mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một quốc gia hiện có gần 80% dân số là nông dân vẫn
sống chủ yếu bằng nghề nông nghiệp truyền thống, mang tính chất tự cấp,
tự túc. Từ hiện trạng ấy tiến thẳng lên CNXH, bỏ qua chế độ TBCN, do đó,
cũng có nghĩa là bỏ qua dân chủ t sản, hiển nhiên đặt ra cho chúng ta nhiều
khó khăn. Đối với những nớc đã qua dân chủ t sản, việc sống và làm việc
theo pháp luật, đã trở thành tập quán, thói quen của ngời dân. Trái lại, ở n-
ớc ta, do cha trải qua dân chủ t sản, từ điểm xuất phát thấp về kinh tế xã
hội, nhất là ở nông thôn, ngời nông dân với truyền thống "phép vua thua lệ
làng" và những quan hệ dòng họ, xóm ngõ, nên cha có thói quen sống và
làm việc theo pháp luật.
Tiến trình cách mạng XHCN, xây dựng CNXH, thực hiện công
cuộc đổi mới vì mục tiêu dân giàu, nớc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,
văn minh là quá trình đa nông dân lên CNXH. Bởi vậy, cùng với việc chăm
lo đời sống vật chất và tinh thần cho nông dân "chúng ta phải thay đổi triệt
để những nếp sống thói quen, ý nghĩ và thành kiến có gốc rễ sâu xa hàng
ngàn năm" [84, tr. 493] để xây dựng và nâng cao ý thức và năng lực thực
hành pháp luật cho họ. Đây là một tất yếu khách quan và cũng là một yêu
cầu cấp bách.
Lệ làng vốn đợc xem là công cụ quản lý xã hội trong các làng xã
truyền thống. Bên cạnh giá trị tích cực trong việc điều chỉnh mối quan hệ
xã hội trên quy mô nhỏ hẹp của làng xã, nhìn chung, lệ làng còn có nhiều
yếu tố ảnh hởng tiêu cực tới việc hình thành YTPL ở ngời nông dân. Đó là
những cản trở đáng kể cho việc thiết định trong thực tế nguyên tắc sống và
làm việc theo pháp luật, một chuẩn mực của xã hội dân chủ văn minh, hiện
đại. Do vậy, xây dựng YTPL cho nông dân, một mặt phải đẩy mạnh sự
5
nghiệp xây dựng cơ sở vật chất của CNXH, tiếp tục xây dựng và hoàn thiện
nhà nớc pháp quyền, mặt khác, cần phải phát huy những mặt tích cực, hạn
chế mặt tiêu cực của lệ làng truyền thống. Đại hội Đại biểu toàn quốc lần
"Luật và xã hội Việt Nam thế kỷ XVII - XVIII" [130]. Các bài viết trong
"Hội thảo vai trò của Hơng ớc trong việc xây dựng nông thôn mới và quản
lý nhà nớc đối với hơng ớc" do Bộ T pháp và UBND tỉnh Hải Hng tổ chức
ngày 26-27/12/1995.
- Nhiều bài viết về dân chủ, con ngời của PGS.TS Hoàng Chí Bảo,
GS.TS Nguyễn Trọng Chuẩn, PGS.TS Dơng Xuân Ngọc, PGS.TS Trần
Quang Nhiếp đã đợc đăng trên các tạp chí: Cộng sản, Triết học, Nhà nớc
và Pháp luật, Thông tin lý luận, Nghiên cứu lý luận
Số lợng lớn công trình về nông thôn, làng xã, dân chủ và pháp luật
phản ánh sự quan tâm của các nhà khoa học, của xã hội đối với vấn đề mà
đề tài hớng tới. Những thành tựu đạt đợc là tiền đề quan trọng gợi mở cho
việc tiếp tục nghiên cứu về nông thôn và ngời nông dân ở các góc độ khác
nhau.
