HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
BÙI THANH THỦY
GI¸O DôC GI¸ TRÞ V¡N HãA TINH THÇN
TRUYÒN THèNG D¢N TéC VíI VIÖC H×NH THµNH
Vµ PH¸T TRIÓN NH¢N C¸CH SINH VI£N
VIÖT NAM HIÖN NAY
Chuyên ngành : CNDVBC & CNDVLS
Mã số : 62 22 80 05
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: 1. PGS.TS TRẦN SỸ PHÁN
2. PGS.TS NGUYỄN CHÍ MỲ
HÀ NỘI - 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng
tôi được xây dựng trên cơ sở tiếp thu ý tưởng khoa học của
PGS.TS Trần Sỹ Phán và PGS.TS Nguyễn Chí Mỳ. Các số liệu
trong luận án là trung thực. Những kết luận trong luận án chưa
từng được công bố ở bất kỳ công trình khoa học nào khác.
Tác giả luận án
Bùi Thanh Thủy
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN
ĐỀ TÀI
6
1.1. Những nghiên cứu liên quan đến giá trị văn hóa tinh thần truyền
thống dân tộc và giáo dục giá trị văn hóa tinh thần truyền thống
dân tộc
6
78
Chương 4: QUAN ĐIỂM VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM
PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA GIÁO DỤC GIÁ TRỊ VĂN HÓA
TINH THẦN TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC VỚI VIỆC
HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH SINH VIÊN
VIỆT NAM HIỆN NAY
108
4.1. Một số quan điểm nhằm phát huy vai trò của giáo dục giá trị văn
hóa tinh thần truyền thống dân tộc với việc hình thành, phát
triển nhân cách sinh viên Việt Nam hiện nay
108
4.2. Một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao vai trò của giáo dục giá trị
văn hóa tinh thần truyền thống dân tộc với việc hình thành, phát
triển nhân cách sinh viên Việt Nam hiện nay
112
KẾT LUẬN
149
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ
151
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
152
PHỤ LỤC
159
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
GS
GS,TS
GS,VS
GTVH
NC
NCSV
Sinh viên là tầng lớp xã hội đặc thù, là nguồn nhân lực quan trọng để
bổ sung cho đội ngũ trí thức trong tương lai của mỗi đất nước. Trong thư “Gửi
Đại hội quốc tế các sinh viên xã hội chủ nghĩa”, Ăng ghen có viết: Các bạn
hãy cố gắng làm cho thanh niên ý thức được rằng giai cấp vô sản lao động trí
óc phải được hình thành từ hàng ngũ sinh viên.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: Một năm khởi đầu từ mùa
xuân. Một đời người khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội và
trong Thư gửi học sinh cả nước nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt
Nam độc lập - 1946, Hồ Chủ tịch có viết: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi
đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với
các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công
học tập của các cháu”. Dòng thư ấy không chỉ là lời cổ vũ, động viên, mà còn
là cả một tấm lòng, một niềm tin yêu của Hồ Chủ tịch cũng như của toàn thể
dân tộc đối với thế hệ trẻ nói chung, sinh viên nói riêng.
Kế thừa và phát triển sáng tạo tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về
thanh niên và công tác thanh niên nói chung, về sinh viên và công tác sinh
viên nói riêng, trong Nghị quyết “về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với
công tác thanh niên thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa” được
Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa X thông qua (ngày 25-
7-2008) đã khẳng định: Thanh niên là rường cột của nước nhà, chủ nhân
tương lai của đất nước, là lực lượng xung kích trong xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc, một trong những nhân tố quyết định sự thành bại của sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập quốc tế và xây dựng chủ nghĩa
xã hội. Thanh niên được đặt ở vị trí trung tâm chiến lược bồi dưỡng, phát
huy nhân tố và nguồn lực con người. Chăm lo, phát triển thanh niên vừa là
mục tiêu, vừa là động lực bảo đảm cho sự ổn định và phát triển vững bền
của đất nước.
