HC VIN CHNH TR QUC GIA H CH MINH
PHNG THU HIN
Giá trị đạo đức truyền thống
với việc hình thành và phát triển nhân cách
sinh viên Việt Nam hiện nay
(qua thực tế các tr ờng Đại học, Cao đẳng ở Hà Nội)
Chuyờn ngnh : CNDVBC & CNDVLS
Mó s : 62 22 80 05
LUN N TIN S TRIT HC
Ngi hng dn khoa hc: 1. PGS, TS. NGUYN TH KIT
2. PGS, TS. NGUYN MINH HON
trong việc hình thành và phát triển nhân cách sinh viên 6
1.2. Những công trình nghiên cứu liên quan đến thực trạng phát huy
giá trị đạo đức truyền thống trong việc hình thành và phát triển
nhân cách sinh viên 18
1.3. Những nghiên cứu liên quan đến phương hướng và giải pháp
nhằm phát huy các giá trị đạo đức truyền thống trong việc hình
thành và phát triển nhân cách sinh viên 21
Chương 2: NHÂN CÁCH VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA GIÁ TRỊ ĐẠO
ĐỨC TRUYỀN THỐNG TRONG VIỆC HÌNH THÀNH VÀ
PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH SINH VIÊN Ở VIỆT NAM
HIỆN NAY
26
2.1. Nhân cách và những nhân tố tác động đến sự hình thành và phát
triển nhân cách sinh viên 26
2.2. Giá trị đạo đức truyền thống và tầm quan trọng của nó trong việc
hình thành và phát triển nhân cách sinh viên Việt Nam hiện nay 46
Chương 3: GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG VỚI VIỆC HÌNH
THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH SINH VIÊN VIỆT
NAM HIỆN NAY - THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ
ĐẶT RA (QUA THỰC TẾ CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC, CAO
ĐẲNG Ở HÀ NỘI)
70
3.1. Thực trạng phát huy giá trị đạo đức truyền thống trong việc hình
thành và phát triển nhân cách sinh viên ở các trường đại học,
cao đẳng ở Hà Nội hiện nay 70
3.2. Những vấn đề đặt ra trong quá trình phát huy giá trị đạo đức
truyền thống trong việc hình thành và phát triển nhân cách sinh
viên Việt Nam hiện nay 93
Chương 4: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
NHẰM PHÁT HUY TỐT CÁC GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC
trong tiến trình hội nhập và phát triển ở nước ta hiện nay.
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Hồ Chí Minh luôn động viên tuổi
trẻ phải ra sức rèn luyện và tu dưỡng đạo đức, không ngừng học tập để vươn
lên xứng đáng là người chủ tương lai của đất nước. Trong Di chúc để lại cho
chúng ta, Người đã dành cho thế hệ trẻ Việt Nam tình yêu thương, sự quan
tâm và niềm tin sâu sắc. Người nhận xét: “Đoàn viên và thanh niên ta nói
chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khăn, có chí
tiến thủ. Đảng cần chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ
thành những người kế thừa xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa
“chuyên” [152, tr.25]. Đồng thời, Người đã căn dặn: “Bồi dưỡng thế hệ cách
mạng cho đời sau là một việc làm rất quan trọng và rất cần thiết” [152, tr.25].
Ngày nay, cùng với chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường định
hướng XHCN, mở rộng quan hệ quốc tế trong xu thế toàn cầu hoá, lối sống của
sinh viên Việt Nam đang có nhiều biến đổi. Hàng loạt các giá trị mới được hình
thành, góp phần làm đa dạng, phong phú thêm lối sống của các tầng lớp nhân
dân. Sự tác động của quá trình phát triển kinh tế thị trường và đẩy mạnh công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đã làm cho các cá nhân, các nhóm xã hội năng động,
2
cởi mở và giàu khả năng thích nghi với những biến đổi của môi trường trong
nước và quốc tế. Giao lưu quốc tế ngày càng mở rộng đã và đang tạo điều kiện
cho sinh viên tiếp thu các giá trị tốt đẹp từ lối sống của các quốc gia, dân tộc
khác để bổ sung và không ngừng hoàn thiện nhân cách, lối sống của mình.