Tuy vậy, việc nghiên cứu ảnh hởng của lệ làng - di sản của làng xã
truyền thống - đến việc hình thành YTPL cho ngời nông dân vẫn cha có
một công trình nào mang tính chuyên khảo từ góc độ triết học - xã hội. Sự
thiếu vắng những công trình về lĩnh vực này càng khẳng định tính cấp bách
của đề tài.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận án
Mục đích của luận án:
Trên cơ sở làm rõ quan hệ lệ làng và luật nớc trong xã hội Việt
Nam cổ truyền và ảnh hởng của lệ làng truyền thống với việc hình thành
YTPL của ngời nông dân, luận án đa ra phơng hớng và giải pháp nhằm
phát huy những nhân tố tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của lệ làng truyền
7
thống trong quá trình xây dựng, nâng cao YTPL cho nông dân nớc ta thời
kỳ đổi mới.
Nhiệm vụ của luận án:
- Làm rõ quá trình hình thành và mối quan hệ giữa lệ làng và luật n-
ớc trong quá trình lịch sử.
- Luận án nêu lên một số phơng hớng, giải pháp góp phần xây
dựng, nâng cao YTPL cho nông dân phù hợp với dân chủ hóa xã hội và xây
dựng nhà nớc pháp quyền XHCN.
7. ý nghĩa thực tiễn của luận án
Kết quả nghiên cứu của luận án ở mức độ nhất định có thể sử dụng
làm tài liệu tham khảo, góp thêm cơ sở cho việc hoạch định chính sách của
Đảng và Nhà nớc để phát huy nguồn lực lao động ở nông thôn vào sự
nghiệp đổi mới đất nớc.
8. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ
lục, luận án gồm 3 chơng, 6 tiết.
9
Chơng 1
lệ làng. mối quan hệ giữa lệ làng và luật nớc
trong xã hội Việt Nam truyền thống
1.1. lệ làng trong làng xã cổ truyền
1.1.1. Làng xã Việt Nam trong quá trình lịch sử
Tìm hiểu xã hội nông thôn Việt Nam, ngời ta thờng bắt gặp các từ
làng, xã và thôn trong các văn bản giấy tờ và ngôn ngữ của ngời nông dân.
Làng là một từ nôm, dùng để chỉ đơn vị tụ c truyền thống của ngời nông
dân Việt. Làng là cộng đồng dân c, cộng đồng "lãnh thổ", cơ cấu tổ chức,
tâm lý, phong tục tập quán tín ngỡng và "thổ ngữ" riêng. Còn xã là từ Hán -
Việt chỉ đơn vị hành chính cơ sở của nhà nớc phong kiến ở vùng nông thôn.
Trớc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, trên vùng đồng bằng và trung du
Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, phần nhiều mỗi làng là một xã. Do vậy, ngời
nông dân thờng ghép hai từ này làm một: làng xã.
Thôn cũng là một từ Hán - Việt, thờng đợc dùng trong văn bản giấy
tờ hành chính, trong văn tế. Một xã mà gồm nhiều làng thì các làng họp
thành xã ấy đợc gọi là thôn.
Còn trong ngôn ngữ của ngời nông dân, mỗi ngời khi nói về quê h-
giờ mất làng.
Làng Việt tồn tại trên cơ sở sự kết hợp trực tiếp giữa nông nghiệp và
thủ công nghiệp. Những di tích khảo cổ học thời kỳ đồ đồng: Đồng Đậu,
Gò Mun ở Vĩnh Lạc và Phong Châu Vĩnh Phú đã thấy sự tập hợp c dân nh
những làng cổ. Với truyền thuyết Thánh Gióng - ngời con trai làng Gióng,
ngời anh hùng phá giặc Ân - thì các làng của ngời Việt đã định hình trớc
thời Bắc thuộc.
11
Theo các nhà sử học cho đến thế kỷ XVIII trên đất nớc ta đã có đến
gần 2 vạn làng đợc hình thành từ ba nguồn:
- Từ công xã nguyên thủy, loại làng này không phải là ít vì sự phát
triển của xã hội Việt Nam không tạo ra một giai đoạn phá vỡ hoàn toàn các
công xã nguyên thủy, để rồi đến một lúc khác thành lập lại trên cơ sở một
xã hội mới.
