Phát huy giá trị gia đình truyền thống trong xây dựng gia đình Việt Nam thời kỳ đổi mới và hội nhập hiện nay - Pdf 26

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

HÀ THỊ BẮC

PHÁT HUY GIÁ TRỊ GIA ĐÌNH TRUYỀN THỐNG
TRONG XÂY DỰNG GIA ĐÌNH VIỆT NAM THỜI KỲ
ĐỔI MỚI VÀ HỘI NHẬP HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC HÀ NỘI - 2010

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 95

1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Chưa bao giờ vấn đề gia đình lại được nhiều người, nhiều giới, nhiều
quốc gia quan tâm như hiện nay. Ở nước ta, quá trình đổi mới và hội nhập
quốc tế đang tạo ra nhiều cơ hội nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức đối với
việc xây dựng gia đình và phát huy những giá trị tốt đẹp của gia đình truyền
thống Việt Nam.
Trải qua nhiều thế hệ, gia đình Việt Nam được hình thành và phát triển
cùng với những chuẩn mực giá trị của gia đình truyền thống Việt Nam nhưng
dưới tác động của quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế, gia đình Việt Nam
đang có những biến đổi một cách mạnh mẽ. Sự biến đổi ấy là một quá trình
thống nhất, liên tục vừa bảo tồn, truyền thụ, phát huy những giá trị tích cực
của gia đình truyền thống, đồng thời tiếp thu có chọn lọc và cải biến những
giá trị của gia đình hiện đại. Có thể nói, gia đình Việt Nam hiện nay chính là
sản phẩm của sự hiện đại hoá các giá trị truyền thống của gia đình Việt Nam
và truyền thống hoá những tinh hoa của gia đình hiện đại. Nhiều giá trị của
gia đình hiện đại được thế giới tạo ra trong quá trình xây dựng nền văn hoá
mới, gia đình mới cũng đã được các gia đình Việt Nam tiếp thu và đang góp
phần làm thay đổi diện mạo của đất nước, góp phần thúc đẩy sự tiến bộ xã
hội.
Trong quá trình diễn ra những biến đổi của gia đình, có những giá trị
của gia đình truyền thống sẽ bị mất đi; lại có những giá trị đang biến đổi dần
dần, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội mới và cũng có những giá trị quý
báu của gia đình Việt Nam truyền thống vẫn được bảo tồn và phát huy như:
tình yêu lứa đôi trong sáng, lòng chung thuỷ, tình nghĩa vợ chồng; trách
nhiệm và sự hy sinh của cha mẹ với con cái; con cái hiếu thảo với cha mẹ,
ông bà, tổ tiên… đồng thời gia đình Việt Nam hiện nay cũng đang tiếp nhận

trong xây dựng gia đình ở nước ta hiện nay. Do đó, việc lựa chọn vấn đề

3
“Phát huy giá trị gia đình truyền thống trong xây dựng gia đình Việt Nam
thời kỳ đổi mới và hội nhập hiện nay” làm đề tài luận văn thạc sỹ có ý nghĩa
lý luận và thực tiễn.
2. Tình hình nghiên cứu
Cho đến nay đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về gia đình
dưới nhiều góc độ và quy mô khác nhau. Liên quan đến đề tài của luận văn có
thể phân chia các công trình này thành các nhóm cơ bản sau:
- Nhóm vấn đề chung về xây dựng và phát triển gia đình Việt Nam có
một số công trình như : “Gia đình Việt Nam ngày nay” NXB. Khoa học xã
hội, 1996; “Gia đình Việt Nam trong bối cảnh đất nước đổi mới” của GS. Lê
Thi, NXB. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2002; “Suy nghĩ về việc xây dựng chiến
lược phát triển gia đình hiện nay” của Lê Thị Quý, Tạp chí Cộng sản, số 30 -
2003; “Cuộc sống và biến động của hôn nhân gia đình Việt Nam hiện nay ”
của GS. Lê Thi, NXB. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2007; “Gia đình học” của
Đặng Cảnh Khanh - Lê Thị Quý, NXB. Chính trị - Hành chính, Hà Nội,
2009… Qua các công trình này, các tác giả đã khái quát một cách có hệ thống
về sự biến đổi quy mô, cấu trúc, chức năng của gia đình… trong công cuộc
đổi mới và hội nhập quốc tế ở nước ta hiện nay.
- Nhóm vấn đề quan hệ giới và sự bất bình đẳng, bạo lực gia đình, có
một số công như: “Một số vấn đề về bạo lực gia đình hiện nay” của Lê Thị
Quý, Tạp chí Khoa học và Phụ nữ, số 4 - 1991; “Bất bình đẳng nam nữ nhìn
từ góc độ lịch sử” của Lê Thị Quý, Tạp chí Khoa học về Phụ nữ, số 32 - 1998;
“Phụ nữ và bình đẳng giới trong đổi mới Việt Nam”, NXB. Phụ nữ, Hà Nội,
1998; “Bạo lực gia đình - Bất bình đẳng trong quan hệ giới” của Lê Thị Quý,
Tạp chí Khoa học về Phụ nữ, số 42 - 2000; “Bạo lực gia đình - một sự sai lệch
giá trị”, NXB. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2007… Qua các công trình này, các
tác giả đã chỉ ra thực trạng, nguyên nhân, ảnh hưởng và hậu quả của sự bất

