Giáo dục giá trị đạo đức truyền thống với việc hình thành và phát triển nhân cách cho sinh viên khu vực tây nguyên trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay - Pdf 31

HC VIN CHNH TR QUC GIA H CH MINH

PHM HUY THNH

giáo dục giá trị đạo đức truyền thống
với việc hình thành và phát triển nhân cách
cho sinh viên khu vực tây nguyên trong bối cảnh
toàn cầu hóa hiện nay
Chuyờn ngnh

: CNDVBC&CNDVLS

Mó s

: 62 22 80 05

LUN N TIN S TRIT HC

Ngi hng dn khoa hc: 1. PGS.TS TRN S PHN
2. PGS.TS Lấ TH THY

H NI - 2014


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các số liệu sử dụng trong luận án là trung thực,
có nguồn gốc rõ ràng. Những kết luận khoa học của luận
án chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình khoa
học nào.

thống nhằm hình thành và phát triển nhân cách sinh viên Việt Nam
trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay
2.3. Giá trị đạo đức truyền thống và một số giá trị đạo đức truyền thống dân
tộc cần phải giáo dục cho sinh viên Việt Nam hiện nay

Chương 3:

GIÁO DỤC GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG NHẰM HÌNH
THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH CHO SINH VIÊN KHU
VỰC TÂY NGUYÊN TRONG BỐI CẢNH TOÀN CẦU HÓA HIỆN
NAY: THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA

3.1. Những nhân tố ảnh hưởng đến giáo dục giá trị đạo đức truyền thống
nhằm hình thành và phát triển nhân cách sinh viên ở khu vực Tây
Nguyên trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay
3.2. Thực trạng giáo dục giá trị đạo đức truyền thống nhằm hình thành và
phát triển nhân cách sinh viên ở khu vực Tây Nguyên trong bối cảnh
toàn cầu hóa hiện nay
3.3. Những vấn đề đặt ra đối với việc giáo dục giá trị đạo đức truyền thống
nhằm hình thành và phát triển nhân cách sinh viên ở khu vực Tây
Nguyên trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay

Chương 4:

QUAN ĐIỂM ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN
ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIÁO DỤC GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC
TRUYỀN THỐNG NHẰM HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NHÂN
CÁCH CHO SINH VIÊN KHU VỰC TÂY NGUYÊN TRONG BỐI
CẢNH TOÀN CẦU HÓA HIỆN NAY


150
152
164


1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sinh viên là tầng lớp xã hội đặc thù, nguồn lực quan trọng trong sự
nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh
từng nói: "Một năm khởi đầu từ mùa xuân. Một đời người khởi đầu từ tuổi
trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội". Nếu không có thế hệ trẻ, sẽ không có sự
phát triển nối tiếp lịch sử của mỗi quốc gia, dân tộc, cũng như không có sự
phát triển của nhân loại.
Sau gần 30 năm tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, Đảng
ta, nhân dân ta đã và đang đạt được những thành tựu to lớn và rất quan trọng,
“có ý nghĩa lịch sử”, “đất nước đã ra khỏi tình trạng kém phát triển, bước vào
nhóm nước đang phát triển có thu nhập trung bình” [35, tr.91]. Diện mạo của
đất nước có nhiều thay đổi, đời sống nhân dân được nâng lên. Thế và lực của
nước ta ngày càng vững mạnh, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế được
nâng lên, đã tạo ra những tiền đề quan trọng để đẩy nhanh quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Bên cạnh những thành tựu to lớn và quan trọng đó, chúng ta cũng phải
đối mặt với không ít những khó khăn, thách thức. Kinh tế phát triển chưa bền
vững; năng suất, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp; công tác
quy hoạch, kế hoạch và việc huy động, sử dụng các nguồn lực còn hạn chế,
kém hiệu quả. Đặc biệt là trong các lĩnh vực văn hóa, xã hội có một số mặt
yếu kém chậm khắc phục, nhất là về giáo dục, đào tạo và y tế; đạo đức, lối
sống trong một bộ phận xã hội xuống cấp. Chúng ta đang chứng kiến sự
xuống cấp đạo đức từ mối quan hệ trong gia đình, nhà trường và xã hội. Trong

tựu quan trọng, góp phần to lớn vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc…Tuy nhiên, chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo còn thấp so với
yêu cầu, nhất là giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp…“chưa chú trọng
đúng mức việc giáo dục đạo đức, lối sống và kỹ năng làm việc…” cho học
sinh, sinh viên.