- Các làng xã khác hình thành trong xã hội có giai cấp theo nhiều
con đờng: do một họ, nhiều họ, một điền trang của quan lại phong kiến
(làng Mộ Trạch, làng Minh Luân, An Nội ) hoặc có nguồn gốc từ đồn
điền của nhà nớc (Quán La, Nhật Tảo ).
- Làng do nhà nớc chủ trì khai hoang lập nên [125, tr. 66-67].
Do điều kiện tự nhiên đất đai màu mỡ, dân số cha đông, ngời Việt
có thể khai khẩn bất cứ chỗ nào thuận tiện xung quanh đủ ruộng cấy lúa và
nơi c trú là thành làng. C trú thành làng là một đặc trng kinh tế, chính trị,
văn hóa của ngời Việt. Là một đơn vị quần c, mỗi làng đợc xác định bởi
một không gian bằng những đờng ranh giới giữa làng này với làng khác,
giữa đất làng với đất không phải của làng. Đất đai của làng tạo nên bởi
những ranh giới do các thế hệ ngời làng lập nên. Nó vừa là của chung, của
làng vừa là của riêng mỗi gia đình. Ruộng đất đó dân làng cày cấy nuôi
sống mình và đóng góp một phần cho nhà nớc. Ngoài phần đất canh tác,
mỗi làng thờng giành một phần làm nơi c trú thuận lợi cho hoạt động kinh
tế, văn hóa, xã hội, giao thông và đợc gọi là làng. Nơi c trú ấy của cộng
ới cùng một hình thức ấy và nếu ngẫu nhiên bị phá hủy thì cũng
lại xuất hiện trên địa điểm cũ với một tên cũ - cái cơ cấu ấy cho
chúng ta cái chìa khóa để hiểu đợc sự bí ẩn của tính chất bất di
bất dịch của những xã hội châu á, nó trái ngợc một cách lạ thờng
13
với hiện tợng các nhà nớc châu á không ngừng bị phá hủy rồi lại
đợc lập lại, với những sự biến đổi không ngừng của các triều vua.
Kết cấu của các yếu tố kinh tế cơ bản của xã hội vẫn không bị
những cơn dông tố của lĩnh vực chính trị đầy mây ảnh hởng tới
[75, tr. 520-521].
C. Mác còn chú thích thêm:
Dới hình thức đơn giản ấy những ngời dân các nớc đó
đã sống từ thời thợng cổ đến nay. Ranh giới giữa các làng mạc ít
khi bị thay đổi. Và mặc dù bản thân những làng mạc đó đôi khi
bị thiệt hại, hay thậm chí còn bị tàn phá vì chiến tranh, nạn đói,
bệnh dịch, nhng cũng cái tên ấy, những ranh giới ấy, với những
lợi ích ấy, thậm chí với cả gia tộc ấy vẫn cứ tiếp tục tồn tại hàng
thế kỷ. Sự sụp đổ hay sự phân biệt của các vơng quốc chẳng hề
làm cho họ lo lắng; trong khi làng xóm vẫn còn nguyên vẹn, thì
dù nó nằm dới quyền lực của ai hay đợc chuyển cho một ông vua
nào, điều đó đối với họ cũng không quan trọng lắm, nền kinh tế
nội bộ của họ vẫn không thay đổi [75, tr. 520].
Chính cái cơ cấu kinh tế - xã hội khép kín ấy, là cơ sở hình thành ý
thức ngời nông dân làng xã Việt Nam, ý thức cộng đồng - cái cá nhân dờng
nh bị tan ra, bị hòa vào cộng đồng. Lợi ích cá nhân nằm trong lợi ích cộng
đồng, danh dự của ngời nông dân gắn với danh dự của làng xã - họ không
chỉ sống cho mình mà sống cho làng xã. Ngời nông dân chấp nhận những
quy tắc ứng xử, nếp sinh hoạt, quan hệ cộng đồng làng xã nh một lẽ tự nhiên.