5
* Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để thực hiện mục đích nghiên cứu đã đặt ra, luận văn tập trung giải
quyết những nhiệm vụ sau đây:
Thứ nhất, xác định hệ giá trị của gia đình truyền thống Việt Nam và sự
tác động của quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế đến hệ giá trị gia đình
truyền thống Việt Nam hiện nay.
Thứ hai, làm rõ yêu cầu khách quan cần kế thừa, phát huy các giá trị
đạo đức tích cực của gia đình truyền thống trong xây dựng gia đình Việt
Nam.
Thứ ba, nêu lên phương hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm phát
huy những giá trị tích cực của gia đình truyền thống trong xây dựng gia đình
thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế ở nước ta hiện nay.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu những giá trị gia đình
truyền thống Việt Nam và phát huy các giá trị tích cực của gia đình truyền
thống Việt Nam trong xây dựng gia đình hiện nay.
* Phạm vi nghiên cứu: Luận văn chỉ nghiên cứu về những giá trị đạo
đức của gia đình truyền thống mà ngày nay vẫn có ý nghĩa tích cực trong xây
dựng gia đình thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế ở nước ta trong những năm
gần đây.
5. Cở sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận biện chứng duy
vật, kết hợp sử dụng các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành, chú ý tính
chính trị - xã hội của vấn đề nghiên cứu, trong đó có sự kết hợp với các
phương pháp như lôgíc - lịch sử, phân tích - tổng hợp, so sánh…để làm sáng
tỏ vấn đề nghiên cứu.

6
6. Đóng góp của luận văn

1.1.1. Khái quát về gia đình và gia đình truyền thống Việt Nam
* Khái quát về gia đình:
Trong cuộc đời mỗi người, gia đình luôn luôn là điểm tựa, là cội nguồn,
là cái nôi của sự yên bình, là yếu tố vô cùng cần thiết cho mỗi người và xã
hội. Nghiên cứu di sản lý luận của C.Mác và Ph.Ăngghen, chúng ta thấy,
trong suốt tiến trình xây dựng quan niệm duy vật về lịch sử, bao giờ các Ông
cũng dựa vào những tiền đề hiện thực. Những tiền đề hiện thực này thường
được các Ông sử dụng với tư cách những phạm trù xuất phát để nghiên cứu,
mổ xẻ các quá trình xã hội nhằm phát hiện ra các quy luật, các mâu thuẫn, các
xu hướng vận động và phát triển của nó. Những tiền đề hiện thực này được
biểu hiện một cách cụ thể qua các phạm trù, như phạm trù hàng hóa, phạm trù
con người, phạm trù sở hữu, Ở đây, điều đáng nói là, tất cả các phạm trù
này đều có liên quan đến phạm trù gia đình. Bởi, trong quan niệm của các
Ông, gia đình là tế bào của xã hội, tham gia vào mọi quá trình sản xuất, từ
sản xuất hàng hóa đến tiêu thụ sản phẩm; từ việc tái tạo ra con người đến việc
đào tạo, bồi dưỡng con người; từ chỗ tạo ra sự khác biệt về sở hữu đến chỗ
giải quyết vấn đề sở hữu. Và, ngược lại, các quá trình sản xuất, tiêu dùng, cải
tiến và sử dụng công cụ lao động, giáo dục và đào tạo, đều tác động trở lại
gia đình, củng cố hoặc làm biến đổi hình thức và kết cấu của gia đình.
Nhận thức rõ tầm quan trọng của vấn đề gia đình như vậy, nên trong
các tác phẩm của mình, C.Mác và Ph.Ăngghen đã không ít đề cập tới vấn đề
gia đình. Các Ông đã xem xét gia đình với tư cách một xã hội thu nhỏ, các
hình thức lịch sử của gia đình, nhất là gia đình với sự xuất hiện của sở hữu tư