2
Gần đây, trong bài phát biểu tại Đại hội lần thứ IX Hội Sinh viên Việt
Nam (nhiệm kỳ 2013-2018), thay mặt Đảng, Nhà nước, Chủ tịch Quốc hội
trị văn hoá tinh thần truyền thống dân tộc với việc hình thành và phát triển
nhân cách sinh viên Việt Nam hiện nay" làm đề tài luận án tiến sĩ Triết học,
hy vọng sẽ góp một phần nhỏ vào việc giải quyết vấn đề lớn từ đề tài đặt ra.
2. Mục đích, nhiệm vụ của đề tài
2.1. Mục đích
Trên cơ sở phân tích tầm quan trọng, nội dung, thực trạng giáo dục giá
trị văn hóa tinh thần truyền thống dân tộc trong việc hình thành và phát triển
nhân cách sinh viên, luận án đề xuất một số quan điểm, giải pháp cơ bản
nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục giá trị văn hóa tinh thần truyền thống dân
tộc để hình thành và phát triển nhân cách sinh viên Việt Nam hiện nay.
2.2. Nhiệm vụ
Để đạt mục đích trên, luận án phải thực hiện những nhiệm vụ sau:
- Phân tích vai trò, tầm quan trọng, nội dung, yêu cầu giáo dục giá trị
văn hóa tinh thần truyền thống dân tộc trong việc hình thành, phát triển nhân
cách sinh viên Việt Nam hiện nay.
- Đánh giá thực trạng việc giáo dục giá trị văn hóa tinh thần truyền
thống dân tộc cho sinh viên Việt Nam hiện nay nhằm hình thành, phát triển
nhân cách cho họ.
- Đề xuất quan điểm và những giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu
quả giáo dục giá trị văn hóa tinh thần truyền thống dân tộc trong việc hình
thành và phát triển nhân cách sinh viên Việt Nam hiện nay.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu: Trong khuôn khổ đề tài này, luận án chỉ
tập trung nghiên cứu vấn đề giáo dục giá trị văn hóa tinh thần truyền thống
dân tộc với việc hình thành và phát triển nhân cách sinh viên Việt Nam hiện
nay. Thời gian khảo sát chủ yếu là từ sau khi Đảng và Nhà nước ta tiến hành
công cuộc đổi mới, nhất là từ sau năm 2000 trở lại đây.
4
3.2. Phạm vi nghiên cứu: Diện khảo sát giới hạn vào SV một số
trường cao đẳng, đại học ở hai thành phố Hà Nội và Hải Phòng.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Kết quả nghiên cứu của luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo
trong giảng dạy và nghiên cứu một số chuyên đề, chương trình lý luận về văn
hóa tinh thần truyền thống dân tộc Việt Nam và ảnh hưởng của các giá trị đó
tới việc hình thành và phát triển nhân cách sinh viên Việt Nam hiện nay.
- Ở một mức độ nhất định, luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo
trong việc giáo dục giá trị văn hóa tinh thần truyền thống dân tộc cho sinh
viên Việt Nam hiện nay.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục công trình của tác giả đã công
bố liên quan đến đề tài, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục về kết quả
khảo sát của đề tài, luận án gồm 4 chương, 9 tiết.
6
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1. NHỮNG NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN GIÁ TRỊ VĂN HÓA TINH
THẦN TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC VÀ GIÁO DỤC GIÁ TRỊ VĂN HÓA TINH
THẦN TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC
Mỗi dân tộc trên thế giới không phân biệt chủng tộc, màu da, thể chế
chính trị đều có những hệ thống GTVH tinh thần TTDT của riêng mình. Một
số học giả quan niệm rằng, sự phát triển của các giá trị, đức hạnh và sự hội
nhập của chúng nhằm tạo ra một nền văn hóa đặc sắc và phong phú trong lịch
sử và vì thế phụ thuộc vào kinh nghiệm và sức sáng tạo của nhiều thế hệ. Đó
chính là truyền thống theo nghĩa hài hòa như là sự hiện thân của trí tuệ.
