Vai trò của Giáo Viên Chủ Nhiệm trong việc hình thành ý thức học tập cho học sinh
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 2
1. Lý do chọn đề tài và lịch sử vấn đề nghiên cứu 2
2. Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu đề tài: 4
3. Đối tượng nghiên cứu: 4
4. Nhiệm vụ nghiên cứu: 4
5. Phương pháp nghiên cứu 5
6. Cấu trúc của đề tài: 5
Chương I. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 7
1. Vai trò, nhiệm vụ của giáo viên chủ nhiệm lớp trong trường trung học phổ thông 7
2. Những yêu cầu đối với giáo viên chủ nhiệm lớp: 8
2.1. Những tố chất cần có của một giáo viên chủ nhiệm 8
2.2. Giáo viên chủ nhiệm lớp là tấm gương cho học sinh noi theo 8
3. Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm của lứa tuổi học sinh trung học cơ sở 9
3.1.Hoạt động học tập của học sinh trung học cơ sở 9
3.2. Hoạt động giao tiếp ở lứa tuổi trung học cơ sở 10
4. Đặc điểm tập thể 11
5. Giáo dục học sinh trong tập thể: 12
CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG CHUNG VỀ Ý THỨC HỌC TẬP CỦA HỌC SINH HIỆN
NAY 12
1. Vai trò của giáo viên chủ nhiệm lớp trong nhà trường hiện nay: 12
2. Thực trạng ý thức học tập của học sinh trong nhà trường hiện nay 13
3. Thực trạng ý thức học tập của học sinh lớp 9 Trường Trần Văn Ơn 14
CHƯƠNG III. KẾ HOẠCH VÀ BIỆN PHÁP THỰC HIỆN VAI TRÒ CỦA CHỦ NHIỆM
TRONG VIỆC HÌNH THÀNH Ý THỨC HỌC TẬP CHO HỌC SINH LỚP 9 17
1. Kế hoạch thực hiện vai trò của chủ nhiệm trong việc hình thành ý thức học tập cho học
sinh lớp 9 17
1.1. Nắm vững chức năng, vai trò và nhiệm vụ của giáo viên chủ nhiệm lớp 17
1.2. Cần nắm vững nội dung công tác chủ nhiệm 20
mà không có đức là người vô dụng, người có đức mà không có tài thì làm việc
gì cũng khó. Qua đó nghề dạy học, không đơn thuần là chỉ dạy học, mà người
giáo viên (GV) phải giáo dục học sinh (HS) thành một con người phát triển cao
về trí tuệ, phong phú về tinh thần và trong sáng về đạo đức.
Đối với học sinh trung học cơ sở (THCS) ở độ tuổi mà tâm sinh lý lứa
tuổi phát triển mạnh, các em có nhiều nhu cầu hiểu biết, tìm tòi, bắt chước, thích
giao lưu tìm hiểu, thích đua đòi ăn chơi, thích khẳng định mình là người lớn ;
trong khi đó các kiến thức hiểu biết về xã hội, hiểu biết về gia đình, hiểu biết về
pháp luật còn rất hạn chế, thậm chí có em còn mơ hồ; do đó các em chưa có
trách nhiệm với hành vi của mình, nên dễ dẫn đến vi phạm pháp luật mà nhiều
nhất là vi phạm Luật giao thông đường bộ, hoặc vi phạm nội quy nhà trường về
nền nếp tác phong.