8
nhân về tư liệu sản xuất; nghiên cứu mối quan hệ giữa gia đình và nhà nước,
sự khác biệt giữa gia đình dưới chế độ tư bản chủ nghĩa và gia đình dưới chế
độ xã hội chủ nghĩa tương. Không những thế, các Ông còn nghiên cứu gia
đình trong quan hệ tính giao - vấn đề trong hôn nhân, và gia đình với tư cách
yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất trong lịch sử phát triển xã hội.

nghiệp và của sự trao đổi sản phẩm.
Khi luận chứng về những tiền đề, điều kiện cho sự tồn tại của con
người, C. Mác đã viết: “Hằng ngày khi tái tạo ra đời sống bản thân mình, con
người bắt đầu tái tạo ra những người khác, sinh sôi nảy nở - đó là quan hệ
giữa chồng và vợ, cha mẹ và con cái, đó là gia đình” [25, tr.41]. Với quan
niệm này gia đình được nhìn nhận với một số nội dung chính sau:
Thứ nhất, gia đình ra đời và tồn tại cùng với sự ra đời và tồn tại của xã
hội loài người; con người cùng với quá trình tái tạo ra chính bản thân mình thì
đồng thời cũng tạo ra gia đình.
Thứ hai, chức năng chính của gia đình là tái tạo, sinh sôi nảy nở ra con
người.
Thứ ba, gia đình được tạo bởi hai mối quan hệ chủ yếu: quan hệ hôn
nhân (vợ - chồng), quan hệ huyết thống (cha, mẹ - con cái).
Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản (1848) C.Mác và Ph.Ăngghen
đã cho rằng, sự ra đời của nền sản xuất bằng máy móc hiện đại - nền đại công
nghiệp tư bản chủ nghĩa với lực lượng sản xuất mới đã dần xóa bỏ toàn bộ hệ
thống công trường thủ công, đã thay đổi sự phân bố dân cư và kết cấu ngành
nghề của xã hội và do vậy, sự "yên ấm” của từng gia đình cũng bị phá vỡ theo
dòng xoáy của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa. Không chỉ thế, nó còn làm thay
đổi vị trí và điều kiện sinh sống của gia đình, thay đổi nhu cầu thưởng thức
những giá trị vật chất và tinh thần của mọi thành viên trong gia đình. Nếu
trước đây, nhu cầu tiêu dùng được thỏa mãn bằng những sản phẩm trong
nước, thì nay đã nảy sinh ra những nhu cầu mới, đòi hỏi được thỏa mãn bằng

10
những sản phẩm đưa từ những miền và xứ xa xôi nhất về và một khi “sản xuất
vật chất đã như thế thì sản xuất tinh thần cũng không kém như thế”, nó làm
cho những thành quả của hoạt động tinh thần của một dân tộc trở thành tài sản
chung của tất cả các dân tộc. Nền đại công nghiệp tư bản chủ nghĩa còn tạo ra
một chế độ xã hội và chính trị thích ứng với quan hệ sản xuất mới, với cơ sở