Quan hệ làng xã ấy, vừa có mặt trì trệ bảo thủ của nó, nhng chính nó lại là
nơi thể hiện khá rõ quyền lợi và nghĩa vụ của ngời nông dân mà nhiều nhà
hiện đợc gọi là "lệ làng".
15
Theo Từ điển tiếng Việt:
Lệ: Lề lối, phép tắc đã đặt ra, lệ làng: tục lệ ở làng [46, tr. 912]
Lệ có nguồn gốc Hán Việt : bao gồm : ngời chỉ những việc liên
quan đến con ngời và : liệt nêu ra, bày đặt ra, sắp đặt ra.
Lệ: là những sắp đặt, bày đặt ra mà ngời ta phải tuân theo.
Lệ làng là toàn bộ những quy định, lề lối, phép tắc, những phong
tục tập quán đợc hình thành trong các hoạt động của dân làng trên các lĩnh
vực chính trị, kinh tế, xã hội văn hóa tín ngỡng của từng làng. Lệ làng quy
định điều chỉnh hành vi, ứng xử của con ngời trong các hoạt động đó.
Trớc Cách mạng Tháng Tám, ở các làng xã ngời Việt đều có những
lệ làng thành văn với những tên gọi riêng tùy theo cách ghi chép của ngời
soạn thảo: Hơng ớc, Hơng biên, Khoán ớc, Hơng khoán, Hơng lệ, Điều lệ
v.v Nhng dù gọi tên gì chăng nữa thì những văn bản đó đều bao gồm
những quy ớc liên quan đến các lĩnh vực đời sống của từng làng, từng cộng
đồng dân c, mà ngời ta quen gọi bằng tên phổ biến nhất - Hơng ớc.
Quá trình phát triển của làng xã làm cho c dân đông đúc dần, các
mối quan hệ và thiết chế xã hội lần lợt ra đời và tăng lên để quản lý các
mặt, các lĩnh vực của đời sống. Đó là tiền đề để làm phong phú các quy ớc
nhằm đáp ứng đợc yêu cầu điều chỉnh các mối quan hệ trong cộng đồng.
Các hình thức tổ chức, các mối quan hệ xã hội giữa các cá nhân, các tổ
chức trong làng cũng nh quan hệ giữa làng xã với nhà nớc phong kiến ngày
càng phức tạp. Những tục lệ tập quán trong làng cũng phức tạp thêm lên.
Để duy trì các mối quan hệ đó, giữ "thăng bằng" cho làng xã, những quy ớc
truyền miệng phải đợc điều chỉnh bổ sung cho phù hợp, mặt khác cũng
không ai có thể nhớ nổi những quy ớc ngày càng phức tạp đó. Để cho cộng
đồng có thể thống nhất với nhau trong khi vận dụng những điều về các quy
tắc ứng xử, quyền lợi và nghĩa vụ của cá nhân đối với cộng đồng và ngợc
lại. Do vậy, việc văn bản hóa những tục lệ, tập quán là sự đòi hỏi khách
- Cơ cấu tổ chức hoàn chỉnh, các phong tục, tập quán, các tục lệ
ngày càng phức tạp.
- Nhà nớc phong kiến ngày càng can thiệp vào làng xã, biến nó
thành đơn vị hành chính cơ sở, tuy vậy mỗi làng còn giữ đợc tính "tự trị"
thể hiện ở một số tập tục truyền thống.
- Trong mỗi làng đã xuất hiện một tầng lớp nho sĩ có thể đại diện
cho làng soạn thảo các sổ sách giấy tờ trong đó có bản lệ làng thành văn -
Hơng ớc [30].