Trong quá trình xây dựng CNXH, chúng ta đã tạo ra một thế hệ sinh
viên với những phẩm chất tốt đẹp như: bản lĩnh, tự tin, chủ động, sáng tạo,
nhanh nhạy Tuy nhiên, mặt trái của kinh tế thị trường và quá trình toàn cầu
hóa đã có ảnh hưởng tiêu cực đến lối sống, nhân cách của một bộ phận không
nhỏ thanh niên, sinh viên, làm thay đổi quan niệm của họ về các giá trị truyền
thống của dân tộc. Hiện tượng suy thoái đạo đức, lối sống trong một bộ phận
cán bộ, đảng viên và sinh viên đã và đang diễn ra hết sức phức tạp. Tiêu cực
phát huy giá trị đạo đức truyền thống đối với việc hình thành và phát triển
nhân cách sinh viên thời gian qua, luận án đề xuất phương hướng và một số
giải pháp chủ yếu nhằm phát huy tốt giá trị đạo đức truyền thống để hình
thành và phát triển nhân cách sinh viên Việt Nam hiện nay (qua thực tế các
trường đại học, cao đẳng ở Hà Nội).
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Trình bày tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài;
- Phân tích, làm rõ khái niệm nhân cách, các nhân tố tác động đến sự
hình thành và phát triển nhân cách sinh viên Việt Nam hiện nay;
- Làm rõ giá trị đạo đức truyền thống, giá trị đạo đức truyền thống của
dân tộc Việt Nam, tầm quan trọng và nội dung của việc phát huy các giá trị
đạo đức truyền thống trong việc hình thành và phát triển nhân cách sinh viên
Việt Nam hiện nay;
- Phân tích thực trạng phát huy giá trị đạo đức truyền thống trong việc hình
thành và phát triển nhân cách sinh viên Việt Nam và những vấn đề đặt ra;
- Đề xuất phương hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm phát huy tốt
giá trị đạo đức truyền thống trong việc hình thành và phát triển nhân cách
sinh viên Việt Nam hiện nay.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
- Luận án tập trung nghiên cứu giá trị đạo đức truyền thống dân tộc Việt
Nam dưới những hình thức thể hiện khác nhau.
- Nhân cách sinh viên Việt Nam với các bộ phận hợp thành dưới tác
động của các giá trị đạo đức truyền thống.
4
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Luận án chỉ tập trung nghiên cứu giá trị đạo đức truyền thống dân tộc.
- Sinh viên là một khái niệm rộng chỉ lực lượng xã hội đông đảo ở mọi
miền đất nước, nhưng luận án chỉ giới hạn nghiên cứu sinh viên ở các trường
quả phát huy tốt các giá trị đạo đức truyền thống trong việc hình thành và phát
triển nhân cách sinh viên Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
- Những vấn đề mà luận án đề cập và giải quyết góp phần vào việc hình
thành và phát triển nhân cách sinh viên Việt Nam hiện nay.
- Kết quả nghiên cứu của luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các
tổ chức, đoàn thể, cá nhân trực tiếp làm công tác bồi dưỡng, giáo dục sinh viên.
- Luận án cũng có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho những ai nghiên
cứu giảng dạy và cả những ai quan tâm đến vấn đề giá trị đạo đức truyền
thống, phát huy giá trị đạo đức truyền thống trong việc hình thành và phát
triển nhân cách sinh viên.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, mục lục,
phụ lục, nội dung luận án gồm 4 chương, 9 tiết.
