1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội được Đại hội VII của Đảng thông qua đã xác định: "Đảng lấy chủ nghĩa
Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam
cho hành động,...". Kết luận này được rút ra từ kết quả tổng kết thực tiễn sáu
mươi năm thực hiện Chính cương vắn tắt, Luận cương năm 1930 của Đảng.
Nhưng, theo Lênin, sợi chỉ đỏ của toàn bộ chủ nghĩa Mác chính là phép biện
chứng duy vật - khoa học phản ánh đúng đắn biện chứng khách quan của sự
vật, hiện tượng. Hoạt động của con người chỉ có kết quả, khi lấy biện chứng
khách quan của sự vật, hiện tượng làm điểm xuất phát.
Đảng Cộng sản Việt Nam luôn luôn vận dụng sáng tạo phép biện chứng
duy vật, và do đó, đã góp phần xây dựng một cách đúng đắn các đường lối,
nghị quyết phát triển đất nước. Thực tiễn những thành quả vĩ đại của cách
mạng nước ta do Đảng lãnh đạo đã chứng minh điều đó. Tuy nhiên, trong quá
trình lãnh đạo cách mạng, đã có lúc Đảng ta chưa thực sự quán triệt phép biện
chứng duy vật, gây hậu quả cho sự phát triển của đất nước. Đã có lúc Đảng ta
mắc phải bệnh giáo điều, kinh nghiệm, chủ quan duy ý chí, coi thường các
quy luật khách quan của sự phát triển xã hội trong quá trình hoạch định cũng
như chỉ đạo đường lối phát triển đất nước.
Sự nghiệp đổi mới của chúng ta đang diễn ra trong những điều kiện
mới chưa từng có trong lịch sử nhân loại, chúng ta đang thực sự phải nhận
thức và giải quyết nhiều vấn đề phức tạp nhất trong lịch sử không chỉ ở nước
ta, mà mang tính quốc tế của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Thật vậy, đường lối cách mạng của nước ta trước hết phải xuất phát từ
hiện thực đất nước và thời đại; mặt khác, phải dựa trên nền tảng tư tưởng là
3
dân chủ xã hội chủ nghĩa lại đang dựa trên nền kinh tế hàng hóa nhiều thành
phần với cơ cấu giai cấp - xã hội, cơ cấu lợi ích ngày càng đa dạng, phong phú,
trong đó không chỉ có khác nhau, có cả mâu thuẫn, thậm chí mâu thuẫn đối
kháng. Mục tiêu cuộc cách mạng mà chúng ta đang thực hiện là hình thành một
xã hội có đầy đủ những nhân tố bảo đảm thực hiện trong thực tế lý tưởng: "Dân
giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh", thì hiện thực đất nước
vẫn thuộc nhóm quốc gia nghèo nhất thế giới; sự phân cực xã hội ngày một gia
tăng; tình trạng quan liêu - tham nhũng còn quá nặng nề; một bộ phận cán bộ,
đảng viên thoái hóa, biến chất, phai nhạt lý tưởng, cơ hội về chính trị. Trong khi
xem nội lực là chính thì chất lượng đào tạo con người đang xuống cấp đến mức
báo động, nguồn lực con người chưa có điều kiện thuận lợi để phát huy...
Xét từ phương diện thứ hai, mặc dù nhận thức của chúng ta về chủ
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh ngày càng đúng đắn hơn, nhưng
không chỉ khuynh hướng phủ nhận một số giá trị của di sản kinh điển đó, mà
cả sự xa rời, cả sự giáo điều hóa cũng chưa bị đẩy lùi; năng lực nhận thức và
vận dụng sáng tạo di sản đó còn xa so với nhu cầu thực tiễn đổi mới. Hơn
nữa, ngày nay chúng ta đang phải giải quyết nhiều vấn đề mà đương thời các
nhà kinh điển mácxít chưa gặp phải.
Thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội trong những năm vừa qua lại làm
nảy sinh hàng loạt vấn đề cần được giải đáp về mặt lý luận mà không có sẵn
lời giải đáp từ di sản lý luận của các nhà kinh điển. Phải xây dựng chế độ
công hữu như thế nào; với những hình thức và bước đi thế nào để tạo nên sự
thống nhất hữu cơ giữa sở hữu xã hội với sở hữu cá nhân người lao động?