3
Để củng cố và tiếp tục xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, phong
phú, đa dạng; làm cho các giá trị văn hóa thấm sâu vào mọi mặt của đời sống
trở thành nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc
đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế. Một trong những nhiệm
vụ cấp thiết trước mắt là tiếp tục đẩy mạnh việc giáo dục, bồi dưỡng đạo đức,
lối sống có văn hóa, giữ gìn và phát triển những giá trị truyền thống (nhất là
những giá trị đạo đức truyền thống); kiên quyết đấu tranh ngăn chặn mọi sự
xâm hại, lai căng, thiếu lành mạnh đang có nguy cơ làm băng hoại các giá trị
văn hóa, làm suy thoái đạo đức lối sống trong một bộ phận nhân dân nói
chung, sinh viên nói riêng. Đại hội lần thứ XI của Đảng khẳng định: “Chú trọng
xây dựng nhân cách con người Việt Nam về lý tưởng, trí tuệ, đạo đức, lối sống,
thể chất, lòng tự tôn dân tộc, trách nhiệm xã hội, ý thức chấp hành pháp luật,
nhất là trong thế hệ trẻ” [35, tr.126], trong đó công tác giáo dục giá trị đạo đức
truyền thống để hình thành nên nhân cách mới - nhân cách xã hội chủ nghĩa cho
sinh viên ở khu vực Tây Nguyên có tầm quan trọng đặc biệt. Với ý nghĩa đó, tác
giả chọn vấn đề: “Giáo dục giá trị đạo đức truyền thống với việc hình thành và
phát triển nhân cách cho sinh viên khu vực Tây Nguyên trong bối cảnh toàn
cầu hoá hiện nay” để nghiên cứu và làm luận án tiến sỹ chuyên ngành triết học.
2. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1. Mục tiêu
Phân tích một số khái niệm công cụ của luận án: nhân cách, nhân cách
sinh viên, giá trị, giá trị truyền thống, giá trị đạo đức truyền thống, toàn cầu

cao đẳng khu vực Tây Nguyên.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở lý luận
Luận án được thực hiện trên cơ sở các quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, những quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về
giáo dục giá trị đạo đức truyền nhằm hình thành và phát triển nhân cách sinh viên
Việt Nam nói chung và sinh viên khu vực Tây Nguyên nói riêng trong bối cảnh
toàn cầu hoá hiện nay.


5
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử; phương pháp lịch sử-lôgíc, phân tích và tổng
hợp, thống kê, so sánh, các phương pháp chuyên ngành và liên ngành khác.
Sử dụng phương pháp điều tra xã hội học: thời gian vào tháng 10 năm
2012, số phiếu phát ra 400 phiếu: trường Đại học Tây Nguyên 100 phiếu, đại
học Đà Lạt 100, Cao đẳng Sư phạm Đắk Lăk là 100 phiếu, Cao đẳng Sư phạm
Gia Lai 100 phiếu, kết quả thu về 376 phiếu.
5. Những đóng góp khoa học của luận án
Góp phần làm sáng tỏ một số khái niệm công cụ của luận án: nhân
cách, nhân cách sinh viên, giá trị truyền thống, giá trị đạo đức truyền thống,
toàn cầu hóa.
Phân tích vai trò giáo dục giá trị đạo đức truyền thống đối với việc hình
thành và phát triển nhân cách sinh viên khu vực Tây Nguyên trong bối cảnh
toàn cầu hoá hiện nay.
Phân tích, đánh giá thực trạng công tác giáo dục giá trị đạo đức truyền
thống nhằm hình thành và phát triển nhân cách sinh viên khu vực Tây Nguyên
trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay và chỉ ra nguyên nhân của thực trạng đó.
Đề xuất một số quan điểm định hướng và giải pháp chủ yếu để nâng
cao hiệu quả giáo dục giá trị đạo đức truyền thống nhằm xây dựng nhân cách