6
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
Đạo đức, giáo dục đạo đức luôn gắn liền với tư tưởng về con người, về
nhân cách con người trong lịch sử tư tưởng triết học của nhân loại và đã được
nhiều nhà khoa học nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau. Những công
trình nghiên cứu khoa học đó tồn tại dưới các hình thức đề tài khoa học, luận
án, luận văn, sách, tạp chí, báo. Qua các công trình đã công bố, chúng tôi có
thể khái quát như sau:
đó là lừa bịp” [103, tr.368].
Trên nền tảng phương pháp luận Mác-Lênin, đã xuất hiện các công
trình khoa học về đạo đức, cả trong và ngoài nước.
Trong rất nhiều tác phẩm, bài viết, bài nói chuyện của mình, Hồ Chí
Minh luôn nhấn mạnh vai trò, tầm quan trọng của đạo đức và việc giáo dục
đạo đức đối với việc hình thành, phát triển và bồi dưỡng nhân cách. Trong đó,
nổi bật nhất là tác phẩm “Đường cách mệnh” được Hồ Chí Minh viết năm
1927, là cuốn sách bồi dưỡng cho lớp cán bộ đầu tiên của cách mạng Việt
Nam đi theo học thuyết Mác - Lênin và con đường của Cách mạng Tháng
Mười Nga vĩ đại - con đường cách mạng vô sản mà Người đã lựa chọn.
Mở đầu cuốn sách - bài nói về “Tư cách một người cách mệnh”, Hồ Chí
Minh đã nêu lên một quan điểm lớn: phải có cái đức để đi đến cái trí. Vì khi
đã có “cái trí” thì “cái đức” chính là cái đảm bảo cho người cách mạng giữ
vững được chủ nghĩa mà mình đã giác ngộ, đã chấp nhận, đã đi theo. Những
khái niệm như: trung, hiếu, nhân, nghĩa, cần, kiệm, liêm, chính… đã có trong
Nho giáo từ mấy trăm năm trước trước công nguyên; khái niệm dân chủ, tự
do, công bằng, bác ái đã xuất hiện từ thời cổ đại Hy Lạp - La Mã, chúng đã bị
xuyên tạc trong nhiều thế kỷ qua, nhưng Hồ Chí Minh đã đưa vào đó những
nội dung mới, đồng thời, bổ sung những khái niệm, những phạm trù đạo đức
của thời đại mới. Vì vậy, những giá trị đạo đức mới đã được hoà nhập với
những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc. Hơn nữa, những giá trị đạo
đức truyền thống lại được nâng lên tầm cao mới.
- Tác phẩm “Giáo dục con người chân chính như thế nào?” của
V.A.Xukhômlinxki [198], dưới hình thức những lời khuyên bảo của nhà giáo
8
dục với trẻ em, thanh thiếu niên và những lời của tác giả nói với các nhà giáo
dục, trước hết là với các thầy giáo, cô giáo. V.A.Xu-khôm-lin-xki trình bày
một cách cụ thể, sinh động, hấp dẫn các phạm trù đạo đức, các nguyên tắc và
chuẩn mực đạo đức cùng phương pháp hình thành chúng trong học sinh. Giáo
xã hội cũng như mối quan hệ giữa đạo đức với “tính người” của con người.
Trong đó, ông nhấn mạnh đến đặc trưng của đạo đức: “Đạo đức của con
người là năng lực phục vụ một cách tự giác và tự do những người khác và xã
hội” [9, tr.48]. Và ông coi “đạo đức là hệ thống những chuẩn mực biểu hiện
sự quan tâm tự nguyện tự giác của những con người trong quan hệ với nhau
và trong quan hệ với xã hội nói chung” [9, tr.104]. Căn cứ vào sự phân tích
quan hệ giữa đạo đức và chính trị, pháp lý, nghệ thuật…, G.Bandzeladze chỉ
rõ những đặc điểm cụ thể của nội dung đạo đức, từ đó khẳng định: đạo đức là
đặc trưng bản tính của con người, chỉ con người mới có đạo đức, do đó nó
không thể không phản ánh những đặc trưng của bản tính người (hiểu theo
nghĩa bản chất tiêu biểu và tốt đẹp nhất của con người). Theo ông, đạo đức
bắt nguồn từ chỗ con người quan hệ với người khác như quan hệ với chính
mình. Trong quan hệ với mình, con người không thể nào tư lợi thì trong quan
hệ đạo đức với người khác, con người cũng không thể tư lợi. Do đó, đặc trưng
cơ bản nhất, bản chất nhất của đạo đức là “chí công vô tư”; “Bản chất của đạo
đức là sự quan tâm tự giác của những con người đến lợi ích của nhau, đến lợi
ích của xã hội. Khác với hành động bản năng của loài vật, hành vi đạo đức là
ở chỗ: sự quan tâm tự giác đến hạnh phúc của những người khác có tính chất
tự nguyện” [9, tr.104].