Hoặc vấn đề nhà nước phải thực hiện kế hoạch hóa như thế nào để ngăn ngừa
tình trạng tập trung quan liêu đang có xu thế quay trở lại? ...
Quá trình lãnh đạo sự nghiệp đổi mới trong những năm qua, sự vận
quán triệt phép biện chứng duy vật, là một trong những điều kiện quan trọng
góp phần vào thành công của sự nghiệp đổi mới.
5
Từ trình bày trên cho thấy, việc vận dụng có hiệu quả phép biện chứng
duy vật để nhận thức đúng hiện thực khách quan vốn đã biện chứng lại đang ở
giai đoạn tính biện chứng đó bộc lộ ở mức phức tạp chưa từng có trong lịch
sử trở thành rất bức thiết. Việc nhận thức và phát triển sáng tạo di sản kinh
điển mácxít, làm giàu có thêm tiềm năng của phép biện chứng duy vật - một
bộ phận cốt lõi của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và vận
dụng sáng tạo phương pháp luận đó nhằm đưa công cuộc đổi mới tiếp tục tiến
lên trở thành một vấn đề bức xúc hơn lúc nào hết.
Thực tiễn đã xác nhận, khi nào Đảng ta nâng cao hiệu quả vận dụng
những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin nói chung và phép biện chứng
duy vật nói riêng thì khi đó cách mạng nước ta giành được thắng lợi to lớn.
Ngược lại, khi nào phép biện chứng duy vật không được vận dụng triệt để,
sáng tạo trong việc đề ra các quyết định chính trị và trong chỉ đạo thực hiện
các quyết định đó thì thành quả của cách mạng bị hạn chế.
Thực tiễn đang tiếp tục đặt ra cho giới lý luận vấn đề hết sức cấp bách,
đó là đi sâu hơn nữa trong việc tìm tòi, tiếp thu di sản các nhà kinh điển của
chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, trong đó hạt nhân là phép biện
chứng duy vật, đồng thời phát triển sáng tạo nó trong điều kiện mới của thời
đại nói chung và của Việt Nam nói riêng, nhằm làm luận cứ cho Đảng ta
trong hoạch định và tổ chức thực hiện đường lối đổi mới đất nước. Do đó,
việc nhận thức sâu sắc phép biện chứng duy vật cũng như hoạt động vận dụng
sáng tạo phép biện chứng đó là một trong những điều kiện quan trọng để
Đảng lãnh đạo thành công sự nghiệp đổi mới đất nước.
Xuất phát từ những nhận thức trên đây, chúng tôi chọn vấn đề: "Sự vận
thì còn ít công trình đề cập một cách có hệ thống. Do đó, luận án sẽ cố gắng
trình bày tương đối có hệ thống vai trò của phép biện chứng duy vật trong việc
hoạch định và tổ chức thực hiện đường lối, nghị quyết của Đảng. Đồng thời,
trình bày thực trạng vận dụng phép biện chứng duy vật của Đảng ta trong hơn 15
8
năm đổi mới vừa qua và bước đầu nêu lên những giải pháp nhằm nâng cao hiệu
quả vận dụng phép biện chứng duy vật, đáp ứng sự phát triển của đất nước.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận án
Trên cơ sở làm rõ vai trò của phép biện chứng duy vật trong việc xây
dựng và triển khai đường lối của Đảng ta, những ưu điểm và khuyết điểm về
việc vận dụng phép biện chứng duy vật trong những năm đổi mới vừa qua,
luận án trình bày một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả của việc vận
dụng phép biện chứng duy vật trong giai đoạn đổi mới hiện nay.
Để thực hiện được mục đích trên, luận án giải quyết những nhiệm vụ sau:
- Vai trò của phép biện chứng duy vật trong việc xây dựng và tổ chức
thực hiện đường lối, nghị quyết của Đảng.
- Những kết quả và hạn chế trong việc vận dụng phép biện chứng duy
vật trong hơn 15 năm đổi mới vừa qua.
- Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả vận dụng
phép biện chứng duy vật trong việc hoàn thiện đường lối đổi mới và chỉ đạo
thực hiện đường lối đó.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận của luận án là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa
duy vật lịch sử, các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, của Hồ Chí Minh
về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.
