LUẬN ÁN TIẾN SỸ - SỰ VẬN DỤNG PHÉP BIỆN CHỨNG CỦA ĐẢNG TA TRONG SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI HIỆN NAY - Pdf 37

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xó hội được Đại hội VII của
Đảng thông qua đó xỏc định: “ Đảng lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền
tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động…”. Kết luận này được rút ra từ kết của tổng kết thực
tiễn sáu mươi năm thực hiện Chính cương vắn tắt, Luận cương năm 1930 của Đảng. Nhưng, theo
Lênin, sợi chỉ đỏ của toàn bộ chủ nghĩa Mác chính là phép biện chứng duy vật, hiện tượng khoa học
phản ánh đúng đắn biện chứng khách quan sự vật, hiện tượng. Hoạt động của con người chỉ có kết
quả, khi lấy biện chứng khách quan của sự vật hiện tượng làm điểm xuất phát.
Đảng cộng sản Việt Nam luôn luôn vận dụng sáng tạo phép biện chứng duy vật, và do đó, đó gúp
phần xây dựng một cách đúng đắn các đường lối, nghị quyết phát triển đất nước. Thực tiễn những
thành quả vĩ đại của cách mạng nước ta do Đảng lónh đạo đó chứng minh điều đó. Tuy nhiên, trong
quá trỡnh lónh đạo cách mạng, đó cú lỳc Đảng ta chưa thực sự quán triệt phép biện chứng duy vật,
gây hậu quả cho sự phát triển của đất nước. Đó cú lỳc Đảng ta mắc phải bệnh giáo điều, kinh
nghiệm, chủ quan duy ý chí, coi thường các quy luật khách quan của sự phát triển xó hội trong quỏ
trỡnh hoạch định cũng như chỉ đạo đường lối phát triển đất nước.
Sự nghiệp đổi mới của chúng ta diễn ra trong những điều kiện mới chưa từng có trong lịch sử
nhân loại, chúng ta đang thực sự phải nhận thức và giải quyết nhiều vấn đề nhất trong lịch sử không
chỉ ở nước ta, mà mang tính quốc tờ của quỏ trỡnh xõy dựng chủ nghĩa xó hội.
Thật vậy, đường lối cách mạng của nước ta trước hết phải xuất phát từ hiện thực đất nước và thời
đại; mặt khác, phải dựa trên nền tảng tư tưởng là chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, từ
những kinh nghiệm thành công của chúng ta và của thế giới…


Xét từ phương diện thứ nhất, hiện thực khách quan mà chúng ta lấy đó làm điểm xuất phát để đề
ra đường lối đổimới, hoàn thiện và triển khai thực hiện tự chúng ta đó hết sức biện chứng, đầy mâu
thuẫn. Chủ nghĩa xó hội với tư cách là cái mới tiêu biểu cho xu thế phát triển khách quan của nhân
loại lại đang trong cơn khủng hoảng và thoái trào. Chủ nghĩa tư bản đó lỗi thời trong lịch sử phỏt
triển của nhõn loại thỡ đang đứng ở tầm cao về kinh tế, khoa học-công nghệ, về thị trường và cũn
nhiều tiềm năng thích nghi để phát triển. Cuộc cách mạng khoa học công nghệ vừa mang lại cho
con người nhiều yếu tố thuận lợi cho việc nhận thức tự nhiên, cải tạo xó hội để ngày càng có sự

đang giải quyết nhiều vấn đề mà đương thời các nhà kinh điển Mác-xít chưa gặp phải.
Thực tiễn xõy dựng chủ nghĩa xó hội trong những năm qua lại làm nảy sinh hàng loạt vấn đề cần
giải đáp về mặt lý luận mà khụng cú sẵn lời giải đáp từ di sản lý luận của cỏc nhà kinh điển. Phải
xây dựng chế độ công hữu như thế nào; với những hỡnh thức và bước đi thế nào để tạo nên sự
thống nhất hữu cơ giữa sở hữu xó hội và sở hữu cỏ nhõn người lao động? Hoặc vấn đề nhà nước
phải thực hiện kế hoạch hoá như thế nào để ngăn ngừa tỡnh trạng tập trung quan liờu cú xu thế quay
trở lại…
Quỏ trỡnh lónh đạo sự đổi mới trong những năm qua, sự vận dụng phép biện chứng duy vật của
Đảng đó cú bước trưởng thành quan trọng, đó đóng góp to lớn việc hoạch định những vấn đề hệ
trọng của dân tộc.