Thực tế nhiều năm qua, trong lý thuyết cũng như trong thực tiễn đã có
quan điểm cho rằng hiệu quả giáo dục phụ thuộc vào việc xác định và lựa chọn
mục tiêu, chương trình, nội dung, phương pháp, hình thức giáo dục cùng với
những điều kiện, phương tiện giáo dục. Cho nên, bản thân tôi là một GV dạy
Toán vừa là giáo viên chủ nhiệm (GVCN), tôi luôn tâm niệm rằng phải luôn dạy
dỗ, giáo dục cho các em trở thành những con người hữu ích cho xã hội để xứng
đáng với những hình ảnh đẹp mà xã hội ban tặng như đồng chí Phạm Văn Đồng
đã nói: “Nghề dạy học là nghề cao quí nhất trong tất cả các nghề cao quí vì nó
sáng tạo ra những con người sáng tạo”. Tôi hiểu rằng GVCN lớp là người chịu
Người thực hiện : Hồ Trang 2
Vai trò của Giáo Viên Chủ Nhiệm trong việc hình thành ý thức học tập cho học sinh
trách nhiệm trước hiệu trưởng nhà trường trong việc thực hiện mọi quyết định
của hiệu trưởng đối với lớp và các thành viên trong lớp. GVCN lớp là người
vạch kế hoạch, tổ chức cho lớp mình thực hiện các chủ đề theo kế hoạch và theo
dõi, đánh giá việc thực hiện của các học sinh. GVCN lớp phải biết phối hợp với
các giáo viên bộ môn (GVBM), chỉ huy quản lý HS trong lớp học tập tốt, lao
động tốt, làm tốt các công tác xã hội. Chủ nhiệm cũng là người phối hợp với các
2. Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu đề tài:
* Mục tiêu:
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng, vai trò của GVCN lớp trong
công tác giáo dục toàn diện HS là đề ra những giải pháp hợp lý nhằm hình thành
ý thức học tập cho HS từ đó góp phần hoàn thiện nhân cách HS, nâng cao hiệu
quả giáo dục toàn diện ở lớp 9 trường THPT.
* Phạm vi nghiên cứu:
Về nội dung: Thực trạng của học sinh, kế hoạch và giải pháp cho vai trò
của GVCN lớp trong việc hình thành ý thức học tập cho HS lớp 9 ở trường
THPT Trần Văn Ơn.
- Thời gian thực hiện.
+ Bắt đầu : tháng 08 năm 2008
+ Kết thúc : tháng 03 năm 2010
3. Đối tượng nghiên cứu:
- Do thời gian nghiên cứu có hạn nên tôi chỉ vận dụng HS ở lớp 9
1
năm
học 2008–2009 và lớp 9
1
năm học 2009–2010 của trường THPT Trần Văn Ơn .
- Nghiên cứu quá trình chủ nhiệm lớp ở lớp 9 của các đồng nghiệp khác.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên cứu lý luận về các GVCN lớp đã thể hiện vai trò của mình như
thế nào trong việc hình thành ý thức học tập cho HS và đã đạt kết quả như thế
nào?
- Đề ra kế hoạch và những giải pháp hiệu quả, cụ thể việc áp dụng nhằm
tăng cường ý thức học tập cho HS trong trường THPT.
- Từ đó rút ra được những bài học kinh nghiệm từ việc trải nghiệm thực tế
cho bản thân trong công tác chủ nhiệm lớp.
Người thực hiện : Hồ Trang 4
mục đích nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và cấu trúc của đề tài.
Người thực hiện : Hồ Trang 5
Vai trò của Giáo Viên Chủ Nhiệm trong việc hình thành ý thức học tập cho học sinh
Chương một (6 trang) trình bày một số vấn đề lý thuyết về vai trò,
nhiệm vụ của giáo viên chủ nhiệm, tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm
của lứa tuổi học sinh THCS.
Chương hai (6 trang) tìm hiểu thực trạng vai trò của giáo viên chủ
nhiệm trong trường THPT hiện nay và thực trạng tình hình thái độ học tập của
HS lứa tuổi THCS đặc biệt là HS khối cuối cấp.
Chương ba (30 trang) là phần chính của đề tài, trình bày kế hoạch,
biện pháp thực hiện vai trò của giáo viên chủ nhiệm trong việc hình thành tinh
thần ý thức học tập của học sinh khối 9 và những kết quả đạt được.
Phần Kết luận (2 trang) đánh giá những gì đề tài đã thực hiện được,
nêu lên một số bài học kinh nghiệm qua việc thực hiện vai trò của chủ nhiệm lớp
trong việc hình thành ý thức học tập cho học sinh.