- Trong cuốn sách: “Triết học xã hội” của A.G.Xpirkin [196], đã khẳng
định đạo đức là: “Hệ thống những chuẩn mực xã hội điều chỉnh sự giao tiếp
giữa các cá nhân và hành vi con người nhằm bảo đảm sự thống nhất lợi ích
của cá nhân và tập thể” [196, tr.84]. Với quan niệm như vậy, đạo đức chính là
“công cụ” để điều chỉnh mối quan hệ giữa con người với con người, nhằm
tránh khỏi những mâu thuẫn, xung đột về lợi ích giữa cá nhân với cá nhân và
giữa cá nhân với xã hội.
- Trong cuốn “Giáo trình đạo đức học” của Nguyễn Ngọc Long và
Nguyễn Thế Kiệt [112], đã định nghĩa một cách khái quát: “Đạo đức là một
hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã
10
- Cuốn sách: “Mấy vấn đề về đạo đức học mácxít và xây dựng đạo đức
trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Nguyễn
11
Thế Kiệt [93], đã góp phần làm sáng tỏ những vấn đề về đạo đức như: Đạo
đức là một hình thái ý thức xã hội, quy luật vận động và phát triển của đạo
đức; Đạo đức mới, vai trò và các nguyên tắc của đạo đức mới (đạo đức xã hội
chủ nghĩa); Xây dựng đạo đức mới trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt
Nam hiện nay.
- Cuốn sách “Tập bài giảng đạo đức học” của tác giả Phạm Văn Chung
[29], đã góp phần làm sáng tỏ và cụ thể hơn về lịch sử, lý luận và thực tiễn
những vấn đề, nội dung đạo đức cơ bản, quan trọng vốn được nêu lên và giải
đáp trong lịch sử và lý luận đạo đức như: bản chất, tính chất, nguồn gốc, cơ sở
của đạo đức, của các phạm trù: thiện, ác, hạnh phúc, lương tâm, nghĩa vụ, lẽ
sống. Tác giả đã xem xét mối liên hệ bên trong giữa các phạm trù, quan niệm
đạo đức học theo một trình tự nhất định trong hệ thống của chúng và cuối mỗi
bài thường có sự nhận định về vị trí và ý nghĩa của mỗi phạm trù, quan niệm
sau này.