giáo dục giá trị đạo đức truyền thống
Vấn đề giá trị truyền thống, giá trị đạo đức truyền thống, giáo dục giá
trị đạo đức truyền thống đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu ở những
mức độ khác nhau.
Tác giả Trần Văn Giàu trong cuốn sách “Giá trị tinh thần truyền thống
của dân tộc Việt Nam” [57] đã khẳng định tính cách dân tộc, giá trị truyền
thống của dân tộc Việt Nam được nhấn mạnh ở: lòng yêu nước, thương người.
Đây là truyền thống quý báu của dân tộc đã được trải qua hàng ngàn năm lịch
sử dựng nước và giữ nước. Từ đó, tác giả đặt ra vấn đề kế thừa, giáo dục những
giá trị tinh thần yêu nước, thương người cho con người Việt Nam hiện nay.
Bằng cách tiếp cận giá trị truyền thống có vai trò trong quá trình phát
triển đất nước, tác giả Trần Đình Hượu trong cuốn “Đến hiện đại từ truyền
thống” [85] đã nêu lên cho xã hội một cách đánh giá, nhìn nhận đúng tầm
quan trọng của văn hoá truyền thống trong đời sống xã hội. Xác định văn hoá
truyền thống như một nguồn lực nội sinh và không ngừng ảnh hưởng đến việc
xây dựng văn hoá mới trong giai đoạn hiện nay.
Luận án tiến sĩ triết học của Nguyễn Văn Lý “Kế thừa và đổi mới các
giá trị đạo đức truyền thống trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị
trường ở Việt Nam hiện nay” [97] đã làm rõ hơn vai trò của kế thừa và đổi
mới các giá trị đạo đức truyền thống trong quá trình chuyển sang nền kinh tế
thị trường ở nước ta. Qua đó, tác giả góp phần xác định nội dung, phương
hướng, giải pháp cơ bản bảo đảm kế thừa và đổi mới các giá trị đạo đức


8
truyền thống nhằm xây dựng đời sống đạo đức tốt đẹp của con người và xã
hội Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Trong quá trình phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, văn
hóa luôn được cọi là động lực của sự phát triển. Các giả Nguyễn Trọng
Chuẩn, Phạm Văn Đức, Hồ Sỹ Quý trong cuốn “Tìm hiểu giá trị văn hoá

và vai trò của nó trong đời sống tinh thần của thanh niên Việt Nam. Từ đó,
luận án đưa ra phương châm, phương pháp giáo dục truyền thống đoàn kết
dân tộc cho thanh niên Việt Nam, quan hệ giữa giáo dục truyền thống đoàn
kết dân tộc với giáo dục thanh niên trong điều kiện hội nhập quốc tế. Tác giả
phát hiện những vấn đề nảy sinh từ thực trạng giáo dục truyền thống đoàn kết
dân tộc cùng xu hướng tách rời giữa quá khứ với hiện tại trong giáo dục
truyền thống đoàn kết dân tộc. Tác giả Ngô Thị Thu Ngà đã làm rõ một số
khái niệm cơ bản: đạo đức mới, giá trị đạo đức truyền thống, vai trò của giá trị
đạo đức truyền thống với việc xây dựng đạo đức mới cho thế hệ trẻ Việt Nam
hiện nay. Trên cơ sở khảo sát thực trạng ảnh hưởng của giá trị đạo đức truyền
thống đối với việc xây dựng đạo đức mới cho thế hệ trẻ Việt Nam, tác giả đã
đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm phát huy vai trò các giá trị đạo đức
truyền thống trong xây dựng đạo đức mới cho thế hệ trẻ nước ta hiện nay.
Như vậy, vấn đề giá trị truyền thống, giáo dục giá trị đạo đức truyền
thống Việt Nam luôn được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu. Các giá trị
truyền thống được làm sáng tỏ từ sự hình thành, phát triển và tiếp biến trong
điều kiện mới. Nội dung nghiên cứu là các giá trị truyền thống, chủ yếu là các
giá trị tinh thần được biến đổi trong sự thay đổi của điều kiện kinh tế - xã hội
ở nước ta. Các công trình khoa học đã làm rõ các khái niệm giá trị, giá trị đạo
đức, giá trị đạo đức truyền thống, giáo dục giá trị đạo đức truyền thống. Cách
tiếp cận của các công trình khoa học thường đi từ khái niệm giá trị và cấu trúc
giá trị bao gồm giá trị vật chất và giá trị tinh thần; trong giá trị tinh thần thì
giá trị đạo đức đóng vai trò chủ yếu. Song, có thể thấy, đó chủ yếu là các giá
trị tinh thần (bao gồm giá trị đạo đức), và do vậy, việc nghiên cứu giá trị đạo