Ở Việt Nam, khi đề cập đến GTVH tinh thần TTDT phải kể đến những
cống hiến to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người đã có nhiều đóng góp quý
giá và sáng tạo cho nền văn hóa dân tộc và nhân loại. Cuộc đời và sự nghiệp
của Người là sự tỏa sáng văn hóa Hồ Chí Minh, là một nhân cách cao thượng.
Chủ tịch Hồ Chí Minh là biểu tượng cho sự tổng hòa thành công của nhiều
lại cho chúng ta nhiều công trình nghiên cứu về văn hóa mà giá trị của nó có
sức lan tỏa to lớn, sâu rộng trong xã hội Việt Nam không chỉ hôm nay mà cả
mai sau. Trong số các công trình đó phải kể đến cuốn “Văn hóa và đổi mới”
[24]. Ngay trong lời giới thiệu, tác giả cho rằng: “Văn hóa và đổi mới là một đề
tài có tính thời sự nóng hổi. Đối với nhiều người chúng ta, đây là một đề tài rất
thú vị, ở chỗ nó mở ra những chân trời mới cho sự suy nghĩ và nghiên cứu, và từ
đó cho sự vận dụng và thực hiện trong cuộc sống” [24, tr.5]. Những phân tích,
luận giải của tác giả trong phần thứ nhất “Văn hóa trong lịch sử” với các mục. “I.
Văn hóa và lịch sử” và “II.Văn hóa trong lịch sử dân tộc” có ý nghĩa tham khảo
hết sức bổ ích để NCS thực hiện đề tài của mình. Đặc biệt mục “Văn hóa trong
lịch sử dân tộc” đã luận giải một cách sâu sắc tầm quan trọng của văn hóa trong
8
toàn bộ lịch sử phát triển dân tộc. Văn hóa làm nên sức sống mãnh liệt, giúp
cộng đồng các dân tộc Việt Nam vượt qua biết bao khó khăn, thử thách. Do đó
việc kế thừa và phát huy các giá trị văn hóa, nhất là các giá trị văn hóa tinh thần
dân tộc là việc làm hết sức cần thiết trong giai đoạn hiện nay.
Các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam là một trong những cơ sở lý
luận quan trọng định hướng cho mọi nghiên cứu của chúng ta về văn hóa, văn
hóa tinh thần truyền thống dân tộc và giáo dục giá trị văn hóa tinh thần truyền
thống dân tộc. Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương, khóa VIII
đã ra Nghị quyết về “xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến,
đậm đà bản sắc dân tộc”. Có thể nói đây là chiến lược phát triển văn hoá trong
thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước. Qua các kỳ Đại hội lần thứ IX
(2001), lần thứ X (2006) Đảng ta tiếp tục phát triển một bước chiến lược trên.
Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI (2011) Đảng ta tiếp tục chủ trương:
“Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển
toàn diện, thống nhất trong đa dạng, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn,
dân chủ, tiến bộ; làm cho văn hóa…trở thành nền tảng vững chắc, sức mạnh
nội sinh quan trọng của phát triển” [20, tr.75-76]. Gần đây, tháng 6-2014, tại
hội nghị Trung ương 9 (khoá XI) Đảng ta đã tổng kết 15 năm thực hiện Nghị
của đời sống xã hội. Đó là những quan hệ tốt đẹp mà xã hội đã đạt
được nhằm phát triển và hoàn thiện đời sống xã hội như chủ nghĩa
yêu nước, chủ nghĩa anh hùng, độc lập, tự do, dân chủ, hoà bình,
công lý [27, tr.50-51].