Người thực hiện : Hồ Trang 6
Vai trò của Giáo Viên Chủ Nhiệm trong việc hình thành ý thức học tập cho học sinh
NỘI DUNG
Chương I. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1. Vai trò, nhiệm vụ của giáo viên chủ nhiệm lớp trong trường trung
học phổ thông
- Trong trường THPT vai trò, nhiệm vụ của người GVCN bao gồm:
+ Người GVCN, trước hết phải thực hiện tốt những nhiệm vụ của một
thầy cô giáo nói chung, đó là mẫu mực về đạo đức, gương mẫu trong việc chấp
hành luật pháp và những qui định của nhà nước, nắm vững đường lối quan điểm
lý luận giáo dục, biết vận dụng sáng tạo vào thực tiễn giáo dục thế hệ trẻ, làm tốt
công tác giáo dục, vũ trang tri thức khoa học, phát triển trí tuệ của HS. Đồng
nhiệm giỏi không nhất thiết là một. Có đồng thuận, có lệch pha trong thực tế là
bình thường. Tố chất quan trọng của GVCN là tố chất của một con người hành
động. Cũng như hiệu trưởng, chủ nhiệm lớp phải nghiêm túc và cần một bộ óc
kế hoạch hóa. Đối tượng quản lý trường học, lớp học là con người cụ thể; do đó
không thể có một chương trình cài đặt sẵn. Phải lao vào làm. Thấy đúng thì tổng
kết và áp dụng tiếp, thấy sai phải điều chỉnh kế hoạch kịp thời hoặc huỷ bỏ theo
quy trình: xây dựng kế hoạch - thực hiện kế hoạch - kiểm tra kế hoạch - tổng kết
và vạch kế hoạch mới. Rất cần ở chủ nhiệm lớp các phẩm chất nhiệt tình, sâu
sát, cần cù, có trí nhớ tốt, quan sát tinh, tâm lí giỏi, có khả năng xây dựng đội
ngũ cán bộ lớp trong HS; cũng như xây dựng HS trở thành tập thể lớp học tập
tốt. GVCN phải vừa là thầy vừa là bạn của học trò.
2.2. Giáo viên chủ nhiệm lớp là tấm gương cho học sinh noi theo
Trong lớp học, GVCN là người để các em noi theo. Cách hành động, suy
nghĩ, cư xử của GV sẽ ảnh hưởng rất nhiều về quan niệm của HS và phụ huynh
về GV. Bản thân tôi vừa là GVCN đồng thời là GVBM Toán. Vì vậy, khi đến
trường hoặc lên lớp, tôi đều luôn chú ý tác phong theo quy định của ngành nhằm
làm gương cho học sinh.
Soạn bài trước khi đến lớp. Theo tôi, chỉ khi nào thầy cô cảm thấy hứng
thú với bài dạy thì sự hứng thú đó mới lây truyền sang HS. Sự hứng thú này đi
đôi với việc soạn bài trước và có một chương trình trước cho những gì phải làm
trong giờ học thay vì một thái độ "tùy cơ ứng biến". GV cần chuẩn bị đầy đủ
Người thực hiện : Hồ Trang 8
Vai trò của Giáo Viên Chủ Nhiệm trong việc hình thành ý thức học tập cho học sinh
giáo án, tài liệu, phương tiện, đồ dùng dạy học trước khi lên lớp. Người thầy
càng tận tâm thì các em càng cố gắng học. GV cần có lời nói gọn, rõ ràng, dứt
khoát. Khi nói nhìn thẳng vào học sinh, nói thẳng với các em chứ đừng nói như
nói với chính mình hay nói khơi khơi giữa lớp. Dùng từ, câu dễ hiểu, hợp với
trình độ học sinh. Trong tiết dạy (của tôi) thì vẽ hình, giải bài tập một cách chính
xác và hướng dẫn để các em thực hiện đúng, biết lắng nghe HS nói. Mỗi khi các
3.2. Hoạt động giao tiếp ở lứa tuổi trung học cơ sở
3.2.1. Sự hình thành kiểu quan hệ mới
Học sinh THCS có nhu cầu mở rộng quan hệ với người lớn và muốn có
quan hệ bình đẳng như người lớn, không muốn người lớn xem chúng là trẻ con
nữa. Các em muốn cải tổ lại mối quan hệ với người lớn theo chiều hướng hạn
chế quyền hạn của người lớn, mở rộng quyền hạn của mình. Mong muốn được
người lớn tôn trọng phẩm giá, nhân cách, tin tưởng và mở rộng tính độc lập của
các em. Để duy trì sự thay đổi mối quan hệ giữa các em và người lớn, các em có
những hình thức kháng cự, không phục tùng, xem như là phương tiện để thay
đổi kiểu quan hệ mới, chính sự thay đổi mối quan hệ giữa thiếu niên và người
lớn này sẽ tạo điều kiện phát triển độ trưởng thành ở lứa tuổi này.