10
đức truyền thống chỉ được nghiên cứu cùng với giá trị tinh thần khác, mà ít có
công trình nghiên cứu chuyên biệt. Vấn đề giáo dục giá trị đạo đức truyền
thống cho đối tượng cụ thể là sinh viên được nhiều công trình khoa học đề

Để làm rõ sự biến đổi các giá trị trong nền kinh tế thị trường, năm
1994 Viện Triết học cùng với Trung tâm giao lưu văn hoá Việt Đức đã tổ
chức hội thảo khoa học “Sự chuyển đổi giá trị trong quá trình chuyển sang
nền kinh tế thị trường” [139]. Hội thảo tập trung 4 cụm vấn đề chính: Những
vấn đề phương pháp nghiên cứu giá trị và sự chuyển đổi giá trị trong xã hội
nói chung trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường nói riêng; về sự
hình thành hệ thống giá trị trong cơ chế thị trường hiện nay; sự chuyển đổi
giá trị trong văn hoá đạo đức; về giáo dục giá trị con người Việt Nam nói
chung và thanh niên Việt Nam nói riêng. Hội thảo này đã làm sáng tỏ một số
vấn đề lý luận và thực tiễn trong sự chuyển đổi giá trị nói chung và giá trị
nhân cách nói riêng.
Phạm Minh Hạc trong“Nghiên cứu giá trị nhân cách theo phương
pháp NEOPI-R cải biên” [60] đã đưa ra bảng hỏi trắc nghiệm Neopi-r có gần
200 câu hỏi trong đó có 6 giá trị (thái độ) đối với sức khoẻ, học vấn, đạo đức,
tiền bạc, quyền lực, hạnh phúc gia đình mà chúng ta gọi là các giá trị cơ bản
(sống còn) của cuộc sống. Ngoài ra có hơn 60 câu hỏi về 9 vấn đề: lý tưởng
phấn đấu, thái độ chính trị, yêu nước, lòng tự hào dân tộc, tôn trọng pháp luật,
thái độ học tập, thái độ với đồng tiền, hội nhập mở cửa, thái độ với môi
trường và thái độ với công việc. Đây là công trình nghiên cứu có tính chất
chuyên sâu về giá trị nhân cách theo phương pháp điều tra xã hội học.
Nhấn mạnh vai trò của đạo đức đối với sự hình thành và phát triển nhân
cách của con người Việt Nam, Lê Thị Thuỷ trong luận án tiến sỹ Triết học
“Vai trò của đạo đức đối với sự hình thành nhân cách con người Việt Nam
hiện nay” [126] đã đi sâu phân tích đặc điểm nhân cách con người Việt Nam
và vai trò của đạo đức đối với sự hình thành nhân cách con người Việt Nam


12
hiện nay. Việc khai thác vai trò của đạo đức như một yếu tố trong cấu trúc
nhân cách và sự vận dụng các tri thức khoa học triết học, đạo đức học, tâm lý

sống, điều kiện thành đạt, mẫu hình của người thành đạt, tâm tư nguyện vọng
đối với sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, trách nhiệm thái độ của sinh viên
trước các hiện tượng tiêu cực của xã hội.
Về vấn đề sinh viên và sự định hướng các giá trị cuộc sống cho sinh
viên, tác giả Trần Sỹ Phán trong bài báo “Sinh viên với định hướng giá trị
nhân cách” [114] đã đưa ra thực trạng nhân cách sinh viên và một số giá trị
nhân cách định hướng cho sinh viên Việt Nam trong điều kiện phát triển kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay. Từ định
hướng các giá trị nhân cách đó, giúp sinh viên Việt Nam nhận thấy được vai
trò và trách nhiệm của mình với bản thân, gia đình, dân tộc.
Trần Sỹ Phán trong luận án tiến sĩ triết học “Giáo dục đạo đức đối với
sự hình thành và phát triển nhân cách sinh viên Việt Nam hiện nay” [115] đã
làm rõ hơn về khái niệm nhân cách, tính đặc thù của nhân cách sinh viên. Đây
là công trình khoa học nghiên cứu sâu vai trò của giáo dục đạo đức đối với sự
hình thành và phát triển nhân cách sinh viên Việt Nam. Luận án góp phần làm
sáng tỏ thực chất, vai trò, ý nghĩa, tầm quan trọng của giáo dục đạo đức thông
qua giảng dạy ở các trường đại học, cao đẳng đối với sự hình thành và phát
triển nhân cách sinh viên Việt Nam hiện nay. Từ đó, tác giả đề xuất một số
phương hướng, giải pháp nhằm góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả
giáo dục đạo đức nói chung, môn đạo đức học nói riêng.
Giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin có tầm quan trọng trong việc xây
dựng nhân cách sinh viên Việt Nam, tác giả Hoàng Anh trong luận án tiến
sĩ triết học “Giáo dục lý luận Mác - Lênin với việc hình thành và phát triển
nhân cách ở sinh viên Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường hiện
nay” [2] đã góp phần làm rõ nhân cách, nhân cách sinh viên, quá trình hình
thành và phát triển nhân cách sinh viên. Luận án đi sâu phân tích vai trò
của giáo dục lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin đối với sự phát triển nhân cách
của sinh viên Việt Nam trong điều kiện nền kinh tế thị trường. Từ đó, tác