Phần chính của cuốn sách, tác giả tập trung phân tích 7 đức tính tốt đẹp
của dân tộc Việt Nam bao gồm: yêu nước, cần cù, anh hùng, sáng tạo, lạc
quan, thương người, vì nghĩa. Các phạm trù được trình bày một cách có hệ
thống và khoa học với ý nghĩa giống như một “bảng giá trị tinh thần” của
người Việt. Những giá trị ấy, theo tác giả, đã định hình với những nét cơ bản
ngay từ thời Văn Lang xa xưa, được phát triển độc lập, không bị đồng hóa do
những ảnh hưởng từ bên ngoài. Tác giả cho rằng, trong bảng giá trị tinh thần
10
đó thì yêu nước là giá trị đầu tiên và quan trọng nhất, là thước đo tiêu chuẩn
cho mọi thước đo trong cuộc sống của con người. Chương cuối cùng của cuốn
sách mang tính kết luận tổng quát, tác giả nói về Chủ tịch Hồ Chí Minh con
người kết tinh mọi giá trị truyền thống của dân tộc và sự kết hợp những giá trị
cao đẹp của nhân loại.
GS,VS Hoàng Trinh trong công trình “Chủ nghĩa xã hội với tư cách là
một chủ nghĩa nhân văn và văn hóa” [68] đã có những phân tích khá sâu sắc
khái niệm “chủ nghĩa nhân văn”; quan hệ giữa chủ nghĩa nhân văn với chủ
nghĩa xã hội. Trong công trình, cho dù không trực tiếp bàn đến giá trị văn hóa
tinh thần truyền thông dân tộc, nhưng ở mức độ nào đó, kết quả nghiên cứu
của tác giả (nhất là sự luận giải của tác giả về những biểu hiện của chủ nghĩa
nhân văn Việt Nam, tr.10; bản sắc của chủ nghĩa nhân văn Việt Nam, tr.11 hay là
các giá trị-nhất là giá trị tinh thần - do chủ nghĩa xã hội đưa lại cho con người,
tr.15-16) có ý nghĩa nhất định để NCS tham khảo khi phân tích vấn đề nhân cách
và các thành tố cấu thành nhân cách - nhìn từ góc độ giá trị văn hóa.
GS, TS Nguyễn Trọng Chuẩn cắt nghĩa: “Truyền thống - đó là những
yếu tố của di tồn văn hóa, xã hội thể hiện trong chuẩn mực hành vi, tư tưởng,
phong tục, tập quán, thói quen, lối sống và cách ứng xử của một cộng đồng
cách chính diện từ giác độ triết học.
GS Trần Ngọc Thêm với “Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam” [64].
Công trình được in thành sách với kết cấu 6 chương. Chương 1 tác giả xây
dựng cơ sở lý luận về văn hóa, sắc thái riêng và đặc trưng văn hóa với cái
nhìn độc lập, không lấy văn hóa Trung Hoa hay Châu Âu làm tiêu chuẩn.
Những phần sau tác giả có cái nhìn khá hệ thống, đi từ nhận thức về văn hóa,
đến phân tích văn hóa cộng đồng trên cơ sở đi sâu vào văn hóa tập thể và văn
hóa cá nhân của lịch sử phát triển dân tộc. Như “một hệ thống hữu cơ các giá
trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích luỹ qua quá trình hoạt
động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và
xã hội của mình” [64, tr.25]. Phần cuối cuốn sách, tác giả phân tích khá sâu
12
sắc sự hình thành văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên và môi trường xã
hội trong bản sắc văn hóa Việt Nam.
Đề tài “Nghiên cứu khoa học phát triển văn hóa, con người và nâng cao
chất lượng nguồn nhân lực” Bộ Khoa học Công nghệ [8]. Đề tài tập trung vào
các nội dung: Luận cứ khoa học và cơ sở thực tiễn về quan hệ giữa văn hóa và
phát triển; sự biến đổi văn hóa từ xã hội truyền thống sang xã hội hiện đại;
quyền con người vì mục tiêu phát triển con người và văn hóa”; định hướng
xây dựng văn hóa quản lý, văn hóa lãnh đạo, các giá trị văn hóa trong các hoạt
động xã hội của con người ở cộng đồng, trước sự phát triển xã hội và hội nhập
quốc tế; định hướng xây dựng đạo đức, lối sống, tác phong của con người
trong các hoạt động xã hội cơ bản vì mục tiêu phát triển đất nước.
