văn) có tính bắt buộc chung, mọi người dân trong làng
Trước Cách mạng Tháng Tám, ở các làng xã người Việt đều có
những lệ làng thành văn với những tên gọi riêng tùy theo cách ghi chép
của người soạn thảo: Hương ước, Hương biên, Khoán ước, Hương khoán,
Hương lệ, Điều lệ v.v... Nhưng dù gọi tên gì chăng nữa thì những văn bản
đó đều bao gồm những quy ước liên quan đến các lĩnh vực đời sống của
từng làng, từng cộng đồng dân cư, mà người ta quen gọi bằng tên phổ biến
nhất - Hương ước.
Quá trình phát triển của làng xã làm cho cư dân đông đúc dần, các
mối quan hệ và thiết chế xã hội lần lượt ra đời và tăng lên để quản lý các
mặt, các lĩnh vực của đời sống. Đó là tiền đề để làm phong phú các quy
ước nhằm đáp ứng được yêu cầu điều chỉnh các mối quan hệ trong cộng
đồng. Các hình thức tổ chức, các mối quan hệ xã hội giữa các cá nhân, các
tổ chức trong làng cũng như quan hệ giữa làng xã với nhà nước phong
17
kiến ngày càng phức tạp. Những tục lệ tập quán trong làng cũng phức tạp
thêm lên. Để duy trì các mối quan hệ đó, giữ "thăng bằng" cho làng xã,
những quy ước truyền miệng phải được điều chỉnh bổ sung cho phù hợp,
mặt khác cũng không ai có thể nhớ nổi những quy ước ngày càng phức tạp
đó. Để cho cộng đồng có thể thống nhất với nhau trong khi vận dụng
những điều về các quy tắc ứng xử, quyền lợi và nghĩa vụ của cá nhân đối
với cộng đồng và ngược lại. Do vậy, việc văn bản hóa những tục lệ, tập
quán là sự đòi hỏi khách quan của quá trình phát triển các mối quan hệ
cộng đồng. Hương ước ra đời vừa là kết quả, vừa là yêu cầu của quá trình
phát triển nội tại của đời sống làng xã. Nó kế tục và hoàn chỉnh những quy
ước trước đó của mỗi nhóm dân cư, của các hình thức cộng đồng người
trong mỗi làng xã.
Yêu cầu điều chỉnh các mối quan hệ xã hội trong từng làng mới
- Nhà nước phong kiến ngày càng can thiệp vào làng xã, biến nó
thành đơn vị hành chính cơ sở, tuy vậy mỗi làng còn giữ được tính "tự trị"
thể hiện ở một số tập tục truyền thống.
- Trong mỗi làng đã xuất hiện một tầng lớp nho sĩ có thể đại diện
cho làng soạn thảo các sổ sách giấy tờ trong đó có bản lệ làng thành văn Hương ước [30].
Khẳng định điều đó nhằm tìm ra một niên đại tương đối về sự xuất
hiện của các văn bản lệ làng. Số lượng các bản hương khoán ước có niên
đại cụ thể hiện nay còn lại khá nhiều chỉ tính riêng hai thư viện: Viện
nghiên cứu Hán Nôm và Viện Thông tin khoa học xã hội đã có tới 5.456
bản [29, tr. 16] đó là chưa kể số còn lại nằm rải rác ở các thư viện trung
ương, thư viện địa phương, trong các làng, và trong tay các nhà nghiên
cứu. Những bản hương ước có niên đại sớm nhất còn lại đến ngày nay là
bộ Quỳnh Đôi sự tích cổ kim Hương biên gồm ba văn bản ra đời vào gần
giữa thế kỷ XVII. Hương ước làng Mộ Trạch, huyện Đường An, phủ
19
Thượng Hồng (nay là huyện Cẩm Bình - Hải Dương) ra đời năm 1665
sau đó được sửa chữa bổ sung tới 16 lần từ 30 điều ban đầu lên 82 điều ở
bản cuối cùng [108, tr. 107]. Ngoài ra còn khá nhiều các bản hương ước có
niên đại từ nửa sau thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XX. Điều đó chứng tỏ từ
thế kỷ XVII trở đi, lệ làng được "văn bản hóa" đã trở thành rất phổ biến
trong sinh hoạt làng xã. Song, chưa hẳn những văn bản lệ làng hiện nay
còn lại đã là những văn bản có niên đại sớm nhất mà có thể từ thời Lê
Thánh Tông đã xuất hiện và tồn tại của các văn bản lệ làng. Bằng chứng
là dưới triều Lê Thánh Tông (1460 -1497) trong hàng loạt các đạo dụ được
tập hợp trong "Hồng Đức Thiện chính thư" có một điều luật gồm 5 điều
mà nội dung rõ ràng nhằm mục đích hạn chế các làng xã lập hương ước khoán ước [39, tr. 54-55].