3.2.2. Hoạt động giao tiếp của học sinh trung học cơ sở
Sự giao tiếp học sinh THCS với bạn bè cùng lứa tuổi: Có mối quan hệ
phức tạp, đa dạng nhiều hơn so với HS tiểu học. Sự giao tiếp được mở rộng, các
em có nhu cầu lớn trong giao tiếp và hoạt động chung với nhau, muốn được
sống tập thể, có bạn bè thân thiết, tin cậy, đồng thời muốn bạn bè tin cậy, tôn
trọng mình. Coi quan hệ bạn bè cùng tuổi là quan hệ riêng tư cá nhân và các em
có quyền độc lập trong quan hệ này.
Tình bạn trong đời sống học sinh THCS: Tiêu chuẩn kết bạn của HS
THCS là những phẩm chất về tình bạn: Đó là sự tôn trọng lẫn nhau, quan hệ
bình đẳng, giúp đỡ lẫn nhau, lòng trung thành, tính trung thực. Học sinh THCS
thích giao tiếp và kết bạn với nhau, nhưng kết bạn với những ai được mọi người
tôn trọng, có uy tín và tiến bộ rõ rệt về một mặt nào đó. Phạm vi giao tiếp lúc
đầu rộng, nhưng không bền, sau hẹp lại, gắn bó với nhau hơn và chịu ảnh hưởng
Người thực hiện : Hồ Trang 10
Vai trò của Giáo Viên Chủ Nhiệm trong việc hình thành ý thức học tập cho học sinh
của nhau. Bạn bè có thể trở thành hình mẫu đối với các em. Trong giao tiếp với
bạn làm nẩy sinh hứng thú mới ở các em.
Quan hệ khác giới giữa các em trai và em gái: Các em bắt đầu có biểu
5. Giáo dục học sinh trong tập thể:
Những nghiên cứu tâm lý học sư phạm đều khẳng định rằng con đường
đúng đắn nhất để hình thành nhân cách phù hợp với mục đích giáo dục của
chúng ta là giáo dục thông qua tập thể. Tập thể vừa là môi trường, vừa là
phương tiện để giáo dục HS. Giáo viên chủ nhiệm phải:
- Tổ chức các hoạt động mang tính tập thể phong phú, hấp dẫn, lôi cuốn
các em, tạo điều kiện để mỗi HS hình thành và phát triển nhân cách.
- Xây dựng tập thể các em thành một tập thể đoàn kết, thân ái, có dư luận
tập thể lành mạnh và truyền thống tốt đẹp nhằm tác động tốt đến sự hình thành
và phát triển nhân cách học sinh.
- Chú ý đến các phương pháp tác động song song: mọi tác động đến cá
nhân cũng tác động đến tập thể và ngược lại.
CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG CHUNG VỀ Ý THỨC HỌC TẬP CỦA
HỌC SINH HIỆN NAY
1. Vai trò của giáo viên chủ nhiệm lớp trong nhà trường hiện nay:
Trước hết, ta cần xác định rõ vai trò của GVCN lớp. Giáo viên chủ nhiệm
là người thay mặt nhà trường chịu trách nhiệm về toàn bộ các mặt hoạt động của
lớp; GVCN là cầu nối tin cậy nhất với nhà trường và phụ huynh học sinh. Vì
vậy GVCN vừa đề cao trách nhiệm, vừa có tình thương, bao dung độ lượng và
nghiêm minh, công bằng; vừa có tính chủ động sáng tạo để giáo dục học sinh
nhất là đối tượng chậm tiến. GVCN phải có kế hoạch giáo dục học sinh, hàng
tuần, hàng tháng phải có nhận xét, đánh giá xếp loại cụ thể về từng mặt cho từng
học sinh, chỉ cho mỗi HS thấy được từng mặt mạnh mặt yếu và có khen chê kịp
thời. Bên cạnh đó giữa GVCN và phụ huynh phải có mối quan hệ mật thiết,
thường xuyên thông tin về tình hình học tập rèn luyện của con em để bàn biện
pháp phối hợp giáo dục.