Gần đây phải kể đến bài viết của tác giả Phạm Duy Đức (2011) “Quan
điểm của Đảng, Nhà nước ta về phát triển văn hóa, xây dựng con người trong
giai đoạn mới” [25]. Theo tác giả:
…văn hoá và con người là vấn đề trọng tâm phản ánh sự ưu việt của
chế độ chính trị xã hội, phản ánh chất lượng và mục đích cuối
cùng của sự tăng trưởng kinh tế trong chế độ xã hội chủ nghĩa.
Những vấn đề này gắn bó, thống nhất hữu cơ với nhau đảm bảo cho
cập đến nhưng chưa được luận giải một cách sâu sắc.
Năm 2008 có đề tài cấp Bộ “Thực trạng hưởng thụ và sáng tạo các giá
trị văn hóa tinh thần các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên” do tác giả Nguyễn
Ngọc Hòa làm chủ nhiệm [34]. Đề tài tập trung nghiên cứu việc hưởng thụ và
sáng tạo các giá trị văn hóa tinh thần ở một khu vực xác định là Tây Nguyên,
nhưng một số kết quả nghiên cứu đã đạt được về lý luận trong đề tài này, nhất
là khái niệm “văn hóa tinh thần” là tài liệu tham khảo có ý nghĩa nhất định
trong quá trình NCS thực hiện đề tài nghiên cứu của mình.
Năm 2014, NCS Lê Hồng Phong đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ
Triết học với đề tài “Ảnh hưởng của đạo Tin Lành đối với đời sống tinh thần
14
của đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên hiện nay” [56]. Những luận giải
của tác giả luận án ở Chương 3 về “Đời sống tinh thần và một số nhân tố ảnh
hưởng đến đời sống tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên
hiện nay” là tài liệu tham khảo giúp cho tác giả luận án này có cách nhìn bao
quát hơn về đời sống tinh thần, về văn hóa tinh thần.
Như vậy, xung quanh vấn đề văn hóa, văn hóa tinh thần, giá trị văn hóa
tinh thần truyền thống dân tộc đã được một số tác giả đề cập đến trong nghiên
cứu từ các cách tiếp cận khác nhau. Phần lớn các tác giả có chiều hướng
nghiên cứu sâu về thực tiễn, áp dụng các phương pháp nghiên cứu về khảo cổ
học, tư duy lịch sử hoặc về phân tích ngôn ngữ, phong tục tập quán. Đây là
hướng đi hết sức cơ bản và là cơ sở để tìm hiểu, xây dựng nên khoa học văn
hóa truyền thống. Trong đó các tác giả thường xây dựng ý niệm cơ bản về đối
tượng nghiên cứu, chứ không phải khái niệm đầy đủ hoặc chỉ đứng dưới góc
độ ngành mà không phải là khái niệm chuẩn- khái niệm xây dựng chặt chẽ từ
cơ sở triết học biện chứng. Những công trình này thường là những khảo cứu
khoa học như “Văn hóa Việt Nam, xã hội và con người” do GS Vũ Khiêu chủ
biên [39]; “Cơ sở Văn hóa Việt Nam” do GS Trần Quốc Vượng chủ biên [78],
hay các công trình nghiên cứu của GS Trần Văn Giàu Trong nhận thức của
mình, NCS thấy các tác giả trong các công trình này chủ yếu mô tả đặc điểm
Do đó nhiều người đã than phiền rằng đạo lý ngày nay suy đồi, nhân cách
con người thoái hoá không bằng ngày xưa. Người phương Đông đề cao
tính thiện, tính nhân, thích sự im lặng, nhẹ nhàng, đề cao sự cân bằng
không thái quá. Mọi tu nhân, xử thế, chính trị đều hướng tới Thiện. Biết
đủ là giàu, giản dị ở vật chất, giản dị trong nội tâm, trong ngôn từ, trong
quan hệ với mọi người. Khổng Tử quan niệm về nhân cách con người thể
hiện ở Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín. Trong đó Nhân là gốc và chỉ có người
“Đại nhân” mới có Nhân. Nó nói lên hoàn cảnh và phương thức sống của
con người phương Đông. Tuy vậy, đây chưa phải là những quan điểm, học
thuyết về nhân cách.