Đạo dụ của Lê Thánh Tông cũng chứng tỏ ngay cả khi có luật
ánh khá sinh động các mặt hoạt động của đời sống sinh hoạt làng xã theo
một khuôn phép mà không một luật nước nào có thể bao quát hết được.
Nếu đem chắt lọc những khác biệt của từng làng ta thấy các bản hương
ước đều phản ánh những nội dung cơ bản dưới đây:
Nội dung thứ nhất, hương ước khẳng định ranh giới lãnh thổ của
làng và cơ cấu tổ chức, quan hệ trong làng xã.
Mỗi làng có một địa vực riêng, được hình thành do những dòng họ
hay tập đoàn người đầu tiên đến khai phá và mở rộng theo thời gian nhờ
công sức của nhiều thế hệ. Hương ước của một số làng đã ghi lại quá trình
khai hoang lập nên làng xóm. Chủ quyền của làng, được khẳng định qua
điều khoản của hương ước: ranh giới của làng giáp đâu ? Xác định bởi
mốc giới nào? Diện tích công tư điền thổ bao nhiêu? Hương ước cũng quy
định, các thành viên trong làng có nghĩa vụ bảo vệ "lãnh thổ" của làng,
chống lại sự xâm phạm của người làng khác, cũng như phải tuân thủ
nghiêm ngặt về việc sử dụng các bộ phận lãnh thổ của làng. Chính cái giới
hạn lãnh thổ của mỗi làng đã làm nên cái "ta làng" cái văn hóa làng. Người
21
nông dân ý thức về quyền sở hữu "tập thể làng" cái ý thức "co cụm để đề
kháng" để bảo vệ làng và rộng hơn là bảo vệ bản sắc dân tộc. Do vậy,
"làng và văn hóa làng từng là cái nôi, lá chắn, đã sáng tạo giữ gìn và che
chở những giá trị tinh thần chống lại các âm mưu đồng hóa về văn hóa của
bên ngoài" [60, tr. 46].
Mặc dù sắp xếp trước sau có thể có sự khác nhau, song một trong
những mục mà các bản hương ước đều đề cập tới đó là mục chính trị, trong
đó nội dung chủ yếu liên quan đến thiết chế chính trị, cơ cấu tổ chức và
các quan hệ xã hội trong làng.
Quan hệ tổ chức - xã hội ở làng xã khá chặt chẽ, được thể hiện ở
và với nhà nước.
Hương ước còn dành những điều khoản quy định việc cưới xin,
sinh, tử. Việc sinh đẻ, công nhận một thành viên mới ra đời được tiến hành
qua lễ vọng giáp. Việc hôn nhân của đôi trai gái muốn được làng công
nhận phải nộp "cheo"; cheo có giá trị pháp lý như giấy kết hôn. Nếu không
nộp cheo cuộc kết hôn coi như vô nghĩa và không được làng công nhận.
Cheo có thể nộp bằng tiền, cũng có thể bằng hiện vật tùy theo từng làng
quy định. Việc ma chay cũng được quy định chặt chẽ, tỉ mỉ trong các bản
hương ước, như những điều luật của làng.
Quan hệ xã hội của người dân trong làng được quy định bởi
những quy ước về việc cư xử giữa người với người trong làng xã.
Những điều khoản này chiếm một số lượng tương đối trong hương ước.