là hoàn toàn có cơ sở khoa học, có giá trị thực tiễn cao, nhất là những tư
tưởng về những biến đổi của gia đình phụ thuộc và gắn liền với sự biến đổi
của các điều kiện kinh tế - xã hội nhưng có tác động quan trọng đối với những
biến đổi kinh tế - xã hội ấy.
Trên thế giới, hiện tồn tại rất nhiều hình thức gia đình với cấu trúc và
chức năng khác nhau, do đó, khó có thể đưa ra một định nghĩa chung và khoa
học về gia đình. Ở Việt Nam, từ xưa đến nay, gia đình, đặc biệt là gia đình
truyền thống không chỉ là cộng đồng mà còn cộng cảm, tính xã hội đặc biệt
của gia đình là ở đó. Căn cứ vào thực tiễn của hôn nhân và gia đình ở nước ta,
GS. Lê Thi đã đưa ra quan niệm về gia đình: “Khái niệm gia đình được sử
dụng để chỉ một nhóm xã hội hình thành trên cơ sở quan hệ hôn nhân và quan
hệ huyết thống nảy sinh từ quan hệ hôn nhân đó (cha mẹ, con cái, ông bà, họ
hàng nội ngoại) cùng chung sống. Đồng thời gia đình có thể bao gồm một số
người được gia đình nuôi dưỡng, tuy không có quan hệ máu mủ. Các thành
viên gia đình gắn bó với nhau về trách nhiệm, quyền lợi (kinh tế, văn hoá,
tình cảm), giữa họ có những điều kiện ràng buộc có tính pháp lý, được nhà
nước thừa nhận và bảo vệ (được ghi rõ trong Luật hôn nhân và gia đình nước
ta). Đồng thời trong gia đình có những quy định rõ ràng về quyền được phép
và cấm đoán trong quan hệ tình dục giữa các thành viên” [39, tr.7].
Hiện nay có rất nhiều khái niệm về gia đình, mỗi khái niệm đều nhằm
mục đích khái quát lên những yếu tố cơ bản, đặc thù. Sau đây là một số khái
niệm:

12
a. Gia đình là tập hợp những người cùng chung sống thành một đơn vị
nhỏ nhất trong xã hội, họ gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân và dòng
máu, thường gồm vợ chồng, cha mẹ và con cái.
b. Gia đình là nhóm người chung sống với nhau dưới một mái nhà có
quan hệ hôn nhân, huyết thống và nền kinh tế chung.
c. Theo Levi strauss thì gia đình là một nhóm xã hội được quy định bởi

Chúng ta đang đứng trước cơ hội lớn để phát triển trong bối cảnh toàn
cầu hóa, đồng thời cũng có những thách thức nghiệt ngã cần phải vượt qua,
trong đó có thách thức về xây dựng gia đình Việt Nam, gìn giữ và phát huy
những giá trị tốt đẹp của gia đình truyền thống, đáp ứng những đòi hỏi ngày
càng cao của công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và
hội nhập quốc tế.
Không thể phủ nhận được vai trò to lớn và rất quan trọng của gia đình
trong đời sống xã hội. Các tế bào cấu thành xã hội ấy vẫn còn và sẽ còn là
nhân tố quan trọng quyết định sự phát triển bền vững của xã hội Việt Nam.
Từ quan niệm của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác về gia đình trong mối quan
hệ với sự phát triển kinh tế -xã hội, có thể khẳng định chủ trương đó của Đảng
ta là định hướng chiến lược không chỉ đối với việc xây dựng gia đình Việt
Nam mới, mà còn đối với việc phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của
gia đình Việt Nam trong bối cảnh đổi mới và hội nhập quốc tế.
* Gia đình truyền thống Việt nam:
- Khái niệm gia đình truyền thống: Nếu khái niệm gia đình khó xác
định trên diện rộng và rất đa dạng thì khái niệm “gia đình truyền thống” cũng
là một khái niệm khó xác định không kém, hơn nữa nó còn được ít người
nghiên cứu.
Gia đình truyền thống là một khái niệm mà các nhà nghiên cứu dùng để
chỉ loại gia đình đã hình thành và tồn tại trong quá khứ mà trong đó chứa
đựng nhiều yếu tố bền vững, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác,