- Luận án sử dụng các phương pháp phân tích và tổng hợp, lôgíc và lịch
sử, kết hợp gắn lý luận với thực tiễn để làm rõ các luận cứ lý luận, thực tiễn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận án
gồm 3 chương, 10 tiết.
10
Chương 1
VAI TRÒ CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT
TRONG VIỆC XÂY DỰNG VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN
ĐƯỜNG LỐI, NGHỊ QUYẾT CỦA ĐẢNG
Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng,
kim chỉ nam cho toàn bộ hoạt động của Đảng, của dân tộc ta. Nhưng, theo
Lênin, sợi chỉ đỏ của toàn bộ chủ nghĩa Mác chính là phép biện chứng duy
vật với tư cách là khoa học phản ánh đúng đắn biện chứng khách quan của tự
nhiên, xã hội và tư duy. Sự vận động và phát triển của bản thân các sự vật và
hiện tượng - trong đó có chính trị, khi nói tới xã hội có giai cấp - do biện
chứng khách quan của bản thân các sự vật, hiện tượng đó quy định. Hoạt
động của con người - trong đó có hoạt động chính trị- chỉ có kết quả, khi lấy
biện chứng khách quan của sự vật và hiện tượng làm điểm xuất phát.
Vận dụng quan điểm lý luận chung đó vào luận án này, có thể khẳng
định rằng, các đường lối, nghị quyết của Đảng chỉ được xem là đúng và nhờ
vậy có khả năng được tổ chức thực hiện có hiệu quả nhằm thúc đẩy sự phát
triển tiến bộ xã hội, khi các đường lối, nghị quyết đó là kết tinh của việc phản
ánh đúng đắn biện chứng khách quan của sự phát triển xã hội. Muốn vậy, việc
quán triệt những quan điểm cơ bản của phép biện chứng duy vật trong việc
xây dựng và tổ chức thực hiện các đường lối, nghị quyết của Đảng là một
trong những điều kiện hết sức quan trọng. Khi giải thích vì sao Mác và Ăngghen
đã đưa ra được những đường lối chiến lược cách mạng đúng đắn cho phong
trào vô sản quốc tế, Lênin giải thích rằng đó chính là vì hai ông đã "vận dụng
rồi mất đi. Nhưng cách nhìn ấy vẫn không đủ để giải thích những chi tiết hợp
thành bức tranh toàn bộ.
Sau này, nhờ vào phương pháp phân tích để khám phá các bộ phận
khác nhau của thế giới, trong khi khắc phục được một phần nào đó hạn chế
của phép biện chứng chất phác cổ đại thì người ta lại rơi vào khuynh hướng
tuyệt đối hóa phương pháp phân tích trong nhận thức thế giới. Từ đó ra đời
12
phương pháp tư duy siêu hình - một phương pháp mang tính đặc thù của
những thế kỷ XVI, XVIII.
Từ giữa thế kỷ XVIII trở đi, những thành quả của khoa học tự nhiên
mang lại đã chứng minh rằng, tự nó, thế giới vốn tồn tại một cách biện chứng.
Quan điểm siêu hình đã bị khoa học tự nhiên phủ định. Nhưng sự phủ định quan
điểm siêu hình lúc này lại dẫn tới sự mở đầu và sự xác lập của phép biện chứng
duy tâm mà đỉnh cao là phép biện chứng duy tâm khách quan của Hêghen.
Theo Hêghen, giới tự nhiên và xã hội loài người chỉ là sự tồn tại khác
của "ý niệm", do sự tha hóa của ý niệm mà thành. Ý niệm luôn luôn vận động
và phát triển không ngừng. Thừa nhận sự phát triển (mặc dù sự phát triển theo
Hêghen là sự phát triển của ý niệm) - đó là đóng góp to lớn của Hêghen trong
lịch sử triết học. Song do bị chi phối bởi chủ nghĩa duy tâm khách quan,
Hêghen đã rút ra kết luận hoàn toàn sai lầm: biện chứng của ý niệm quy định
biện chứng của các sự vật và hiện tượng. Và như vậy, đó là phép biện chứng
"lộn đầu xuống đất" và do đó, không thể dùng được.