Tuy nhiên, như thực tiễn đó chứng tỏ, bệnh chủ quan, duy ý chớ khụng những chưa được loại bỏ
mà cũn ngược lại, đôi lúc nơi này, nơi khác nổi trội bởi những quyết sách và những phương pháp
cũng mang tới nóng vội, thiếu cơ sở khoa học và lại được triển khai một cách vội vàng, thiếu cân
nhắc, gây hậu quả nghiêm trọng trong quá trỡnh phỏt triển kinh tế-xã hội. Những khuyết điểm đó là
hậu quả của bệnh chủ quan nhưng trong đó chủ yếu là sự yếu kém về lý luận của Đảng. Chúng ta
biết rằng, bệnh chủ quan trong tư duy chính trị và bệnh giáo điều trong công tác lý luận là trở lại
trực tiếp và chủ yếu đối với việc hoạch định và chỉ đạo những quyết định kinh tế, chính trị xó hội
của Đảng. Đến lượt mình, hoạt động hoạch định và chỉ đạo các quyết định chính trị của Đảng trở
thành một nguyên nhân chủ yếu dẫn đến những hạn chế, yếu kém về phát triển kinh tế-xó hội trong
thời gian đổi mới vừa qua.
Thực tiễn đổi mới thời gian qua cũng cho thấy sự cần thiết phải kiên quyết đấu tranh khắc phục
bệnh giáo điều. Cần nhấn mạnh rằng, trong lĩnh vực tư tưởng, khi chúng ta chưa khắc phục triệt để
được giáo điều cũ thỡ, lại phải đối mặt với khuynh hướng giáo điều mới. “ Trong Đảng vừa có
những biểu hiện bảo thủ, không chịu đổi mới, vừa có khuynh hướng đổi mới nóng vội, rập khuôn
cách làm của các nước…” [29.48]. Chúng ta không thể đổi mới thành công nếu rời xa lập trường
của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, rơi vào chủ nghĩa xét lại, bệnh giáo điều…
Như vậy, có thể nói, những vấn đề kinh tế, chính trị …nảy sinh trong quỏ trỡnh của đổi mới
không thể giải quyết chỉ bằng triết học, nhưng cũng không thể giải quyết thành công nếu thiếu tư


“ Phép biện chứng Mac-xít với tư cách là phương pháp luận khoa học phổ biến” của Plan-ton-lốp,
Nhà xuất bản Sự Thật, Hà Nội, 1982.
“Phương pháp nhận thức biện chứng” của A.D. Sép-tu-lin, Nhà xuất bản giáo khoa Mác-Lênin,
1997.
“Các biện chứng với tính cách là phương pháp luận của nhận thức khoa học” của Lê Hữu Tầng,
tạp chí triết học, 3/1980…v..v.
Trong những cụng trỡnh trờn, cỏc tỏc giả đó đạt được những kết quả trong việc khái quát nội
dung, thực chất của phộp biện chứng duy vật, vai trũ phương pháp luận phổ biến của nhận thức và
hoạt động thực tiễn.
Nhóm thứ hai, nghiên cứu từ những góc độ khác nhau: Vận dụng lý luận của phộp biện chứng
duy vật trong việc nghiờn cứu về thời kỳ quỏ độ, trong đổi mới ở Việt Nam.
Hoạt động nghiên cứu lý luận được đẩy mạnh từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI. Nhiều
hội thảo khoa học đề cập đến những vấn đề lý luận của chủ nghĩa Mỏc-Lờnin liờn quan đến công
cuộc đổi mới ở nước ta đó được triển khai. Chẳng hạn, năm 1988 có hội thảo mới về chủ để “ Đổi
mới tư duy lý luận dưới ánh sáng nghị quyết đại hội VI của Đảng ” tại Học Viện Nguyễn ái Quốc.
Hội nghị đó tập trung thảo luận nội dung đổi mới tư duy lý luận làm tiền đề cho sự nghiệp đổi mới.
“ Triết học với sự nghiệp đổi mới ” của tập thể tác giả : Phạm Thành, Lê Hữu Tầng, Hồ Văn
Thông, NXB Sự Thật, Hà Nội, 1990.
“ Một số vấn đề lý luận về thời kỳ quá độ ở Việt Nam ” của tập thể các tác giả, các nhà lónh đạo,
Nhà xuất bản Tư tưởng văn hoá, Hà Nội, 1991.
“ Những vấn đề lý luận cấp bách về chủ nghĩa xó hội ”, Nhà xuất bản Tư tưởng văn hoá, Hà
Nội,1991 của tập thể tác giả.