- Luận án tiến sỹ triết học: “Giáo dục đạo đức với sự hình thành và phát
triển nhân cách sinh viên Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” của tác giả Trần
Sỹ Phán [157], đã làm sáng tỏ thực chất, vai trò, ý nghĩa, tầm quan trọng của
việc giáo dục đạo đức đối với sự hình thành và phát triển nhân cách của con
người nói chung và sự hình thành và phát triển nhân cách của sinh viên Việt
Nam nói riêng trong bối cảnh nền kinh tế thị trường, giao lưu hội nhập mở
cửa hiện nay. Tác giả khẳng định:
Để phát triển giáo dục, đào tạo theo hướng cân đối giữa “dạy người,
dạy chữ, dạy nghề”, trong đó “dạy người” là mục tiêu cao nhất,
trước mắt cần tăng cường hơn nữa công tác giáo dục đạo đức cho
sinh viên để hình thành và phát triển những phẩm chất đạo đức,
những giá trị nhân cách trong họ, mà sự phát triển những phẩm chất
những chủ nhân đất nước trong tương lai, là những người đại diện cho nền
giáo dục của xã hội, bộ mặt văn hóa của xã hội. Vì vậy, sinh viên cần phải tu
dưỡng đạo đức tư tưởng, đây là:
Môn học về phẩm chất đạo đức và tư tưởng, môn lý luận mácxít và
môn đạo đức tư tưởng của các trường đại học nói chung là con
đường chủ yếu và khâu cơ bản tiến hành giáo dục lý luận mácxít và
giáo dục đạo đức tư tưởng cho sinh viên một cách hệ thống, là một
trong những đặc trưng bản chất của trường đại học xã hội chủ nghĩa,
13
là môn học cần thiết cho mỗi sinh viên, có tác dụng không thể thay
thế trong việc đào tạo họ trở thành người xây dựng và kế tục sự
nghiệp xã hội chủ nghĩa [90, tr.16].
- Bài viết: “Về việc tạo ra bước chuyển biến mạnh mẽ trong xây dựng
nền đạo đức mới ở nước ta hiện nay” của tác giả Nguyễn Văn Phúc [160],
trên cơ sở phân tích một cách khách quan sự biến động của đạo đức trong
điều kiện kinh tế thị trường, “Việc chuyển sang thể chế kinh tế mới tất yếu
dẫn đến những biến đổi về chuẩn mực, giá trị đạo đức theo hướng đáp ứng
yêu cầu của thể chế mới” [160, tr.4], tác giả đã luận chứng một số giải pháp
căn bản để tạo ra bước chuyển biến mạnh mẽ trong việc xây dựng nền đạo
đức mới ở nước ta.
- Luận án tiến sĩ Triết học “Giáo dục lý luận Mác - Lênin với việc hình
thành và phát triển nhân cách ở sinh viên Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị
trường hiện nay” của tác giả Hoàng Anh [4], tác giả bàn đến nhân cách và
những nhân tố tác động đến quá trình hình thành và phát triển nhân cách ở
sinh viên Việt Nam, tầm quan trọng và thực trạng giáo dục lý luận Mác-Lênin
với việc hình thành và phát triển nhân cách sinh viên Việt Nam trong điều
kiện kinh tế thị trường và đưa ra phương hướng, giải pháp chủ yếu nhằm nâng
cao vai trò giáo dục Mác - Lênin trong việc hình thành và phát triển nhân cách
sinh viên Việt Nam hiện nay.
mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam, tư tưởng Hồ Chí Minh); Sử dụng hình
thức nêu gương “người tốt việc tốt”; Giáo dục thông qua hình thức hoạt động
tập thể; Cơ sở đào tạo có trách nhiệm tham gia xây dựng nền đạo đức mới cho
sinh viên.
- Cuốn sách: “Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam” của
tác giả Trần Văn Giàu [54], đã phân tích sâu sắc về các giá trị tinh thần truyền
thống dân tộc và sự vận động của chúng qua những giai đoạn lịch sử Việt
Nam. Theo tác giả, mục đích tìm hiểu giá trị tinh thần truyền thống không chỉ là
tìm hiểu thêm về lịch sử dân tộc, mà còn “nhằm mục đích thiết thực là góp phần
xây dựng con người trong giai đoạn lịch sử cách mạng hiện nay, phục vụ cuộc
đấu tranh để bảo vệ độc lập dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội” [54, tr.40].
- Bài viết: “Giá trị truyền thống - nhân lõi và sức sống bên trong của sự
phát triển đất nước, dân tộc” của tác giả Nguyễn Văn Huyên [82], đã khẳng
định tính bền vững, trường tồn của các giá trị truyền thống, trong đó có giá trị
15
đạo đức, cũng như vai trò, sự cần thiết phải bảo vệ, giữ gìn, kế thừa và phát
huy chúng trong quá trình xây dựng xã hội mới.