Kế thừa có chọn lọc những thành quả của các nhà triết học tiền bối
trong lịch sử, mà trực tiếp nhất là phép biện chứng của Hêghen và quan điểm
duy vật của Phoiơbắc; dựa trên sự khái quát những thành quả mới nhất của khoa
học đương thời cũng như thực tiễn lịch sử loài người, vào giữa thế kỷ XIX,
C.Mác và Ph.Ăngghen đã sáng lập ra triết học duy vật biện chứng, trong đó
quan duy vật và phép biện chứng. Nếu như phép biện chứng chất phác thời cổ
đại đã có sự gắn bó giữa thế giới quan duy vật và phép biện chứng nhưng chỉ
là sự gắn bó ở trình độ thấp, trực quan, cảm tính chứ chưa đi vào bản chất của
thế giới; còn phép biện chứng của Hêghen là phép biện chứng dựa trên cơ sở
thế giới quan duy tâm, thì phép biện chứng mácxít có sự thống nhất hữu cơ
giữa thế giới quan duy vật và pháp biện chứng trên cơ sở căn cứ khoa học
vững chắc.
Thứ hai, phép biện chứng duy vật có tính phê phán. Bản thân học thuyết
của chủ nghĩa Mác trong đó có phép biện chứng duy vật là hệ thống lý luận
14
có tính phê phán. Nó phê phán những hạn chế, sai lầm của phương pháp tư
duy siêu hình, của các phép biện chứng đã có trong lịch sử, và do đó, trở
thành khoa học và cách mạng. Đồng thời, phép biện chứng duy vật luôn luôn
có sự phê phán chính mình. Nếu như Hêghen coi sự phát triển có tính giới
hạn, ví như nhà nước Phổ là giới hạn cuối cùng của sự hoàn thiện, cũng như
hệ thống triết học của ông là một hệ thống đã được hoàn tất, thì ngược lại, các
nhà sáng lập phép biện chứng duy vật đã nhiều lần nhấn mạnh rằng, phép biện
chứng của các ông là một hệ thống mở chứ không phải một cái gì đã hoàn bị,
nhất thành bất biến. Chính bản chất cách mạng của phép biện chứng duy vật
đã đặt ra yêu cầu phép biện chứng duy vật phải thường xuyên được phê phán
nhằm bổ sung, điều chỉnh cùng với sự phát triển của thời đại.
Thứ ba, phép biện chứng duy vật có sự thống nhất giữa tính khoa học
và tính cách mạng. Phép biện chứng chất phác thời cổ đại tuy có những đóng
góp nhất định, nhưng do những hạn chế của mình nên chưa thực sự có tính
khoa học và tính cách mạng; còn phép biện chứng của Hêghen đã phản ánh
sai lệch bản chất của thế giới cũng như quy luật vận động, phát triển của nó.
Ngược lại, phép biện chứng duy vật là phép biện chứng phản ánh đúng đắn,
liên hệ đang diễn ra trên cơ sở của thực tiễn; trong tính lịch sử cụ thể của vấn đề.
Với tư cách là nguyên tắc phương pháp luận trong hoạt động thực tiễn,
nguyên lý về mối liên hệ phổ biến đòi hỏi để cải tạo sự vật, chúng ta phải bằng
hoạt động thực tiễn của mình, hiện thực hóa bằng nhiều biện pháp, nhiều
phương tiện khác nhau Thứ hai, tự nhiên ở trong trạng thái vận động không
ngừng, biến hóa và đổi mới, trong đó luôn luôn có những sự vật, hiện tượng
đang chết đi và biến đi, thì đồng thời, lại có những sự vật, hiện tượng khác
phát sinh và phát triển; tất cả đều vận động và biến hóa. Vì vậy, nguyên lý thế
giới quan này đặt ra yêu cầu về mặt phương pháp luận là, muốn nắm bắt đúng
đắn khuynh hướng vận động, biến đổi và phát triển của sự vật, hiện tượng thì
trong nhận thức và hoạt động thực tiễn phải có quan điểm "phát triển". Điều
đó có nghĩa là, khi xem xét các sự vật, hiện tượng, phải đặt nó trong sự vận
động, sự phát triển, phải phát hiện ra các xu hướng biến đổi, chuyển hóa của
16
chúng. Liên quan đến vấn đề này, V.I.Lênin cho rằng, lôgíc biện chứng đòi
hỏi phải xét sự vật trong sự phát triển, trong sự tự thân vận động (...) trong sự
biến đổi của nó.