Khẳng định điều đó nhằm tìm ra một niên đại tơng đối về sự xuất
hiện của các văn bản lệ làng. Số lợng các bản hơng khoán ớc có niên đại cụ
thể hiện nay còn lại khá nhiều chỉ tính riêng hai th viện: Viện nghiên cứu
Hán Nôm và Viện Thông tin khoa học xã hội đã có tới 5.456 bản [29, tr.
16] đó là cha kể số còn lại nằm rải rác ở các th viện trung ơng, th viện địa
phơng, trong các làng, và trong tay các nhà nghiên cứu. Những bản hơng -
ớc có niên đại sớm nhất còn lại đến ngày nay là bộ Quỳnh Đôi sự tích cổ
kim Hơng biên gồm ba văn bản ra đời vào gần giữa thế kỷ XVII. Hơng ớc
làng Mộ Trạch, huyện Đờng An, phủ Thợng Hồng (nay là huyện Cẩm
Bình - Hải Dơng) ra đời năm 1665 sau đó đợc sửa chữa bổ sung tới 16 lần
từ 30 điều ban đầu lên 82 điều ở bản cuối cùng [108, tr. 107]. Ngoài ra còn
khá nhiều các bản hơng ớc có niên đại từ nửa sau thế kỷ XVII đến đầu thế
kỷ XX. Điều đó chứng tỏ từ thế kỷ XVII trở đi, lệ làng đợc "văn bản hóa"
đã trở thành rất phổ biến trong sinh hoạt làng xã. Song, cha hẳn những văn
bản lệ làng hiện nay còn lại đã là những văn bản có niên đại sớm nhất mà
có thể từ thời Lê Thánh Tông đã xuất hiện và tồn tại của các văn bản lệ
làng. Bằng chứng là dới triều Lê Thánh Tông (1460 -1497) trong hàng loạt
18
các đạo dụ đợc tập hợp trong "Hồng Đức Thiện chính th" có một điều luật
gồm 5 điều mà nội dung rõ ràng nhằm mục đích hạn chế các làng xã lập h-
ơng ớc - khoán ớc [39, tr. 54-55].
Đạo dụ của Lê Thánh Tông cũng chứng tỏ ngay cả khi có luật nớc,
Nội dung thứ nhất, hơng ớc khẳng định ranh giới lãnh thổ của làng
và cơ cấu tổ chức, quan hệ trong làng xã.
Mỗi làng có một địa vực riêng, đợc hình thành do những dòng họ
hay tập đoàn ngời đầu tiên đến khai phá và mở rộng theo thời gian nhờ
công sức của nhiều thế hệ. Hơng ớc của một số làng đã ghi lại quá trình
khai hoang lập nên làng xóm. Chủ quyền của làng, đợc khẳng định qua
điều khoản của hơng ớc: ranh giới của làng giáp đâu ? Xác định bởi mốc
giới nào? Diện tích công t điền thổ bao nhiêu? Hơng ớc cũng quy định, các
thành viên trong làng có nghĩa vụ bảo vệ "lãnh thổ" của làng, chống lại sự
xâm phạm của ngời làng khác, cũng nh phải tuân thủ nghiêm ngặt về việc
sử dụng các bộ phận lãnh thổ của làng. Chính cái giới hạn lãnh thổ của mỗi
làng đã làm nên cái "ta làng" cái văn hóa làng. Ngời nông dân ý thức về
quyền sở hữu "tập thể làng" cái ý thức "co cụm để đề kháng" để bảo vệ
làng và rộng hơn là bảo vệ bản sắc dân tộc. Do vậy, "làng và văn hóa làng
từng là cái nôi, lá chắn, đã sáng tạo giữ gìn và che chở những giá trị tinh
thần chống lại các âm mu đồng hóa về văn hóa của bên ngoài" [60, tr. 46].
Mặc dù sắp xếp trớc sau có thể có sự khác nhau, song một trong
những mục mà các bản hơng ớc đều đề cập tới đó là mục chính trị, trong đó
nội dung chủ yếu liên quan đến thiết chế chính trị, cơ cấu tổ chức và các
quan hệ xã hội trong làng.