Nội dung chủ yếu trong những điều khoản đó đề cao tinh thần đoàn kết
đùm bọc làng xóm, giữ gìn những quan hệ tốt đẹp, khuyến khích dân
làng ăn ở hòa thuận giúp đỡ nhau trong đời sống hàng ngày. Chẳng hạn,
Điều 71 hương ước làng Quỳnh Đôi quy định: Mọi người phải đến giúp
người khác lợp nhà, đưa ma mà không cần lời mời, khi đưa ma thì tùy
tang chủ kính biếu mà không được đòi hỏi. Điều 83 lại ghi: Ai gặp người
già mà không giúp sức mang vác thì bị phạt. Hoặc ở Điều 97: Gặp hoạn
nạn, người trong làng phải giúp đỡ lẫn nhau, nếu không khi trở về làng
23
bị phạt 20 quan mới được ghi tên vào sổ làng (được công nhận lại là thành
viên của làng).
Nhiều bản hương ước còn có những điều khoản quy định nhằm hạn
chế hiện tượng kéo bè cánh, cậy quyền ỷ thế trong việc giải quyết các
công việc của làng, như hương ước làng Dương Liễu (Hoài Đức - Hà Tây)
làng Quỳnh Đôi (Quỳnh Lưu - Nghệ An) v.v...
hành vi, phương thức ứng xử của người nông dân. Trong quan hệ của họ khi
thì "bán anh em xa mua láng giềng gần", khi thì "một giọt máu đào, hơn ao
nước lã"... Người nông dân suy nghĩ và hành động không chỉ vì mình mà
vì "làng mình", "xóm mình" và "họ mình"... Những yếu tố đó trước đây
giai cấp thống trị đã lợi dụng để duy trì trật tự quản lý xã hội ở nông thôn.
Bên cạnh quan hệ dòng họ, quan hệ xóm ngõ cũng không kém phần
quan trọng. Quan hệ xóm ngõ là hình thức cộng đồng người theo lĩnh vực cư
trú. Tùy đặc điểm từng làng mà ranh giới các xóm được phân định bởi mốc
giới khác nhau, trong xóm có ngõ, trong ngõ bao gồm các gia đình quần cư
theo truyền thống "tắt lửa tối đèn có nhau".
Trong sự vận hành của đời sống làng xã, mỗi thành viên bao giờ
cũng hiện diện đồng thời với hai tư cách: người con của họ hàng và người
dân của làng xã. Quan hệ đó khi thì "cửu đại hơn ngoại nhân", khi thì "bán
anh em xa mua láng giềng gần". Dân làng xã lại được "lệ làng" phân thành
những cấp bậc khác nhau: Có dân "chính cư", dân "ngụ cư". Chỉ có dân
chính cư mới được coi là dân của làng. Tùy theo đẳng cấp, phẩm hàm chức
tước, tài sản, tuổi tác, dân chính cư lại bị phân thành những cấp bậc khác
nhau sau khi đã làm "lễ khao vọng". Vị trí xã hội của mỗi người trong hệ
thống đẳng cấp cũng được xác định rõ trong lệ làng.
Nhìn chung, tục lệ của làng xã cổ truyền phản ánh "cấu trúc xã hội
chính trị" của làng và những "chuẩn mực" điều chỉnh quan hệ của các cá
nhân trong cộng đồng làng.
25
Nội dung thứ hai của hương ước là những quy ước bảo vệ an ninh
làng xã
Ý thức bảo vệ đời sống cộng đồng được thể hiện ở việc giữ gìn trị
an thôn xóm và gắn liền với việc tổ chức vũ trang bảo vệ làng xã. Đây là
bồi thường 30 quan, bò 20 quan. Làng Kiêu Trì quy định nếu ban đêm xảy
ra mất trộm tuần phải đền mỗi con trâu 10 quan, bò 6 quan... ở ngoài đồng
mất từ 3 lượm lúa trở lên thì đền 3 lượm, mất 1 sào trở lên thì đền 3 gánh...
Hương ước các làng còn quy tội nặng hơn cho những tuần phiên lợi dụng
việc canh gác, tuần phòng để ăn trộm. Ở làng Dương Liễu (Hoài Đức - Hà
Tây) nếu phiên lợi dụng canh gác đi ăn trộm súc vật, hoa quả thì phạt 2 quan,
hoặc trong lúc tuần phòng cố ý thả kẻ trộm sẽ bị "luận tội" và phạt 3 quan.