Người thực hiện : Hồ Trang 12
Vai trò của Giáo Viên Chủ Nhiệm trong việc hình thành ý thức học tập cho học sinh
Nhưng thực tế nhiều người đã coi nhẹ và lẫn lộn họ với các GVBM khác.
độ học tập, có tinh thần giúp đỡ bạn, có lòng nhân ái, xây dựng tổ nhóm học tập
để giúp đỡ nhau cùng tiến bộ.
Một số lớp có tinh thần thái dộ học tập tốt, có ý thức xây dựng tập thể
lớp chi đội, biết nhận thức, phê bình các hành vi vi phạm của các bạn trong lớp,
góp phần đưa tập thể trở thành lớp tiên tiến.
Bên cạnh đó vẫn còn một số hạn chế cần sớm khắc phục: một bộ phận
nhỏ học sinh chưa có ý thức phấn đấu rèn luyện nên vi phạm nội qui nhà trường;
có học sinh vi phạm một vài lần, có học sinh vi phạm có hệ thống. Vi phạm nội
quy với các lỗi thường gặp: đánh nhau, vô lễ với thầy cô giáo, mê chơi điện tử,
chơi game online, nói tục, chửi thề, trộm cắp tài sản, tiền bạc của bạn, bỏ học,
trốn tiết, bỏ nhà đi lang thang, vi phạm luật giao thông, và một số vi phạm
khác Một số học sinh vi phạm khuyết điểm có khi bao che cho nhau, thiếu
thành khẩn. Số lượng học sinh yếu về học tập, chậm tiến về đạo đức năm nào
cũng có và bắt buộc phải rèn luyện lại trong hè; có em lên lớp, có em phải lưu
ban lại, tuy nhiên số lượng có giảm trong những năm trở lại đây.
3. Thực trạng ý thức học tập của học sinh lớp 9 Trường Trần Văn Ơn
Trường THPT Trần Văn Ơn, năm trên địa bàn Xã Thuận Giao, Huyện
Thuận An. Đây là địa bàn có nhiều khu công nghiệp lớn của Tỉnh; học sinh chủ
yếu ở các địa phương khác trong cả nước chuyển đến; với số lượng và qui mô
lớn, hiện nay trường có 1789 em với 44 lớp. Bên cạnh những thuận lợi cơ bản
vẫn có nhiều khó khăn trong công tác giáo dục học sinh đặc biệt là giáo dục ý
thức tự giác học tập:
Thuận lợi:
- Được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, phối hợp của lãnh đạo Đảng,
Chính quyền, các ban ngành đoàn thể các cấp trên địa bàn và Sở GD–ĐT Bình
Dương.
- Tập thể sư phạm nhà trường đều có ý thức và tinh thần trách nhiệm đối
với công tác giáo dục học sinh; rất nhiều thầy cô giáo luôn luôn trăn trở, tìm mọi
Người thực hiện : Hồ Trang 14
, đây cũng là
năm đầu tiên Trường THPT Trần Văn Ơn có HS lớp 9 nên không có học sinh
lưu ban ( HS yếu ) nhưng HS giỏi, khá không nhiều. Lớp 9
5
là lớp được tập hợp
Người thực hiện : Hồ Trang 15
Vai trò của Giáo Viên Chủ Nhiệm trong việc hình thành ý thức học tập cho học sinh
các HS lớp 8 có phẩy trung bình cuối năm cao hơn các lớp còn lại. Lớp 9
5
có
những thuận lợi và khó khăn:
Thuận lợi:
- Được sự quan tâm của nhà trường nên lớp sớm ổn định tình hình học tập
ngay từ đầu.
- Được sự quan tâm của gia đình nên đa số các em ngoan, biết vâng lời
thầy cô, cha mẹ.
- Phần nhiều các em có ý thức học tập và tự quản tốt.
Khó khăn:
Là con, em mới nhập cư từ nhiều địa phương, hội tụ đủ các vùng miền,
các em chưa hòa nhập được, trình độ HS không đồng đều, mức độ tiếp thu khá
chênh lệnh.