15
của giáo dục đối với việc xây dựng nhân cách con người Việt Nam nói chung
và sinh viên nói riêng. Cách tiếp cận của các công trình khoa học trên thường
khai thác khái niệm nhân cách, cấu trúc nhân cách và quá trình hình thành,
phát triển nhân cách; cấu trúc nhân cách bao gồm tài và đức là vấn đề xuyên
suốt được phân tích rõ trong quá trình giáo dục nhằm hình thành và phát triển
nhân cách. Chưa có công trình nào nghiên cứu nhân cách dưới góc độ cụ thể,
chẳng hạn, nghiên cứu vai trò giáo dục giá trị đạo đức truyền thống đối với
việc xây dựng nhân cách con người Tây Nguyên nói chung, sinh viên nói
riêng. Do vậy, đây là hướng nghiên cứu mới của luận án, làm rõ vai trò giáo dục
giá trị đạo đức truyền thống đối với việc hình thành và phát triển nhân cách sinh
viên khu vực Tây Nguyên. Đồng thời, luận án kế thừa các khái niệm nhân cách,
cấu trúc nhân cách và cách triển khai cấu trúc nhân cách trong việc giáo dục giá
trị đạo đức truyền thống cho sinh viên khu vực Tây Nguyên.
1.2. NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN TOÀN CẦU
HÓA, TÁC ĐỘNG CỦA TOÀN CẦU HOÁ ĐỐI VỚI NHÂN CÁCH, LỐI SỐNG,
ĐẠO ĐỨC CỦA CON NGƯỜI VIỆT NAM NÓI CHUNG VÀ SINH VIÊN VIỆT
NAM NÓI RIÊNG

1.2.1. Các công trình nghiên cứu liên quan đến toàn cầu hóa và đặc
điểm của toàn cầu hóa
Vấn đề toàn cầu hóa là một vấn đề đã và đang thu hút sự quan tâm của
các học giả trong và ngoài nước. Xuất phát từ mục tiêu, nhiệm vụ của luận án,
tác giả đề cập đến một số công trình sau đây có liên quan trực tiếp đến đề tài.
Các tác giả S.Xmit và G.Bâylơ trong cuốn sách “Toàn cầu hóa của nền
chính trị thế giới” [146] đã đề cập đến trong giai đoạn hiện nay đang có ba
loại quan niệm về toàn cầu hóa khác nhau. Những người theo chủ thuyết thực
tế và thực tế mới cho rằng, toàn cầu hóa không làm biến đổi được sự phân

ứng nhu cầu bức thiết của các nước đang phát triển, trong đó có nước ta lựa
chọn hướng đi cho mình trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay. Kết quả nghiên
cứu của các tác giả góp phần mở ra việc nhận thức đầy đủ hơn về phép biện
chứng trong quá trình toàn cầu hóa hiện nay và sự tác động của nó đến sự hội
nhập và phát triển tiến bộ ở các nước đang phát triển. Điều đó có ý nghĩa đặc
biệt với Việt Nam trong tiến trình hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế toàn cầu