Ở làng Đồng Lư phiên tuần lợi dụng lúc làm nhiệm vụ để ăn trộm thì bị
phạt gấp đôi kẻ trộm bình thường, nặng thì giải trình quan trên. Phiên mở
cổng làng cho kẻ gian vào làng phải đền những của cải bị mất phạt 10
quan (tiềnn năm 1829) nhẹ đánh 30 roi và đuổi về, nặng thì trình quan xét
xử.
Chế độ thù lao cho tuần phiên được trích từ quỹ công của làng,
nhưng thường được trực tiếp thu từ hoa màu gọi là "sương túc" hay "lúa
bờ". Hương ước làng Phú Xuyên ghi cho lấy bờ các hoa màu 10 phần lấy
một, ngoài bãi 20 phần lấy một. Ở trong làng được thu theo ngõ xóm, mỗi
nóc nhà một hào, trâu hai hào, bò một hào, lợn 5 xu. Ngoài ra còn được
hưởng một số quyền lợi khác mỗi khi làng có việc làng hay các gia đình
thành viên của làng có tang lễ, cưới xin...
Trách nhiệm bảo vệ an ninh làng xã không chỉ do các tuần phiên
đảm nhiệm mà còn là của cả làng. Hương ước làng Miêu Nha (Hải Phòng)
ghi rõ: hễ trong làng bất thần nghe thấy tù và, trống đánh cáo cấp thì tất cả
thượng hạ không cứ sang hèn giàu nghèo tuổi từ 18 đến 60 đều phải cầm
lao, gậy chạy đến nơi tiếp cứu. Tương tự ở làng Quỳnh Đôi quy định: ai
27
không đến thì bị phạt một con trâu để nghiêm phép làng, ở làng Mộ Trạch
(Hải Dương) phạt một con lợn. Ở làng La Nội và Ỷ La (Hoài Đức - Hà
29
lợi ích riêng, tài sản và sở hữu của chính mình để bảo vệ lợi ích cộng đồng
một khi lợi ích đó bị đe dọa. Nếu cộng đồng cần thì mỗi người nông dân
phải tự nguyện, tự giác hy sinh thời gian, sức lực, nhà cửa cây trái sắp đến
ngày thu hoạch để bảo vệ lợi ích chung. Cơ sở vật chất và tinh thần tự
nguyện đó chính là mối liên hệ tất yếu giữa lợi ích cá nhân gia đình với lợi
ích cộng đồng làng xã "nước lụt thì lút cả làng". Nước dâng đê vỡ cả làng
ngập lụt thì nhà cửa ruộng vườn của mỗi người không thể không bị ngập
lụt. Cả làng mất mùa thì mỗi nhà không thể không mất mùa. Thực tiễn của
công cuộc trị thủy - thủy lợi đã đặt lợi ích cá nhân, gia đình, dòng họ trong
lợi ích cộng đồng làng xã. Ở mặt này nó còn góp phần thúc đẩy sự phát
triển tinh thần, ý thức cộng đồng ra ngoài khuôn khổ làng xã nhỏ sang
cộng đồng tập thể rộng lớn hơn.
Hương ước khuyến khích tất cả mọi người tận dụng đất đai, chăm
chỉ cày cấy. Nếu gia đình nào để đất hoang hoặc để gia súc, gia cầm phá
hoại mùa màng đều phải phạt nặng, nhẹ tùy mức độ vi phạm. Với mục
đích bảo đảm và phát triển sản xuất, các bản hương ước khuyên mọi người
khai khẩn đất hoang, phục hóa giữ gìn bảo vệ nguồn nước, đồng thời trừng
trị những ai cố tình vi phạm những quy định của làng.
Lệ làng phản ánh ý thức cộng đồng trong việc bảo vệ môi trường
sống của làng. Những công trình công cộng được chăm lo tu sửa. Nhất là
những công trình thể hiện bộ mặt của làng: đường làng, giếng nước, ngôi
đình.
Đường làng để cả làng đi lại, mọi người đều phải có ý thức giữ gìn
tôn tạo. Hương ước của nhiều làng quy định không được tự ý thả trâu bò,
lợn để phóng uế ra đường, không xẻ rãnh, tháo nước qua đường. Hương
ước quy định và khuyến khích phát triển giao thông: trai gái xây dựng gia
đình, những người đỗ đạt, khao danh vọng phải nộp gạch để lát đường đã
góp phần tạo nên bộ mặt làng xóm phong quang sạch đẹp.