16
Năm 1983, nhà xuất bản sách giáo khoa Mác- Lênin có dịch từ nguyên
bản tiếng Nga cuốn “Chủ nghĩa xã hội và nhân cách” [2]. Do L.M. Ác- khan-
ghen-xki chủ biên. Sách gồm 16 chương, được in trong hai tập. Tập I gồm
phần mở đầu và 7 chương, tập II gồm 9 chương tiếp theo. Đây là công trình
tập thể của nhiều tác giả. Cuốn sách đã góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề
như: nhân cách; những đặc trưng cơ bản của nhân cách xã hội chủ nghĩa; tính
tích cực xã hội của nhân cách; sự phát triển nhân cách về mặt đạo đức; những
con đường giáo dục nhân cách xã hội chủ nghĩa v.v.Tuy nhiên những nghiên
cứu đến nhân cách của một tầng lớp cụ thể như nhân cách sinh viên hay nhân
cách thanh niên thì chưa được các tác giả đề cập đến.
Ở Việt Nam đã có nhiều nhà nghiên cứu bàn về nhân cách. Cuốn “Một
số vấn đề nghiên cứu nhân cách” [29] (MS-420) do GS,VS Phạm Minh Hạc
và PGS,TS Lê Đức Phúc (chủ biên) là một tập hợp 11bài viết nghiên cứu về
con người và nhân cách con người khá phong phú. Từ cách tiếp cận nghiên
cứu đến lý thuyết về nhu cầu của con người, động cơ và quá trình hình thành
nhân cách, mô hình nhân cách, ý thức, tự ý thức và sự hình thành, phát triển
nhân cách, vấn đề “cái Tôi” trong tâm lý học nhân cách…
Về nhân cách con người Việt Nam, đáng chú ý là ba chương trình khoa
học cấp Nhà nước nghiên cứu về mô hình nhân cách con người Việt Nam
của những nhân tố cơ bản như nền văn hoá dân tộc, quá trình phát triển
khoa học kỹ thuật, công nghệ, nền kinh tế thị trường, bối cảnh toàn cầu
hoá và định hướng phát triển của Việt Nam trong bối cảnh đó, các chính
sách của Đảng và Nhà nước đối với trí thức [37, tr.259].
Năm 2001, tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, NCS Lê thị
Thủy đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ triết học “Vai trò của đạo đức với
sự hình thành nhân cách con người Việt Nam trong điều kiện đổi mới hiện
nay” [66]. Trong công trình khoa học này, tác giả góp phần làm sáng tỏ khái
niệm nhân cách; tác động qua lại giữa đạo đức và nhân cách; những biến đổi
trong lĩnh vực đạo đức và ảnh hưởng của nó tới sự hình thành và phát triển
18
nhân cách con người Việt Nam hiện nay; đề xuất một số giải pháp chủ yếu để
nâng cao vai trò của đạo đức với sự hình thành nhân cách con người Việt Nam
trong điều kiện đổi mới hiện nay.
Năm 2012, tại Học Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, NCS Cao Thu
Hằng bảo vệ thành công luận án tiến sĩ triết học “Kế thừa các giá trị đạo đức
truyền thống trong xây dựng nhân cách con người Việt Nam hiện nay” [33].
Trong công trình khoa học này, tác giả đã trình bày một cách tương đối có hệ
thống quan niệm mác - xít về nhân cách; vai trò của giá trị đạo đức truyền
thống trong xây dựng nhân cách con người Việt Nam hiện nay; đề xuất một số
giải pháp kế thừa các giá trị đạo đức truyền thống trong xây dựng nhân cách
con người Việt Nam hiện nay.