14
những yếu tố đó phản ánh nền văn hoá bản địa và tạo nên nét đặc sắc của văn
hoá dân tộc. Ở Việt Nam, gia đình truyền thống là một khái niệm mang nhiều
hàm nghĩa khác nhau. Trên thực tế, khái niệm này thường được hiểu chỉ là
một phần trong các ý nghĩa đó, chẳng hạn người ta có thể hiểu gia đình truyền
thống là gia đình Nho giáo hoặc gia đình phong kiến. Một số khác muốn nhấn
mạnh tinh thần dân tộc, muốn gạt yếu tố “Nho giáo” hoặc “phong kiến” ra

là một đơn vị sản xuất nông nghiệp tự cung tự cấp. Các hộ gia đình tự sản
xuất những sản phẩm tiêu dùng cho gia đình mình. Có thể nói, gia đình truyền
thống là một hộ nông - công - thương kết hợp trong đó nông nghiệp giữ vai
trò chủ đạo. Ngoài công việc cày cấy ra mỗi gia đình làm thêm một số nghề
thủ công như đan lát, trồng dâu, nuôi tằm, dệt vải để tạo ra sản phẩm tiêu
dùng cho cả gia đình.
Trong sản xuất nông nghiệp, điều kiện sản xuất lạc hậu, công cụ thô sơ,
theo chế độ ruộng công phân chia định kỳ. Với đặc thù sản xuất lúa nước, có
sự phân công lao động cụ thể giữa đàn ông và đàn bà, thể hiện qua câu ca dao
sau:
“Trên đồng cạn, dưới đồng sâu
Chồng cày, vợ cấy con trâu đi bừa”.
Công lao đóng góp của cả đàn ông và đàn bà là như nhau trong việc tạo
ra sản phẩm nuôi sống cả gia đình. Trong gia đình thường quan niệm “của
chồng công vợ” do đó, người phụ nữ có vai trò quan trọng trong quản lý các
sản phẩm và chi tiêu trong gia đình. Người đàn ông trong chế độ phụ hệ - Gia
trưởng là người chủ gia đình về hình thức nhưng lại không am hiểu tình hình
kinh tế của gia đình bằng người vợ. Vì thế, người đàn bà (người mẹ, người
vợ) là người quyết định mọi thứ chi tiêu và quản lí tiền bạc, tài sản trong nhà.
Trong gia đình truyền thống, người phụ nữ bị cột chặt vào lễ giáo phong kiến

16
nhưng mặt khác đã có những yếu tố dân chủ, bình đẳng như: tề gia nội trợ,
"tay hòm chìa khoá" hay "lệnh ông không bằng còng bà"…
Thứ hai, phong tục thờ cúng tổ tiên của gia đình truyền thống. Việc thờ
cúng tổ tiên chủ yếu được thực hiện ở nhà người con trai cả và nhằm vào tổ
tiên trực tiếp về phía cha (nội) trong phạm vi năm đời trở lại, những người
con thứ cũng thờ cúng ông bà nhưng đơn giản theo kiểu “thờ vong”, thờ từ
xa. Việc thờ cúng tổ tiên trong gia đình người Việt rất quan trọng, một số nhà
nghiên cứu đã cho rằng việc thờ cúng tổ tiên là một chức năng của gia đình

người, là biểu thị giá trị xã hội của con người.
Gia lễ là lễ nghi gia đình. Gia lễ là sự quy định cách thức, nề nếp để
đảm bảo cho gia đình sinh hoạt theo đúng phép tắc, có lễ nghĩa phân minh
trên dưới rõ ràng. Lễ thường được diễn ra ở các hình thức sau: quan, hôn,
tang, tế. Quan là, lễ để trân trọng sự ra đời và trưởng thành của con người.
Hôn lễ là sự cưới vợ gả chồng. Tang là việc ma chay. Tế là việc cúng bái, thờ
phụng. Gia lễ không chỉ là nghi thức theo thói quen, phong tục mà gia lễ còn
được ghi chép thành sách để mọi người cùng xem và thực hiện.
Gia pháp là phép tắc (mang tính luật lệ) trong gia đình. Gia pháp là
những qui định nhằm ngăn ngừa, uốn nắn, trừng phạt những hành vi sai trái
của các thành viên trong gia đình. Đồng thời gia pháp cũng nhằm mục đích
bảo vệ và đề cao uy thế của gia trưởng, gìn giữ sự đoàn kết nhất trí trong nội
bộ gia đình hoặc để giữ những bí mật gia truyền. Gia pháp khẳng định sự
nghiêm khắc của cha đối với con, của anh đối với em. Gia pháp luôn được giữ
nghiêm, nếu không sẽ bị thiên hạ chê cười, phê phán. Gia pháp là một thứ luật
lệ bất thành văn, ai cũng phải biết, tôn trọng và tự giác tuân theo.
Gia phong là phong cách gia đình. Đây là nề nếp, lề thói mà người
trong gia đình đều phải noi theo trong lời ăn, tiếng nói, hành vi ứng xử trong
gia đình cũng như ngoài xã hội. Gia phong thể hiện bản sắc văn hoá của từng
gia đình và do gia giáo chi phối, nói đến gia phong là nói đến trật tự, kỷ