- Luận án tiến sỹ triết học “Kế thừa và đổi mới các giá trị đạo đức
truyền thống trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường ở Việt Nam
hiện nay” của tác giả Nguyễn Văn Lý [117], đã phân tích những mặt tích cực
và hạn chế trong đạo đức truyền thống dân tộc, làm rõ vai trò của kế thừa và
đổi mới các giá trị đạo đức trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường
ở nước ta. Trên cơ sở đó, tác giả chỉ rõ sự cần thiết, xác định những nội dung
cơ bản cần được kế thừa, bổ sung và đổi mới trong các giá trị đạo đức truyền
thống và đề xuất những phương hướng và giải pháp cơ bản, đảm bảo kế thừa
và đổi mới các giá trị đạo đức truyền thống nhằm xây dựng đời sống đạo đức
tốt đẹp của con người và xã hội Việt Nam hiện nay.
- Bài viết: “Nội dung và vị thế của giá trị truyền thống Việt Nam trong
giá trị nhân loại” của tác giả Lê Thị Lan [95], đã phân tích giá trị truyền
hiện đại không thể dựa trên ý muốn chủ quan của nhà lý luận, mà phải dựa
trên cơ sở thực tiễn, dựa vào nền tảng kinh tế xã hội mà trên đó, các giá trị cũ
hoặc mới được thừa nhận, phát triển hay loại bỏ” [96, tr.25]. Trong đó, tác giả
đã khẳng định tinh thần yêu nước là một đặc trưng căn bản nhất của giá trị
truyền thống Việt Nam, là sợi chỉ đỏ xuyết suốt sự biến đổi hệ giá trị của dân
tộc Việt Nam.
- Trong bài viết: “Từ “cái thiện” truyền thống đến “cái thiện” trong cơ
chế thị trường ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Nguyễn Hùng Hậu [64], cho
rằng Chân - Thiện - Mỹ là khát vọng, hoài bão, ước mơ của loài người, là giá
trị phổ quát của mọi nền văn hóa, “Thiện trong truyền thống là sự kết hợp một
cách nhuần nhuyễn giữa cái Thiện của người Việt với những tinh hoa, tinh túy
của cái Thiện trong Nho, Phật, Lão” [64, tr.29], “Ngày nay, trong bối cảnh
xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cái Thiện cũng
được bổ sung bằng nhiều nội dung mới. Nếu như trước kia, Thiện cao nhất,
lớn nhất là yêu nước, đánh đuổi quân xâm lược ra khỏi bờ cõi, thì ngày nay,
Thiện phải làm sao cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh…” [64, tr.31]. Từ đó, tác giả đi đến kết luận: “trong cơ chế thị trường ở
Việt Nam hiện nay, cái Thiện mang một nội dung mới, một ý nghĩa thiết thực
cụ thể chứ không chỉ là cái Thiện chung chung, trừu tượng ở trong tâm mỗi
người” [64, tr.32].
17
- Luận án tiến sĩ: “Quan hệ biện chứng giữa truyền thống và hiện đại
trong giáo dục đạo đức cho thanh niên Việt Nam hiện nay” của tác giả Lê Thị
Hoài Thanh [170], đã đề cập đến mối quan hệ biện chứng giữa truyền thống
và hiện đại trong giáo dục đạo đức, vận dụng mối quan hệ này vào hoạt động
giáo dục đạo đức cho thanh niên. Tác giả cũng đã nêu rõ vai trò của giáo dục đạo
đức đối với thanh niên và chỉ rõ thực trạng của vấn đề này, từ đó đề xuất một số
phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả kết hợp truyền
thống và hiện đại trong giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay.