* Đối với học sinh năm học 2009 – 2010:
Tôi được phân công chủ nhiệm lớp 9
1
, là một tập thể gồm đủ bốn loại học
lực: Giỏi, Khá, TB, Yếu ( HS lưu ban). Trong đó HS khá, giỏi bằng với HS yếu.
Do đó có những thuận lợi và khó khăn như sau:
Thuận lợi:
- Bản thân tôi đã nhiều năm chủ nhiệm lớp phần nào cũng hiểu được tâm
nhiên. Nếu không hiểu được đặc điểm, trình độ, diễn biến trong quá trình giáo
dục, tự rèn luyện của HS thì không thể giáo dục được các em, không thể có sự
định hướng kịp thời quá trình tự rèn luyện của học sinh. Vì lẽ đó, một trường
học bao giờ HS cũng được chia thành các khối nhỏ (lớp học) căn cứ vào trình
độ, đặc điểm nhận thức ở mỗi lớp phải có một GV phụ trách chung - GVCN lớp.
Đứng trước một tình trạng tập thể lớp như trên mà đây lại là lớp cuối cấp
thì chúng ta phải làm gì, tôi suy nghĩ và đề ra kế hoạch trong việc hình thành ý
thức học tập và tự quản của các em như sau :
1.1. Nắm vững chức năng, vai trò và nhiệm vụ của giáo viên chủ
nhiệm lớp
- GVCN lớp, trước hết phải quản lý toàn diện lớp học, quản lý HS lớp học
và cần nắm vững:
Người thực hiện : Hồ Trang 17
Vai trò của Giáo Viên Chủ Nhiệm trong việc hình thành ý thức học tập cho học sinh
+ Hoàn cảnh và những thay đổi, những tác động của gia đình đến HS lớp
chủ nhiệm.
+ Hiểu biết đặc điểm của từng em HS (về sức khỏe, sinh lý, trình độ nhận
thức, năng lực hoạt động, năng khiếu, sở thích, nguyện vọng, quan hệ xã hội,
bạn bè, ).
+ Nắm vững mục tiêu, chương trình, nội dung giáo dục cấp học, lớp học
và khả năng thực hiện, kết quả của lớp phụ trách so với mục tiêu giáo dục về
mọi mặt (học tập, rèn luyện đạo đức, thể dục thể thao, văn nghệ và các hoạt
động khác,…) đồng thời nắm vững hoàn cảnh của từng em để kết hợp giáo dục.
- GVCN là cầu nối giữa hiệu trưởng (Ban giám hiệu), giữa các tổ chức
trong trường, giữa các GVBM với tập thể HS lớp chủ nhiệm. Nói một cách
khác, GVCN là người đại diện hai phía, một mặt đại diện cho các lực lượng giáo
dục của nhà trường, mặt khác đại diện cho tập thể học sinh. Với tư cách là nhà
sư phạm (đại diện cho tập thể các nhà sư phạm), GVCN có trách nhiệm truyền
đạt tới HS của lớp chủ nhiệm tất cả yêu cầu, kế hoạch giáo dục của nhà trường
điều khiển.
+ Vai trò cố vấn của GVCN đối với HS phải quán triệt được toàn diện nội
dung giáo dục, kế hoạch hoạt động của cá nhân và tập thể lớp chủ nhiệm bao
gồm từ việc học tập, rèn luyện đạo đức, văn hóa, thể dục thể thao, sinh hoạt tập
thể, hoạt động chính trị xã hội, quan hệ giao tiếp…diễn ra trong nhà trường và
ngoài xã hội. GVCN cần tư vấn trong quan hệ ứng xử xã hội, gia đình, cộng
đồng và trong tình bạn, tình yêu, định hướng nghề nghiệp, việc làm của HS, đặc
biệt đối với các lớp cuối cấp.
+ GVCN phối hợp các lực lượng xã hội nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục
của lớp chủ nhiệm. Vì hiệu quả của tổ chức giáo dục HS lớp chủ nhiệm phụ
thuộc không nhỏ vào khả năng liên kết các lực lượng xã hội, phát huy tiềm năng
của xã hội về mọi mặt đối với công tác giáo dục.
+ Căn cứ vào đặc điểm, điều kiện của lớp, của nhà trường, cộng đồng, gia
đình học sinh… GVCN tổ chức phối hợp với các lực lượng xã hội nhằm tạo ra
sự thống nhất, có tác dụng đặc biệt quan trọng.