18
cương của gia đình, nói đến những tính chất đặc biệt của quan hệ gia đình với
nhiều thói quen, tập tục sinh hoạt. Một gia đình có gia phong lành mạnh là
con cháu phải giữ gìn được nề nếp của cha ông “giấy rách phải giữ lấy lề”
hoặc giữ tư cách gia đình “đói cho sạch, rách cho thơm” hoặc “trai thì trung
hiếu làm đầu, gái thì tiết hạnh làm câu sửa mình”. Làm nhục gia phong là
phạm vào gia pháp và có thể bị trừng phạt nặng nề. Gia phong là nếp sống, là
niềm tự hào và lẽ sống của con người trong gia đình truyền thống.
Thứ tư, gia đình truyền thống Việt Nam rất coi trọng tình nghĩa, tôn

địa vị người phụ nữ trong gia đình cao hơn một bậc so với quan niệm của nho
giáo. Có thể hình dung sự khác biệt ấy như sau: nho giáo trọng chồng, trọng
cha còn người Việt cũng trọng chồng, trọng cha nhưng cũng trọng vợ, trọng
mẹ. Địa vị của người phụ nữ đã làm nên một bản sắc độc đáo của gia đình
truyền thống Việt Nam.
Tinh thần cộng đồng thể hiện ở sự hoà tan của các cá nhân vào trong
gia đình, địa vị, uy tín cá nhân được quy định bởi địa vị, uy tín gia đình, do đó
trong xã hội không có con người cá nhân với nhân cách độc lập và càng
không thể có cá nhân đứng ngoài gia đình. Những cá nhân đứng ngoài gia
đình thường chỉ là những đứa con bất hiếu, bất trung hoặc làm những điều tổn
hại cho danh dự, gia phong và bị gia đình ruồng bỏ.
Cơ sở xuất phát của tính cộng đồng trong gia đình người Việt chính là
từ hôn nhân và từ tính cộng đồng làng xã mà nguồn gốc của nó là do tục thờ
thành hoàng (vị thần phù hộ cho cả làng, là biểu tượng sự thống nhất vận
mệnh cộng đồng) cùng với lợi ích kinh tế, tinh thần do làng xã mang lại (sự
phân chia ruộng công theo định kỳ, các nghĩa vụ cho làng nước, sự tương trợ
khi gặp khó khăn hoạn nạn).
Đối với người Việt, nói đến gia đình là nói ngay đến cộng đồng, và cái
cộng đồng ấy không chỉ bao gồm những người đang sống mà còn cả những

20
người đã chết và những người sẽ sinh ra. Chính vì lẽ đó, gia đình truyền thống
rất coi trọng thờ cúng tổ tiên và nối dõi tông đường.
Tính cộng đồng trong gia đình không chỉ là điều kiện để gia đình tồn tại
mà còn là phong cách sống của người Việt. Người Việt thích sống trong gia
đình và có gia đình, rất sợ sống xa gia đình, sợ sự chia ly. Sống xa nhà, xa quê
hương, bơ vơ đất khách quê người là một bất hạnh lớn. “Sẩy nhà ra thất
nghiệp” là quan niệm nẩy sinh từ tính cộng đồng đó.
Trên đây là một vài đặc điểm thể hiện bản sắc dân tộc đậm đà của gia
đình truyền thống. Bản sắc đó được hình thành từ rất sớm và được củng cố,