Quan điểm phát triển với tư cách là nguyên tắc phương pháp luận để
nhận thức sự vật cũng hoàn toàn đối lập với quan điểm bảo thủ, trì trệ, định
kiến. Hơn nữa, quan điểm phát triển cũng đòi hỏi không chỉ thấy sự vật như là
cái đang có, mà còn phải nắm được khuynh hướng phát triển trong tương lai
của nó. Sự phát triển của các sự vật và hiện tượng trong thực tiễn là một quá
trình biện chứng đầy mâu thuẫn. Do vậy, quan điểm phát triển được vận dụng
vào quá trình nhận thức cũng đòi hỏi chúng ta phải thấy được tính quanh co,
phức tạp của quá trình phát triển như là một hiện tượng phổ biến.
Vận dụng quan điểm phát triển với tư cách là nguyên tắc phương pháp
luận của hoạt động thực tiễn nhằm thúc đẩy sự vật phát triển theo quy định vốn
- Nhờ có phép biện chứng duy vật, khi tiến hành nghiên cứu và hoạt
động thực tiễn, con người có thể dự đoán được những hình thái và xu hướng
vận động cơ bản của đối tượng; có thể xác định được những nét khái quát,
những mốc, những bước ngoặt cơ bản mà hoạt động nhận thức cũng như hoạt
động thực tiễn phải trải qua.
- Phép biện chứng duy vật giúp con người trong khi tiến hành hoạt
động nhận thức và cải tạo hiện thực tránh được tình trạng mò mẫm, lầm lạc,
không có lý luận, phương pháp luận dẫn đường. Giá trị định hướng của phép
biện chứng duy vật còn được thể hiện ở việc lựa chọn các hình thức, phương
thức tiến hành, đồng thời có khả năng đưa ra được những dự kiến, những tình
huống cũng như những phương pháp tương ứng cho việc giải quyết các vấn
đề được quan tâm
- Phép biện chứng duy vật giúp chúng ta phát hiện những vấn đề mới
nảy sinh trong quá trình nghiên cứu và lý giải được một cách khoa học những
hiện tượng mới trong thực tiễn cuộc sống. Bởi vì, thế giới là vô cùng, vô tận
18
và do đó, càng đi sâu vào nghiên cứu các đối tượng khác nhau của thế giới,
càng cần phải có thế giới quan triết học khoa học, trong đó phép biện chứng
duy vật giữ vị trí hàng đầu.
Ngày nay, hơn bao giờ hết, phép biện chứng duy vật vẫn là phương
pháp luận của việc xây dựng các lý thuyết khoa học và tìm kiếm các thành tựu
khoa học mới cũng như giải quyết những vấn đề mới của sự biến đổi, phát
triển tất yếu đang diễn ra trong xã hội loài người.
Chúng ta cần lưu ý rằng, cũng như bất kỳ môn khoa học nào, lý luận
của phép biện chứng duy vật không phải là hệ thống giáo điều, bất biến, mà là
hệ thống tri thức không ngừng phát triển và do đó, nó đòi hỏi phải được bổ sung
và hoàn thiện hơn nữa trong quá trình nhận thức và hoạt động thực tiễn của loài
đấu tranh giai cấp của giai cấp công nhân, của chính đảng thuộc giai cấp đó
và của các lực lượng cách mạng nói chung ở một giai đoạn lịch sử tương đối
dài.
Đường lối cũng chỉ ra những kẻ thù chủ yếu, những người bạn đồng
minh của giai cấp vô sản trong cuộc đấu tranh để đạt được mục tiêu. Nó cũng
chỉ ra những động lực, những hình thức, những phương tiện chủ yếu để đạt
được những mục tiêu chiến lược của giai đoạn chiến lược cách mạng.
Độ dài lịch sử của đường lối cũng có thể rất khác nhau. Chẳng hạn, đường
lối cách mạng dân tộc dân chủ do Đảng ta đề xướng bao quát một thời kỳ lịch
sử từ năm 1930 đến năm 1954 đối với miền Bắc, từ năm 1930 đến 30-4-1975
đối với miền Nam. Nhưng cũng có thể có đường lối cho một giai đoạn cách
mạng cụ thể. Chẳng hạn, trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội có thể có
đường lối chung cho toàn bộ quá trình cách mạng xã hội chủ nghĩa, cũng có
thể có đường lối cho từng giai đoạn ứng với nhiệm kỳ của từng Đại hội Đảng.