Người thực hiện : Hồ Trang 19
Vai trò của Giáo Viên Chủ Nhiệm trong việc hình thành ý thức học tập cho học sinh
+ Phối hợp các lực lượng xã hội không chỉ dừng ở nhận thức, mà quan
trọng hơn cả là xây dựng được chương trình kế hoạch hoạt động nhằm thống
nhất, khép kín quá trình hoạt động, không gian, thời gian tác động đến HS của
lớp chủ nhiệm.
1.2. Cần nắm vững nội dung công tác chủ nhiệm
Nội dung công tác của người GVCN lớp bao gồm:
+ Nghiên cứu nắm vững đường lối quan điểm, lí luận giáo dục để vận
dụng vào công tác chủ nhiệm lớp. Đặc biệt cần nắm vững phương pháp, nghệ
thuật sư phạm. Ví dụ: các yếu tố ảnh hưởng tới sự hình thành nhân cách, vai trò
của giáo dục, hoạt động. Mối quan hệ giữa thầy giáo và học sinh, các phương
pháp tác động song song, tác động tay đôi, bùng nổ sư phạm… Đó là những lí
luận GVCN cần phải hiểu.
tập, hoạt động. Lưu ý tới tính cách, phẩm chất đạo đức, quan hệ, cách ứng xử
của HS trong gia đình, ở trường, ở cộng đồng với bạn bè của các em.
+ Ở tuổi HS phổ thông, nhiều năng lực chưa được bộc lộ, nhất là năng lực
hoạt động xã hội, xu hướng nghề nghiệp. Do đó, GVCN phải biết tổ chức hoạt
động cho HS lớp chủ nhiệm có mục đích giáo dục.
+ Muốn hiểu biết tâm lí HS lớp chủ nhiệm, GV cần quan sát vào hoạt
động thực tế của HS ở lớp học, cộng đồng, và gia đình… Cần trao đổi với gia
đình, bạn bè và những người có quan hệ với các em, hiểu biết các em ở cộng
đồng, đoàn thể trong và ngoài nhà trường. Nghiên cứu đặc điểm HS là một trong
những nội dung quan trọng đầu tiên của GVCN lớp vì chỉ trên cơ sở hiểu biết
từng em mới có khả năng phân loại nhóm HS theo các đặc điểm học lực, tính
cách, năng lực, hoàn cảnh….
+ Điều đặc biệt quan trọng đối với GVCN là bằng các phương pháp
nghiên cứu phân tích được nguyên nhân của các hiện trạng, đặc điểm của từng
học sinh. Ví dụ: đều là hiện tượng học kém nhưng có em do trí tuệ chậm phát
triển, có em do hoàn cảnh, điều kiện, có em do chi phối bởi các yếu tố khác,
phân tán tư tưởng. Cùng một hiện tượng HS hư (như ăn cắp, đánh nhau …) có
thể do hàng loạt nguyên nhân khác nhau. Chỉ trên cơ sở hiểu đặc điểm và
Người thực hiện : Hồ Trang 21
Vai trò của Giáo Viên Chủ Nhiệm trong việc hình thành ý thức học tập cho học sinh
nguyên nhân dẫn tới các đặc điểm, thì GVCN mới có giải pháp tác động giáo
dục phù hợp và hiệu quả.
+ Để nghiên cứu hiểu HS, GVCN nên có “nhật kí chủ nhiệm”. Nhật kí
chủ nhiệm khác với “sổ công tác chủ nhiệm”. Nhật kí chủ nhiệm để ghi về từng
học sinh, ưu nhược điểm, tính cách, sự tiến bộ, suy nghĩ, tình cảm của GVCN
đối với các em, những kỉ niệm, những hiện tượng của học sinh. Nhật kí chủ
nhiệm giúp GV có tư liệu về từng em một cách hệ thống. Nếu làm chủ nhiệm
của lớp học, nhật kí chủ nhiệm là nguồn tư liệu đánh giá khoa học về học sinh,
là tư liệu nghiên cứu về tâm lí học… Còn sổ công tác chủ nhiệm chỉ có tính chất
+ GVCN lớp phải củng cố bằng cả cuộc sống của bản thân, trong đó có
trình độ chuyên môn, tri thức, phương pháp giảng dạy, sự mẫu mực, tâm huyết
trong khi giảng dạy. Muốn giảng dạy tốt, không chỉ có tri thức, phương pháp mà
phải truyền đạt bằng cả nhiệt huyết của người GVCN với khẩu hiệu “Tận tâm,
tận tụy, tận lực, tất cả vì học sinh thân yêu”, “Mỗi thầy cô giáo là tấm gương về
đạo đức, tự học và sáng tạo”, phải tạo cho các em cảm thấy được học tập trong
môi trường “Trường học thân thiện, học sinh tích cực”, phải luôn quan niệm
rằng “Vì các em hôm nay là vì tương lai của dân tộc, đất nước ngày mai”.