Quan hệ tổ chức - xã hội ở làng xã khá chặt chẽ, đợc thể hiện ở các
điều mục trong hơng ớc quy định bộ máy tổ chức, phân định trật tự đẳng
cấp trong bộ máy, trong c dân làng xã. Lệ làng gồm những quy ớc đề cập
20
tới các tổ chức trong làng, chức năng quyền hạn của các tổ chức và những
thành viên của nó: Hội đồng kỳ mục, xóm ngõ, phờng hội, phe, giáp, dòng
họ
Hội đồng kỳ mục là bộ máy quản lý làng xã truyền thống, về danh
nghĩa, đây là cơ quan có toàn quyền quyết định các công việc quan trọng
trong làng. Phân bổ thuế khóa, su dịch, phân chia công điền, xây dựng tu
này chiếm một số lợng tơng đối trong hơng ớc. Nội dung chủ yếu trong
những điều khoản đó đề cao tinh thần đoàn kết đùm bọc làng xóm, giữ
gìn những quan hệ tốt đẹp, khuyến khích dân làng ăn ở hòa thuận giúp đỡ
nhau trong đời sống hàng ngày. Chẳng hạn, Điều 71 hơng ớc làng Quỳnh
Đôi quy định: Mọi ngời phải đến giúp ngời khác lợp nhà, đa ma mà
không cần lời mời, khi đa ma thì tùy tang chủ kính biếu mà không đợc đòi
hỏi. Điều 83 lại ghi: Ai gặp ngời già mà không giúp sức mang vác thì bị
phạt. Hoặc ở Điều 97: Gặp hoạn nạn, ngời trong làng phải giúp đỡ lẫn
nhau, nếu không khi trở về làng bị phạt 20 quan mới đợc ghi tên vào sổ
làng (đợc công nhận lại là thành viên của làng).
Nhiều bản hơng ớc còn có những điều khoản quy định nhằm hạn
chế hiện tợng kéo bè cánh, cậy quyền ỷ thế trong việc giải quyết các công
việc của làng, nh hơng ớc làng Dơng Liễu (Hoài Đức - Hà Tây) làng Quỳnh
Đôi (Quỳnh Lu - Nghệ An) v.v
Hơng ớc làng Dơng Liễu viết: Ai ức hiếp dân chúng, yêu sách trong
kỳ thu thuế, bắt phu, kẻ đó bị phạt 10 quan tiền và bị xóa bỏ ngôi thứ ở
đình. Hoặc ở làng Quỳnh Đôi: Khi đi thu thuế, ai đòi hỏi yêu sách thêm thì
đến khi ngời ấy chết làng không đến đa ma Những quan hệ xã hội trong
làng xã đã đợc "luật hóa" trong lệ làng.
22
Dòng họ là một hình thức tập hợp ngời trong làng theo quan hệ
huyết thống. Mỗi làng có thể có nhiều họ. Các họ c trú đan xen vào nhau ở
tất cả các xóm trong làng, nhng ở nhiều làng, có những dòng họ c trú trong
một xóm hay một khu vực nhất định. Tình cảm dòng họ nhiều khi trở thành
một phơng thức điều chỉnh hành vi của mỗi cá nhân. Ngời trong họ hàng
thờng quan tâm và biểu lộ tình cảm thái độ đối với cách ứng xử của các
thành viên của dòng họ mình. Vì thế, ngời ta có thể tự điều chỉnh hành vi
của mình, đừng làm điều gì tổn hại đến thanh danh gây tai tiếng cho cả họ.
Quan hệ dòng họ của ngời nông dân ở nông thôn tác động khá sâu sắc đến
phơng thức hoạt động của từng cá nhân.
Nhìn chung, tục lệ của làng xã cổ truyền phản ánh "cấu trúc xã hội
chính trị" của làng và những "chuẩn mực" điều chỉnh quan hệ của các cá
nhân trong cộng đồng làng.