Các đường lối có tính giai đoạn như vậy là sự vận dụng, sự cụ thể hóa
đường lối chung của toàn bộ quá trình cách mạng xã hội chủ nghĩa, nhưng
chúng cũng có thể là sự phát triển căn bản đường lối chung đó cho phù hợp
với những điều kiện lịch sử khách quan đã thay đổi, cũng như với những nhận
20
thức mới có tính bước ngoặt đối với tiến trình cách mạng. Song, dù độ dài ngắn
có khác nhau, nhưng mọi đường lối của Đảng đều đề cập tới những mục tiêu,
nhiệm vụ có tính chiến lược cho từng giai đoạn cách mạng, nó bao quát toàn
diện tất cả các mặt của cuộc đấu tranh, nó có ý nghĩa trong phạm vi cả nước.
Còn nghị quyết, ở cấp Trung ương, là văn kiện cô đúc về nhận định
tình hình, quyết định chủ trương, quan điểm, chính sách và giải pháp lớn về
một hoặc nhiều lĩnh vực công tác của Đảng; ở cấp đảng bộ các ngành, các
địa phương..., nó là sự cụ thể hóa nghị quyết của Trung ương hay của đảng ủy
được triển vọng biến đổi và phát triển của nó. Không tính đến điều đó, rất có
thể có nghị quyết chỉ đúng cho trước mắt, nhưng lại có hại cho tương lai.
Điều đó giải thích vì sao Đảng ta đã nhiều lần lưu ý rằng, quá trình thực hiện
đường lối đổi mới phải quan tâm dự báo tình hình, kịp thời phát hiện và giải
quyết đúng đắn những vấn đề mới nảy sinh. Một chủ trương, một chính sách,
một biện pháp dù là đúng đắn, trong quá trình thực hiện cũng nhất định nảy
sinh những vấn đề mới, những thuận lợi và khó khăn mới. Cho nên, đường
lối, nghị quyết của Đảng cần dự kiến trước để chủ động ngăn ngừa, giải
quyết.
Phạm vi tác động trực tiếp của nghị quyết là có hạn. Nhưng ảnh hưởng
của nó thường vượt ra ngoài giới hạn đó. Do vậy, một nghị quyết có thể đúng
cho bộ phận, nhưng có thể mang lại hậu quả tiêu cực cho toàn thể. Trong
trường hợp đó, các nghị quyết ấy đã sai ngay từ đầu. Do vậy, để có nghị quyết
đúng, phải chống tư tưởng cục bộ, phải đặt vấn đề cục bộ trong mối tương
quan với toàn cục. Nói cách khác, một nghị quyết đúng phải là kết quả phản
ánh chính xác trạng thái hiện tồn của sự vật lẫn triển vọng của nó; trong khi
thúc đẩy sự phát triển của bộ phận, nghị quyết đó phải có tác động tích cực
đến toàn bộ. Ở đây, nguyên tắc tính toàn diện là yêu cầu không thể thiếu được
khi thông qua một nghị quyết của cấp ủy đảng các cấp.
22
Một đường lối, nghị quyết có khả năng thực hiện được hay không, điều
đó tùy thuộc có tính quyết định vào sự đồng tình của nhân dân khi tiếp nhận
nghị quyết.