“ Thử vận dụng lý luận về mâu thuẫn trong thời kỳ quá độ ở nước ta ”, của Phạm Ngọc Quang,
Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội, 1991.
“ Về khả năng bỏ qua một số hỡnh thỏi kinh tế xó hội ”, trong tập “ Về sự phỏt triển của xó hội ta
hiện nay ” của Vũ Văn Viên, nhà xuất bản khoa học xó hội, Hà Nội,1991.
“ Sự chuyển đổi mô hỡnh kinh tế ở nước ta hiện nay và quan điểm của Mác về con đường đi lên

trong việc hoàn thiện đường lối đổi mới và chỉ đạo thực hiện đường lối đó.
4. Cơ sở lý luận và phương phỏp nghiờn cứu
-Cơ sở lý luận của luận ỏn là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, các
quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xó hội và con đường đi lên
chủ nghĩa xó hội.
-Luận án sử dụng các phương pháp phân tích và tổng hợp, lôgic và lịch sử, kết hợp gắn lý luận
với thực tiễn để làm rừ cỏc luận cứ lý luận, thực tiễn mà luận ỏn đặt ra.
5. Những đúng gúp mới của luận ỏn
Gúp phần làm rừ hơn vai trũ của phộp biện chứng duy vật trong việc xõy dựng và tổ chức thực
hiện cỏc Nghị quyết của Đảng. Trên cơ sở đó, từ giác độ phép biện chứng duy vật, khảo sát những
thành tựu và hạn chế của Đảng ta trong việc xây dựng và chỉ đạo thực hiện đường lối đổi mới trong


thời gian qua. Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của vận dụng phép biện chứng duy
vật trong hoạch định và chỉ đạo đường lối đổi mới hiện nay, góp phần đưa sự nghiệp đổi mới thành
công.
6. í nghĩa lý luận và thực tiễn của luận ỏn.
- Luận ỏn gúp phần làm rừ Đảng ta vận dụng phép biện chứng duy vật trong việc xây dựng và chỉ
đạo thực hiện đường lối đổi mới. Bước đầu đề xuất những giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả
vận dụng phép biện chứng duy vật của Đảng trong thời kỳ đổi mới đất nước.
- Những kết quả của luận án có thể được dùng làm tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu, giảng
dạy cho cụm bài phép biện chứng duy vật, về vai trũ của phộp biện chứng duy vật trong sự nghiệp
đổi mới ở Việt Nam và cụm bài hỡnh thỏi kinh tế – xó hội.
- Luận án cũng có ý nghĩa gợi ý đối với những người làm công tác quản lý kinh tế, xó hội về việc
vận dụng phộp biện chứng duy vật trong hoạt động của mỡnh.
- Luận ỏn cũng cú thể gúp phần tỡm hiểu sự phỏt triển tư duy biện chứng của Đảng ta trong quá
trỡnh lónh đạo công cuộc đổi mới trên một số lĩnh vực chủ yếu.
7. Kết cấu của luận ỏn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tài liẹu tham khảo, luận án gồm 3 chương, 10
tiết.

xem xột thế giới; phương phỏp biện chứng và phương phỏp siờu hỡnh.


Trong thời kỳ cổ đại đó xuất hiện phộp biện chứng chất phỏc mà đỉnh cao của nú là phộp biện
chứng cổ đại Hy Lạp. Phộp biện chứng này được rỳt ra từ quỏ trỡnh trực quan cảm tớnh, mà kết
quả của nú là đó được xõy dựng được nhiều quan điểm biện chứng khoa học. Theo quan điểm
biện chứng đú, thế giới là một chỉnh thể thống nhất trong tớnh toàn vẹn của nú. Giữa cỏc bộ
phận của nú cú mối liờn hệ qua lại, quy định lẫn nhau trong sự khụng ngừng vận động, phỏt
triển.
Nhận xột mặt tớch cực và hạn chế của quan điểm biện chứng chất phỏc thời cổ đại,
Ph.Ăngghen cho rằng, trong quan điểm đú chỳng ta thấy một bức tranh về sự chằng chịt vụ tận
của mối liờn hệ…trong đú khụng cú cỏi gỡ là đứng nguyờn, khụng thay đổi, mà tất cả đều vận
động biến đổi, phỏt sinh rồi mất đi. Nhưng cỏch nhỡn ấy vẫn khụng đủ để giải thớch những chi
tiết hợp thành bức tranh toàn bộ.
Sau này, nhờ vào phương phỏp phõn tớch để khỏm phỏ cỏc bộ phận khỏc nhau của thế giới,
trong khi khắc phục được một phần nào đú hạn chế của phộp biện chứng chất phỏc cổ đại thỡ
người ta lại rơi vào khuynh hướng tuyệt đối hoỏ phương phỏp phõn tớch trong nhận thức thế
giới. Từ đú ra đời phương phỏp tư duy siờu hỡnh- một phương phỏp mang tớnh đặc thự của
những thế kỷ XVI, XVIII.
Từ giữa thế kỷ XVIII trở đi, những thành quả của khoa học tự nhiờn mang lại đó chứng
minh rằng, tự nú, thế giới vốn tồn tại một cỏch biện chứng. Quan điểm siờu hỡnh đó bị khoa học
tự nhiờn phủ định. Nhưng sự phủ định quan điểm siờu hỡnh lỳc này lại dẫn tới sự mở đầu và sự
xỏc lập của phộp biện chứng duy tõm mà đỉnh cao là phộp biện chứng duy tõm khỏch quan của
Hờghen.
Theo Hờghen, giới tự nhiờn và xó hội loài người chỉ là sự tồn tại khác của “ ý niệm ”, do sự
tha húa của ý niệm mà thành. ý niệm luụn luụn vận động và phát triển không ngừng. Thừa nhận sự