Nội dung thứ hai của hơng ớc là những quy ớc bảo vệ an ninh làng
xã
ý thức bảo vệ đời sống cộng đồng đợc thể hiện ở việc giữ gìn trị an
thôn xóm và gắn liền với việc tổ chức vũ trang bảo vệ làng xã. Đây là vấn
đề sống còn và thờng xuyên của từng làng đợc quy định tỉ mỉ trong các bản
hơng ớc.
Có làng tổ chức an ninh còn đợc xây dựng chặt chẽ thành một hơng
ớc riêng (không chung với các quy định, các mặt của đời sống xã hội khác)
nh "Kiêu Trì tam phiên khoán" [44]. Điều quan trọng không chỉ thể hiện ở
tổ chức và lực lợng phòng vệ mà là ý thức phòng vệ của toàn dân đợc quy
định ở các bản hơng ớc. Tuy mỗi làng có những quy định riêng về tổ chức
vũ trang canh phòng, tuần tra nhng chúng ta có thể thấy ở những bản hơng
ớc có những nét chung.
24
Trớc hết, làng xã coi trọng việc lập các điếm canh, điếm tuần phòng
để phòng "thủy, hỏa, đạo, tặc" bảo vệ tính mạng, tài sản chung của cả làng.
Vì thế hết thảy các tráng đinh trong làng (thờng từ 18 đến 49 tuổi) đều phải
tham gia và đợc tổ chức thành các đội dân binh của các xóm ngõ gọi là
tuần phiên hay hàng phiên (nhng cũng có làng chỉ lấy những ngời vào
phiên từ 20 đến 40 tuổi). Hơng ớc làng Phú Xuyên (Ba Vì - Hà Tây) Điều
26 ghi: "Trong làng đặt ra các ngõ nh ngõ Trên, ngõ Hơng, ngõ Đình, ngõ
Đồng Phải cắt cử những tráng đinh trong ngõ từ 20 đến 40 tuổi, ngõ lớn
cử 12 ngời, ngõ nhỏ cử 8 ngời làm tuần phiên để tuần thú trong ngõ. Nếu
bất cẩn để nhà nào mất trộm vật gì đáng từ một đồng trở lên thì tuần phiên
phải đền" [41].
Chế độ tuần tra, canh gác của các đội tuần phiên tùy thuộc vào tập
tục của từng làng, nhằm bảo vệ an ninh trật tự, tài sản chung của cả làng cũng
định: các tráng đinh không tham gia đuổi cớp bị phạt 1 quan tiền cổ. Nhiều
làng còn quy trách nhiệm liên đới cho tất cả các thành viên trong làng đối
với việc bảo vệ an ninh làng xã lúc bình thờng cũng nh khi có động. Ngoài
ra, để quản lý chặt chẽ hơn hơng ớc còn quy định các gia đình phải trình
báo khi có khách lạ trú ngụ qua đêm nếu không trình báo khi phát hiện,
chủ nhà sẽ bị phạt (Hơng ớc làng Kiêu Trì).
Chế độ khen thởng đối với ngời có công trong việc bảo vệ an ninh
làng xã cũng đợc đề cập trong các bản hơng ớc. Làng Yên Sở quy định: ai
bắt đợc một tên cớp đợc thởng 100 quan tiền, ai giết đợc một tên cớp đợc
thởng 60 quan, bắt một tên ăn cắp thởng 15 quan. Trong việc tham gia
chống trộm cớp hoặc cứu hỏa hoạn chẳng may bị thơng hoặc chết đợc làng
26
xã quan tâm. Làng Mộ Trạch (Hải Dơng): ai bị thơng cấp 50 quan, bị chết
cấp 100 quan (tiền 1728) và cho ngời con đợc miễn phu dịch cả đời. Làng
Phú Xuyên (Ba Vì - Hà Tây) "ngời đến cứu giúp hỏa hoạn mà bị bỏng hoặc
què thì hội đồng trích tiền quỹ chi cho uống thuốc, ngời tham gia bắt trộm
cớp nếu bắt đợc trộm cớp đợc thởng 10 đồng bạc, nếu ai bị cớp đánh lại bị
thơng đợc cho 10 đồng bạc uống thuốc, nếu bị chết đợc 30 đồng tống táng
và xin cho con cháu một chức khán thủ. Những biện pháp khen thởng thích
đáng đó một mặt phản ánh tính cộng đồng làng xã, mặt khác giúp cho các
làng xã chủ động trong việc bảo vệ trật tự trị an của mình.