Với tư cách là một phạm trù tư tưởng, "đồng tình" lại do mối quan hệ
lợi ích quy định. "Lý tưởng mà xa rời lợi ích, thì lý tưởng tự bôi nhọ mặt
mình" (Mác). Đường lối, nghị quyết dù có hay đến mấy, có vẽ ra một triển
vọng huy hoàng bao nhiêu, mà không thể hiện được lợi ích chính đáng của
Con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội, như Lê-nin nói, không bao giờ
thẳng tắp như đại lộ Nép-xki. Trái lại, trên đường đi tới đích, cách mạng phải
không ngừng đấu tranh với vô vàn những khó khăn khách quan và chủ quan,
phải khắc phục những cản trở từ bên ngoài lẫn những yếu kém từ bên trong
của chính lực lượng đang tiến hành cách mạng. Do vậy, nghị quyết của Đảng
phải làm sao phát huy được tinh thần cách mạng tiến công, tinh thần tự lực tự
cường của nhân dân. Đảng lãnh đạo chính quyền không chỉ cần động viên
nhân dân bằng một triển vọng huy hoàng mà cách mạng sẽ mang lại, hay bằng
những thành công đã đạt được ngày hôm qua - đành rằng đó cũng là những
vấn đề rất cần thiết, mà còn phải làm cho nhân dân thấy cả những khó khăn
đang và sẽ phải nếm trải. Sự chuẩn bị đầy đủ về tư tưởng như vậy có ý nghĩa
quan trọng nhằm chống chủ nghĩa chủ quan - khi cách mạng mới giành được
thắng lợi, lẫn sự bi quan, thất vọng - khi cách mạng tạm thời gặp khó khăn.
Tùy theo phạm vi lãnh đạo, các nghị quyết của cấp ủy đảng khác nhau
có cấp độ bao quát khác nhau. Tính đúng đắn của nghị quyết, do đó, cũng
được đo bằng mức độ phù hợp với khuôn khổ sự vật mà nghị quyết tác động.
Mặc dù vậy, trong bất kỳ trường hợp nào, một khi nghị quyết của tổ chức
đảng cấp trên đã được xác định đúng đắn, nghị quyết của tổ chức đảng cấp
dưới
dứt khoát không được đối lập lại, vì điều đó sẽ làm tiêu tan hiệu lực của nghị
quyết cấp trên. Đó cũng là một nội dung của nguyên tắc tập trung dân chủ một quy luật tồn tại và phát triển quan trọng nhất của chính đảng Mác - Lênin.
24
1.2.2. Quán triệt những yêu cầu của phép biện chứng trong việc xây
dựng đường lối, nghị quyết
Xây dựng đường lối, nghị quyết là công việc gắn bó hữu cơ với chức
năng lãnh đạo của Đảng. Bởi vì, trong quá trình lãnh đạo nhằm cải biến xã hội
luôn xuất hiện những vấn đề mới mà cơ quan lãnh đạo cần giải quyết để thúc
như Lênin đã nói, "Điều kiện của một sự nhận thức về tất cả các quá trình của
thế giới trong sự "tự vận động" của chúng ta, trong sự phát triển tự phát của
chúng, trong đời sống sinh động của chúng là sự nhận thức chúng với tư cách
là sự thống nhất của các mặt đối lập" [77, tr. 379]. Điều khẳng định đó của
Lênin có ý nghĩa phương pháp luận đặc biệt quan trọng, khi chúng ta đặt vấn
đề làm sao nhận thức đúng trạng thái khách quan của xã hội ở từng nấc thang
phát triển tương ứng - cái tạo thành cơ sở chủ yếu nhất để đề ra đường lối,
chính sách được luận chứng một cách khoa học nhằm thúc đẩy sự phát triển
của đất nước nói chung, của các ngành, các địa phương nói riêng.
Mở rộng hơn nữa tư tưởng vừa nêu, Lênin cho rằng trong quá trình đưa
ra các quyết định chính trị, Đảng phải tính đến biện chứng khách quan của sự
vật. Về vấn đề này, Người viết: "Ở từng giai đoạn phát triển, trong từng lúc,
sách lược của giai cấp vô sản phải tính đến biện chứng khách quan" của xã
hội [83, tr. 92]. (Tác giả luận án nhấn mạnh).
Trong phép biện chứng, lý luận về sự thống nhất của các mặt đối lập là
hạt nhân của nó. "Tính biện chứng của sự phát triển xã hội, như Lênin đã
khẳng định, diễn ra trong mâu thuẫn và thông qua các mâu thuẫn" [71, tr. 77-78].
Nhận thức được những mâu thuẫn của xã hội, tìm ra những phương hướng
đúng đắn để giải quyết mâu thuẫn cũng như tổ chức hoạt động để giải quyết
các mâu thuẫn một cách thực tế tạo thành thực chất của mọi quyết định chính
trị và việc tổ chức thực hiện chúng trong quá trình các mạng xã hội chủ nghĩa
nói chung, quá trình đổi mới ở nước ta hiện nay nói riêng.