TRIỂN NHÂN CÁCH SINH VIÊN
- Bài viết: “Tăng cường giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên” của
Trần Đình Tuấn [186], đã khẳng định: “Sau hai thập kỷ đổi mới, Việt Nam đã
thu được nhiều thành công về kinh tế, vị thế chính trị, xã hội của quốc gia có
nhiều điều đáng tự hào, nhưng chúng ta lại phải đứng trước những thử thách
mới về sự tha hóa đạo đức đang diễn ra ở nhiều lứa tuổi, trong mọi mối quan
hệ, mọi lĩnh vực hoạt động của toàn xã hội” [186, tr.47]. Nguyên nhân của
đạo đức xuống cấp không phải do kinh tế chậm phát triển, không phải do
nghèo túng, cũng không phải do trình độ dân trí thấp và sự du nhập của các
luồng văn hóa, lối sống thiếu lành mạnh từ nước ngoài vào Việt Nam. “Vậy
đạo đức xuống cấp vì lý do gì? Trước hết phải xem lại kỷ cương và xã hội và
phương pháp giáo dục đạo đức của nhà trường, gia đình, xã hội” [186, tr.48].
Tác giả đã đề cập đến các biện pháp giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên
là: Giáo dục cho học sinh, sinh viên có nhận thức chính xác về chuẩn mực giá
trị đạo đức mới; Hình thành cảm xúc, tình cảm đạo đức cho học sinh, sinh
viên; Hình thành nhu cầu tự hoàn thiện đạo đức cho học sinh, sinh viên; Rèn
luyện thói quen hành vi đạo đức cho học sinh, sinh viên; Phối hợp thống nhất
giữa giáo dục của nhà trường với giáo dục của gia đình và xã hội.
- Bài viết: “Thái độ của sinh viên hiện nay đối với một số giá trị truyền
thống dân tộc Việt Nam” (Qua kết quả khảo sát tại một số trường đại học ở
Hà Nội) của Vũ Thị Thanh [171], trên cơ sở khái quát một số quan điểm về
giá trị của các nhà xã hội học danh tiếng trên thế giới, tác giả nhấn mạnh tầm
quan trọng của hệ giá trị, quan điểm giá trị đối với xã hội nói chung và sinh
viên nói riêng trong điều kiện kinh tế thị trường mở cửa và hội nhập hiện nay
ở Việt Nam. Tác giả đã tiến hành khảo sát thực trạng thái độ của sinh viên đối
với một số giá trị truyền thống tốt đẹp của Việt Nam - đó là một thứ hành
19
trang cần thiết cho sinh viên khi bước vào đời. Qua kết quả khảo sát thái độ
của sinh viên (300 sinh viên khảo sát định lượng và 15 trường hợp phỏng vấn
- Bài viết: “Giữ gìn và phát huy các giá trị đạo đức truyền thống trong
bối cảnh phát triển kinh tế thị trường, giao lưu văn hóa và hội nhập quốc tế”
của tác giả Đặng Hữu Toàn [181], đã phân tích chỉ ra sự tác động tích cực,
tiêu cực của nền kinh tế thị trường đến đời sống kinh tế - xã hội ở nước ta,
làm cho nhiều giá trị đạo đức truyền thống và nếp sống văn hóa vận động,
biến đổi không ngừng. Bên cạnh sự xuất hiện các giá trị đạo đức mới, nếp
sống văn hóa mới, lành mạnh, phù hợp với quá trình phát triển kinh tế thị
trường, còn có những giá trị đạo đức truyền thống, nếp sống văn hóa truyền
thống tốt đẹp bị xâm hại và có nguy cơ bị mai một đi. Đặc biệt, ở những thành
phố lớn, các giá trị đạo đức truyền thống, nếp sống văn hóa truyền thống và
những phong tục tốt đẹp vốn có của dân tộc Việt Nam đang bị lấn át bởi
những thứ đạo đức ngoại lai, những quan hệ coi đồng tiền, lợi nhuận cao hơn
những giá trị đạo đức. Điều đó, đặt ra việc giữ gìn và phát huy các giá trị đạo
đức truyền thống trở nên cấp bách và cần thiết.