+ Để làm tốt công tác chủ nhiệm, GVCN phải đặt kế hoạch tự hoàn thiện
bản thân về mọi mặt; đó là:
* Không ngừng nâng cao trình độ học vấn, văn hóa chung.
* Luôn chú ý nâng cao trình độ chuyên môn, phương pháp giảng dạy,
giáo dục HS.
* Luôn rèn luyện đạo đức, tác phong cho HS.
* Trao đổi kinh nghiệm, lý luận sư phạm với đồng nghiệp.
* Mẫu mực trong giao tiếp xã hội, đồng nghiệp, thầy trò.
* Xây dựng gia đình hạnh phúc, văn hóa, văn minh.
1.3. Phải nắm vững phương pháp tác động cá biệt và giáo dục tập thể
- Người GVCN nắm vững vận dụng mọi phương pháp giáo dục cá biệt,
phương pháp giáo dục tập thể và biết kết hợp chúng trong hoàn cảnh cụ thể.
Phương pháp giáo dục cá biệt ở đây không nên hiểu là giáo dục HS đặc biệt (hư,
ngoan) như quan niệm thường thấy ở một số người.
- Cần hiểu phương pháp giáo dục cá biệt là sự tác động tới từng cá nhân
một cách chuyên biệt để đảm bảo tính phù hợp với đối tượng. Ví dụ: Cùng một
Người thực hiện : Hồ Trang 23
Vai trò của Giáo Viên Chủ Nhiệm trong việc hình thành ý thức học tập cho học sinh
biểu hiện không thuộc bài như nhau, nhưng có em phải phê bình nghiêm khắc,
có em thì nhắc nhẹ, có khi chỉ nhắc chung hoặc có khi nhắc trực tiếp, có khi
thông qua bạn bè, gia đình tập thể…
của các em như sau:
- Kết quả năm học trước của lớp 9
1
năm học 2008–2009:
Học lực Giỏi Khá TB Yếu
36 HS 1 14 21 0
Hạnh kiểm Tốt Khá TB Yếu
36 HS 27 6 3 0
- Kết quả năm học trước của lớp 9
1
năm học 2009–2010 :
Học lực Giỏi Khá TB Yếu
39 HS 2 5 26 6
Hạnh kiểm Tốt Khá TB Yếu
39 HS 24 10 5 0
2.2. Nắm lý lịch của từng học sinh
Tập thể lớp bao gồm nhiều thành viên, mỗi thành viên một hoàn cảnh
riêng nếu tìm hiểu rõ sẽ tạo nhiều thuận lợi cho việc hướng dẫn HS đi theo đúng
mục đích mong muốn của GVCN.Vì lẽ đó, ngay từ giờ sinh họat chủ nhiệm đầu
tiên tôi tiến hành phát tờ khai sơ yếu lí lịch cho HS:
Mẫu sơ yếu lý lịch:
SỞ GD & ĐT BÌNH DƯƠNG CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TRƯỜNG THPT TRẦN VĂN ƠN Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc
PHIẾU LÝ LỊCH HỌC SINH NĂM HỌC :
LỚP: 9
- Họ tên HS (Viết chữ in Hoa) : ………………………… Nam , Nữ
- Ngày, tháng, năm sinh (Đúng Khai sinh) : … /… /……
- Nơi Sinh (Huyện -Tỉnh. Đúng với giấy khai sinh):……………………………
- Dân tộc (Kinh,Hoa,Thái,Tày, Mường …): ……………