không chỉ mang tính lịch sử, tính giai cấp mà còn mang tính kế thừa trong sự
phát triển của ý thức xã hội. Tức là, bên cạnh bộ phận đạo đức đặc trưng của
mỗi thời đại, phản ánh quan hệ kinh tế, quan hệ xã hội đương thời còn một bộ
phận đạo đức truyền thống của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc, được lưu truyền từ
thế hệ này sang thế hệ khác, góp phần làm nên bản sắc độc đáo của mỗi dân
tộc trong quá trình phát triển.
Khi bàn về giá trị truyền thống, giáo sư Trần Văn Giàu cho rằng “Giá
trị truyền thống của một dân tộc là những nguyên lý đạo đức lớn mà con
người trong nước thuộc các thời đại, các giai đoạn lịch sử đều dựa vào để
phân biệt phải trái, để nhận định nên chăng, nhằm xây dựng độc lập, tự do và
tiến bộ của dân tộc đó… Những giá trị truyền thống không có sẵn, không nhất
thành bất biến, nó do con người sáng tạo, xây dựng lên và đến lượt nó trở lại
điều chỉnh, định hướng những suy nghĩ, hành vi, sự hoạt động của con người”
[9, tr.50-51].
Theo giáo sư Nguyễn Tài Thư, “nói đến giá trị là nói đến cái có ích, có
lợi cho nhân dân, cho dân tộc, cho sự phát triển của xã hội, nói đến những gì
có thể thỏa mãn được nhu cầu và lợi ích của con người trong lịch sử. Giá trị
văn hóa tinh thần của dân tộc là những tư tưởng, những quan niệm, những ý

22
niệm, những thành tựu văn hóa đã có tác dụng thúc đẩy sự đi lên của lịch sử
và phục vụ cho lợi ích và nhu cầu của nhân dân, đất nước” [50, tr.136].
Đạo đức truyền thống được thể hiện trong nhiều lĩnh vực, môi trường
khác nhau trong đó đạo đức của gia đình truyền thống Việt Nam có nhiều nét
đặc sắc mà ngày nay cần phải có thái độ trân trọng và kế thừa. Đạo đức truyền
thống của gia đình là hệ thống những quan niệm, chuẩn mực đạo đức về hôn
nhân và gia đình được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, nó có thể
còn phù hợp hoặc không phù hợp với xã hội mới. Do đó, khi sử dụng khái
niệm giá trị đạo đức truyền thống của gia đình là nói đến quan niệm, qui tắc,
chuẩn mực đạo đức truyền thống của gia đình vẫn còn phù hợp với ngày nay

Chồng người áo gấm xông hương mặc người”.
Hay:
“Đi đâu cho thiếp đi cùng
Đói no thiếp chịu lạnh lùng thiếp cam”
Có thể nói, giá trị nổi bật của gia đình truyền thống trong quan hệ vợ
chồng đó là lòng chung thuỷ, nó được coi là nền tảng để xây dựng gia đình
êm ấm, hạnh phúc. Tuy nhiên lòng chung thuỷ được đề cập trong quan hệ vợ
chồng chủ yếu chỉ đặt ra với người vợ. Người chồng có thể nhiều thê thiếp
nhưng người vợ chính chuyên chỉ có một chồng. Phụ nữ nói chung, người vợ
nói riêng, trinh tiết và đức hạnh là những tiêu chuẩn đầu tiên, những phụ nữ
một lòng một dạ với chồng, chẳng may chồng chết phải ở vậy nuôi con, thờ
chồng thì được coi là người có đức hạnh, nhà vua sẽ ban “Tiết hạnh khả
phong” cho những phụ nữ ấy để làm gương cho mọi người noi theo, ngược lại
nếu không chồng mà chửa hoang hoặc ngoại tình thì bị khinh rẻ, xa lánh, kỳ
thị thậm chí còn phải gánh chịu những hình phạt nặng nề.
Trong gia đình truyền thống về nguyên tắc quan hệ vợ chồng là bất
bình đẳng trong đó đề cao địa vị độc tôn của người đàn ông, tư tưởng phụ

Trích đoạn Những giải pháp
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status