17
hóa. Hội nhập quốc tế là một phương thức cơ bản, một tiến trình tất yếu, một
động lực mạnh mẽ để đổi mới - phát triển rút ngắn khoảng cách tụt hậu kinh
tế, khoa học - công nghệ, văn hóa - xã hội và trước mắt đưa nước ta cơ bản trở
thành một nước công nghiệp vào năm 2020.
Cuốn sách “Toàn cầu hóa trong bối cảnh châu Á - Thái Bình Dương một số vấn đề triết học” [53] đã đưa ra cách nhìn nhận khá toàn diện về toàn
cầu hóa từ góc độ triết học. Trong số 24 bài viết (có 10 bài viết của học giả
nước ngoài), có gần 20 bài viết liên quan trực tiếp đến toàn cầu hóa. Về cơ
bản, các tác giả cho rằng: biết chấp nhận những thái độ khác nhau, ủng hộ hay
phản đối, toàn cầu hóa vẫn là một xu thế tất yếu, khách quan và đang tác động
mạnh mẽ đến tất cả các quốc gia dân tộc, cả ở những nước phát triển lẫn đang
phát triển.
Về đặc điểm toàn cầu hóa, các tác giả cho rằng, toàn cầu hóa hiện nay
có những nét khác biệt so với các giai đoạn toàn cầu hóa trước đây. Đó là xu
thế hợp tác để cùng tồn tại và phát triển, thay cho đối đầu; sự tác động ngày
càng sâu rộng đến tất cả các quốc gia, dân tộc và đến mọi mặt của đời sống xã
hội hiện đại; việc mở ra cơ hội, điều kiện cho sự phát triển, đồng thời cũng đặt
ra những thách thức về kinh tế, xã hội, văn hóa. Sự phân tích toàn cầu hóa
cũng như đặc điểm của nó trong cuốn sách này là tư liệu tham khảo có giá trị
để tác giả có thể kế thừa ở mức độ nhất định trong quá trình thực hiên luận án.
Đề cập đến những vấn đề lý luận và thực tiễn của quá trình toàn cầu
hóa, trong cuốn sách “Toàn cầu hóa - những vấn lý luận và thực tiễn”, các tác

“Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam” [39] đã đi sâu phân
tích quá trình nước ta tham gia toàn cầu hóa kinh tế và hội nhập kinh tế quốc
tế. Cuốn sách đã đề cập đến ba trong số những lĩnh vực mà thời gian qua Việt
Nam đã đạt được những thành tựu đáng kể trong quá trình hội nhập kinh tế,
đó là: thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), thương mại và sắp xếp, đổi
mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước.
Như vậy, toàn cầu hóa đã có những quan niệm rất khác nhau, song tất
cả các công trình được đề cập ở trên, chúng ta thấy chủ yếu là toàn cầu hóa về
kinh tế. Cũng có rất nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, toàn cầu hóa đang diễn ra


19
trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, quân sự và môi trường tự nhiên…Vấn đề ở
chỗ, bản chất của toàn cầu hóa là toàn cầu hóa kinh tế chiếm một vị trí trọng
tâm. Những vấn đề toàn cầu hóa của văn hóa, môi trường tự nhiên…cũng nảy
sinh từ toàn cầu hóa kinh tế. Vì vậy, có thể nói, toàn cầu hóa ngày nay chủ
yếu là toàn cầu hóa kinh tế, với những tác động sâu rộng của nó đến các mặt
đời sống xã hội như quân sự, chính trị, văn hóa, môi trường...của thế giới trên
quy mô toàn cầu. Toàn cầu hóa tác động tới một khu vực riêng biệt thì rất ít
công trình nghiên cứu đề cập đến, đặc biệt là vùng đất Tây Nguyên. Đây có
thể nói là vấn đề mới mà luận án cần phải đi sâu nghiên cứu, nhất là sự tác
động của toàn cầu hóa làm biến đổi giá trị đạo đức truyền thống trong việc
xây dựng nhân cách sinh viên khu vực Tây Nguyên.
1.2.2. Các công trình nghiên cứu về sự tác động của toàn cầu hóa đến
đạo đức, nhân cách con người Việt Nam nói chung và sinh viên nói riêng
Toàn cầu hóa là một xu thế của thời đại chúng ta, nó tác động sâu rộng
đến nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, do đó có rất nhiều công
trình khoa học ở trong và ngoài nước nghiên cứu có liên quan đến vấn đề này.
Ở đây, tác giả luận án xin đề cập một số công trình có liên quan đến sự tác
động của toàn cầu hóa tới đạo đức, nhân cách của con người Việt Nam nói