- Bài viết: “Giáo dục truyền thống cho sinh viên - yêu cầu cấp thiết
trong sự nghiệp giáo dục - đào tạo hiện nay” của tác giả Lê Thị Vân Anh [3],
đã trình bày khái niệm truyền thống, vai trò của sinh viên đối với giáo dục
truyền thống, vai trò của truyền thống và giáo dục truyền thống cho sinh viên
rất quan trọng để hoàn thiện nhân cách con người Việt Nam mới.
- Bài viết: “Giáo dục các giá trị đạo đức truyền thống trong xây dựng
nhân cách con người Việt Nam hiện nay” của tác giả Cao Thu Hằng [63], đã
khẳng định:
Giáo dục là một trong những phương thức hết sức quan trọng trong
quá trình hình thành nhân cách. Bằng con đường này, người ta lĩnh
hội được các giá trị xã hội, trong đó có các giá trị đạo đức, và do đó,
nhân cách con người mới được hình thành và phát triển Trong
công tác giáo dục đạo đức, việc coi trọng giáo dục đạo đức truyền
thống là một yêu cầu cơ bản [63, tr.21].
Giáo dục các giá trị đạo đức truyền thống phải hướng đến mục tiêu là:
nước đã tạo nên những kẽ hở cho mặt trái của kinh tế thị trường
Pháp luật lại không đầy đủ, đồng bộ, kém hiệu lực và hiệu quả sự
hư hỏng, thoái hóa của một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức
Môi trường đạo đức và nhân văn xã hội bị đe dọa nghiêm trọng.
Giáo dục đạo đức, văn hóa đạo đức, nhất là giáo dục truyền thống
22
bị xem nhẹ, thậm chí đã có lúc bị bỏ trống đã lấn át và làm xói mòn
các giá trị tinh thần, làm hủy hoại đạo đức, nhân cách. Hậu quả này là
do sự xem nhẹ giáo dục đạo đức và giáo dục truyền thống gây nên mà
giờ đây xã hội đang phải hứng chịu, phải trả giá đắt [163, tr.2].
Các tác giả đã phân tích khái quát về thực trạng chỉ ra nguyên nhân suy
thoái đạo đức trong xã hội cả khách quan, chủ quan, trong đó, nguyên nhân
chủ quan từ lãnh đạo, quản lý, giáo dục và tổ chức đời sống xã hội đã và đang
trực tiếp dẫn tới sự suy thoái đạo đức xã hội. Trên cơ sở đó, nhóm tác giả đã
đề xuất phương hướng và giải pháp xây dựng đạo đức xã hội, đặc biệt là đạo
đức gia đình ở nước ta hiện nay theo hướng “ cần phải có một hệ thống các
giải pháp mang tính tổng thể, đồng bộ về nhận thức, quan điểm, kinh tế, chính
trị, văn hóa, giáo dục… từ cấp vĩ mô đến vi mô” [163, tr.282]. - Bài viết: “Đạo đức học sinh - sinh viên ở nước ta: Thực trạng và giải
pháp giáo dục” của tác giả Phạm Thị Kim Anh [5], đã chỉ rõ vấn đề đạo đức
và giáo dục đạo đức ở học sinh, sinh viên nước ta những năm gần đây đã trở
thành điểm nóng không chỉ của riêng ngành giáo dục mà của toàn xã hội. Tác
giả đã đưa ra một loạt ví dụ để chứng minh thực trạng giáo dục đạo đức cho
học sinh, sinh viên và chỉ rõ nguyên nhân của thực trạng này như: Sự buông
lỏng trong việc quản lý giáo dục con cái trong gia đình; Việc giáo dục đạo
đức trong các nhà trường từ bậc phổ thông đến đại học có nhiều bất ổn; Các
giá trị đạo đức trong xã hội, cộng đồng tác động lớn đến hành vi, nhân cách