1.2.2. Về vấn đề nhân cách sinh viên Việt Nam
Hơn mười năm gần đây đã có khá nhiều công trình và đề tài khoa học
trực tiếp nghiên cứu về SV và NCSV. Đó là thuận lợi cơ bản cho đề tài “Giáo
dục GTVH tinh thần TTDT với việc hình thành, phát triển NCSV Việt Nam
hiên nay” phát triển ý tưởng mới trong thời kỳ mới hiện nay. Đó là đề tài
“Nâng cao hiệu quả bồi dưỡng nhân cách cho sinh viên” của PTS Văn Đình
Ưng [75]. Theo tác giả:
Vấn đề bồi dưỡng nhân cách cho sinh viên sao cho phù hợp yêu cầu
nhân cách sinh viên Việt Nam trong giai đoạn hiện nay trong luận án nhìn
chung khá thuyết phục.Theo tác giả:
Nhân cách sinh viên là nhân cách đang trưởng thành, đang phát
triển, chưa phải là một nhân cách được “định hình”. Sự phát triển
nhân cách sinh viên là quá trình biện chứng của sự nảy sinh và
giải quyết các mâu thuẫn trong trong quá trình sống, học tập, giao
tiếp của sinh viên. Là quá trình chuyển các yêu cầu từ bên ngoài
thành các yêu cầu bên trong, là quá trình tự vận động một cách
tích cực của sinh viên dưới sự hướng dẫn của gia đình, nhà trường
và xã hội [53, tr.58].
20
Đề tài “Nhân cách sinh viên hiện nay” (qua khảo sát ở một số trường
đại học) do TS Hoàng Anh làm chủ nhiệm[1]. Đây là một công trình khoa học
đưa ra những nhận định, đánh giá NCSV trên cơ sở nghiên cứu và tổng kết
thực tiễn. Từ đó đề xuất phương hướng, giải pháp chủ yếu nhằm xây dựng
NCSV đáp ứng yêu cầu phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN
và hội nhập quốc tế. Giới hạn của đề tài ở đây chính là chỉ xác định nhiệm vụ
chủ yếu nghiên cứu những tác động của công tác giáo dục trong trường đại
học với việc xây dựng NCSV Việt Nam hiện nay. Theo nhóm tác giả:
Xu hướng biến đổi của nhân cách sinh viên Việt Nam trong điều
kiện kinh tế thị trường hội nhập quốc tế hiện nay là rất phức tạp.
Trên những mặt căn bản nhất có thể khảng định những xu hướng
biến đổi tích cực mang tính chủ đạo và chiếm ưu thế. Những nhân tố
tiêu cực chỉ có tác động hạn chế làm chậm xu thế phát triển của xu
hướng biến đổi tích cực [1, tr.96].
Năm 2011, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia có ấn hành cuốn “Thanh
niên và lối sống của thanh niên Việt Nam trong quá trình đổi mới và hội nhập
quốc tế” do tác giả Phạm Hồng Tung làm chủ biên [72]. Đây là một trong
những kết quả nghiên cứu chính của đề tài khoa học cấp nhà nước, mã số KX
03.16/06-10: Thực trạng và xu hướng biến đổi lối sống của thanh niên Việt
Thu Trang [67]. Tuy phần lý luận chung về nhân cách, nhân cách sinh viên
chỉ được tác giả đề cập ở chừng mực nhất định nhưng ở các giải pháp nhằm
nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức mới trong việc hình thành, phát triển
nhân cách sinh viên lại được tác giả phân tích khá thuyết phục, nhất là giải
pháp về “Đổi mới nội dung, hình thức giáo dục đạo đức mới trong việc hình
thành, phát triển nhân cách sinh viên ở Thái Nguyên hiện nay”.
Trong các công trình nghiên cứu về giáo dục nhân cách trình bày
trên, có thể chia làm hai hướng: Hướng lý luận, khảo cứu, giáo trình và