Nội dung thứ ba của hơng ớc là những quy ớc liên quan đến sản
xuất và bảo vệ môi trờng.
Nh chúng ta đã biết, đối với một nền kinh tế tiểu nông, ngời nông
dân "kiếm t liệu sinh hoạt cho mình bằng cách trao đổi với thiên nhiên
nhiều hơn là giao tiếp với xã hội" [69, tr. 264]. Quy trình sản xuất diễn ra
một thời gian dài, kết quả của nó phụ thuộc phần lớn vào thiên nhiên.
Trong quá trình sản xuất ngời nông dân một mặt phải "trông trời, trông đất,
trông mây, trông ma, trông nắng, trông ngày, trông đêm" cầu cho "ma nắng
phải thì" mặt khác vừa phải tìm cách đối phó với thiên nhiên để tồn tại.
nhà cửa ruộng vờn của mỗi ngời không thể không bị ngập lụt. Cả làng mất
mùa thì mỗi nhà không thể không mất mùa. Thực tiễn của công cuộc trị
thủy - thủy lợi đã đặt lợi ích cá nhân, gia đình, dòng họ trong lợi ích cộng
đồng làng xã. ở mặt này nó còn góp phần thúc đẩy sự phát triển tinh thần,
ý thức cộng đồng ra ngoài khuôn khổ làng xã nhỏ sang cộng đồng tập thể
rộng lớn hơn.
Hơng ớc khuyến khích tất cả mọi ngời tận dụng đất đai, chăm chỉ
cày cấy. Nếu gia đình nào để đất hoang hoặc để gia súc, gia cầm phá hoại
mùa màng đều phải phạt nặng, nhẹ tùy mức độ vi phạm. Với mục đích bảo
28
đảm và phát triển sản xuất, các bản hơng ớc khuyên mọi ngời khai khẩn đất
hoang, phục hóa giữ gìn bảo vệ nguồn nớc, đồng thời trừng trị những ai cố
tình vi phạm những quy định của làng.
Lệ làng phản ánh ý thức cộng đồng trong việc bảo vệ môi trờng sống
của làng. Những công trình công cộng đợc chăm lo tu sửa. Nhất là những
công trình thể hiện bộ mặt của làng: đờng làng, giếng nớc, ngôi đình.
Đờng làng để cả làng đi lại, mọi ngời đều phải có ý thức giữ gìn tôn
tạo. Hơng ớc của nhiều làng quy định không đợc tự ý thả trâu bò, lợn để
phóng uế ra đờng, không xẻ rãnh, tháo nớc qua đờng. Hơng ớc quy định và
khuyến khích phát triển giao thông: trai gái xây dựng gia đình, những ngời
đỗ đạt, khao danh vọng phải nộp gạch để lát đờng đã góp phần tạo nên bộ
mặt làng xóm phong quang sạch đẹp.
Nội dung thứ t: Những quy ớc về văn hóa giáo dục, tín ngỡng và
phong tục tập quán của làng
Mỗi làng Việt là một cơ cấu kinh tế khép kín mang tính "nửa tự trị".
Nét khác biệt giữa các làng đợc đặc trng bởi những nét văn hóa riêng, các
tục hèm, lệ thờ thành hoàng: mỗi làng tôn một vị thần làm "thành hoàng"
đợc thờ ở đình, đình đợc xây dựng ở nơi tốt nhất về phong thủy. Thành
hoàng có thể là thiên thần, cũng có thể là nhân thần, cũng có thể là ngời có
công với làng, với nớc nhng cũng có thể là ngời mà dân làng cho là linh