triết học và giá trị học. Ngoài ra, các tác giả còn đi sâu phân tích nội dung,
thực chất giá trị truyền thống và giá trị truyền thống Việt Nam, trong đó có giá
trị đạo đức truyền thống; chỉ ra cơ hội và thách thức của toàn cầu hóa đối với
việc giữ gìn và phát huy các giá trị truyền thống.
Trong phần thứ hai, các tác giả nói lên thực trạng các giá trị truyền
thống Việt Nam trước xu thế toàn cầu hóa hiện nay, đề xuất những giải pháp
nhằm giữ gìn, phát huy các giá trị truyền thống Việt Nam trước thách thức của
toàn cầu hóa. Nhiều kết luận được các tác giả rút ra trong công trình khoa học
này làm tài liệu tham khảo rất cần thiết cho nghiên cứu sinh trong quá trình
thực hiện luận án. Đối tượng và phạm vi sự tác động của toàn cầu hóa được
đề cập trong cuốn sách khá rộng. Trong số 28 bài viết được đăng tại công
trình này, chỉ có bài “Một số suy nghĩ về giữ gìn và phát huy giá trị đạo đức
truyền thống ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Nguyễn Đình Tường liên quan


21
đến trực tiếp đề tài luận án của nghiên cứu sinh. Tuy nhiên trong bài viết đó,
tác giả Nguyễn Đình Tường cũng không đề cập đến vùng đất Tây Nguyên địa bàn mà tác giả luận án chọn làm khảo sát.
Bàn về vai trò của giáo dục đối với việc hình thành nhân cách sáng tạo,
tác giả Vũ Minh Tâm trong bài báo“Giáo dục nhân cách sáng tạo và phát triển
bền vững trong thời đại toàn cầu hoá” [118] đã đề cập đến giáo dục nhân cách
sáng tạo và những nhân tố của nhân cách sáng tạo: vốn tri thức, hoạt động thực
tiễn, phẩm chất xã hội và lý tưởng. Từ đó, tác giả bàn đến quá trình hình thành
nhân cách sáng tạo do các yếu tố: tự chủ, tự ý thức và tự giác. Trên cơ sở đó, tác
giả bài báo đã đưa ra những giải pháp nhằm tạo ra một thế hệ trẻ năng động,
sáng tạo phù hợp với yêu cầu phát triển nguồn nhân lực trong bối cảnh toàn
cầu hoá hiện nay.
Tác giả Võ Minh Tuấn trong bài báo“Tác động toàn cầu hoá đến đạo
đức sinh viên Việt Nam hiện nay” [132] đã đề cập đến sự tác động tích cực và
tiêu cực của toàn cầu hoá tới đời sống của sinh viên nước ta hiện nay. Mặt tích

đạo đức. Nhưng các công trình trên, chưa có một công trình nào nghiên cứu
về nhân cách sinh viên khu vực Tây Nguyên trong bối cảnh toàn cầu hóa,
mà chỉ đề cập đến sinh viên cả nước nói chung. Đây là điểm mới của luận
án, nghiên cứu sinh tập trung khai thác để làm rõ vai trò của giáo dục giá
trị đạo đức truyền thống đối với việc hình thành và phát triển nhân cách
sinh viên khu vực Tây Nguyên trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay.
1.3. NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ TÁC ĐỘNG CỦA TOÀN CẦU
HOÁ ĐẾN ĐỜI SỐNG CỦA ĐỒNG BÀO DÂN TỘC TÂY NGUYÊN NÓI CHUNG VÀ
THANH NIÊN - SINH VIÊN TÂY NGUYÊN NÓI RIÊNG

13.1. Các công trình nghiên cứu về tác động của toàn cầu hoá đến
đời sống đồng bào dân tộc Tây Nguyên
Các công trình nghiên cứu sự tác động của toàn cầu hóa đối với cả
nước nói chung là rất đa dạng, được các nhà khoa học luận giải dưới nhiều
góc độ khác nhau. Nhưng nghiên cứu sự tác động của toàn cầu hóa đến một
khu vực nhất định, chẳng hạn như khu vực Tây Nguyên, cho đến hiện nay vẫn
còn rất khiêm tốn.


Trích đoạn Cỏc cụng trỡnh nghiờn cứu về tỏc động của toàn cầu hoỏ đến đời sống đồng bào dõn tộc Tõy Nguyờn Cỏc cụng trỡnh nghiờn cứu thực trạng, giải phỏp giỏo dục giỏ trị đạo đức truyền thống nhằm hỡnh thành và phỏt triển nhõn cỏch cho NHÂN CÁCH, NHÂN CÁCH SINH VIấN VIỆT NAM 1 Khỏi nhiệm nhõn cỏch Một số nhõn tố cơ bản tỏc động đến sự hỡnh thành nhõn cỏch Một số thụng tin chung.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status