phát triển (mặc dù sự phát triển theo Hêghen là sự phát triển của ý niệm)- đó là đóng góp to lớn của
Hêghen trong lịch sử triết học. Song do bị chi phối bởi chủ nghĩa duy tâm khách qan, Hêghen đó rỳt

phộp biện chứng. Nếu như phộp biện chứng chất phỏc thời cổ đại đó cú sự gắn bú giữa thế giới
quan duy vật và phộp biện chứng nhưng chỉ là sự gắn bú ở trỡnh độ thấp, trực quan, cảm tớnh
chứ chưa đi vào bản chất của thế giới; cũn phộp biện chứng của Hờghen là phộp biện chứng dựa
trờn cơ sở thế giới quan duy tõm, thỡ phộp biện chứng macxit cú sự thống nhất hữu cơ giữa thế
giới quan duy vật và phộp biện chứng trờn cơ sở căn cứ khoa học vững chắc.
Thứ hai, phộp biện chứng duy vật cú tớnh phờ phỏn. Bản thõn học thuyết của chủ nghĩa
Mỏc trong đú cú phộp biện chứng duy vật là hệ thống lý luận cú tớnh phờ phỏn. Nú phờ phỏn
những hạn chế, sai lầm của phương phỏp tư duy siờu hỡnh, của cỏc phộp biện chứng đó cú trong
lịch sử, và do đú, trở thành khoa học và cỏch mạng. Đồng thời, phộp biện chứng duy vật luụn
luụn cú sự phờ phỏn chớnh mỡnh. Nếu như Hờgghen coi sự phỏt triển cú tớnh giới hạn , vớ như
nhà nước Phổ là giới hạn cuối cựng của sự hoàn thiện, cũng như hệ thống triết học của ụng là
một hệ thống đó được hoàn tất, thỡ ngược lại, cỏc nhà sỏng lập phộp biện chứng duy vật đó
nhiều lần nhấn mạnh rằng, phộp biện chứng của cỏc ụng là một hệ thống mở chứ khụng phải
một cỏi gỡ đó hoàn bị, nhất thành bất biến. Chớnh bản chất cỏch mạng của phộp biện chứng duy


vật đó đặt ra yờu cầu phộp biện chứng duy vật phải thường xuyờn được phờ phỏn nhằm bổ
sung, điều chỉnh cựng với sự phỏt triển của thời đại.
Thứ ba,phộp biện chứng duy vật cú sự thống nhất giữa tớnh khoa học và tớnh cỏch mạng.
Phộp biện chứng chất phỏc thời cổ đại tuy cú những đúng gúp nhất định, nhưng do hạn chế của
mỡnh nờn chưa thực sự cú tớnh khoa học và tớnh cỏch mạng; cũn phộp biện chứng của Hờgghen
đó phản ỏnh sai lệch bản chất của thế giới cũng như quy luật vận động, phỏt triển nú. Ngược
lại, phộp biện chứng duy vật là phộp biện chứng phản ỏnh đỳng đắn, khỏch quan những quy luật
nội tại của thế giới, do đú, phộp biện chứng duy vật trở thành khoa học, nú giữ vai trũ phương
phỏp luận cho hoạt động cỏch mạng cải tạo thế giới của con người theo đỳng cỏc quy luật khỏch
quan của thế giới. Tớnh khoa học và tớnh cỏch mạng của phộp biện chứng duy vật đó được cỏc
giai cấp, cỏc tầng lớp, cỏc lực lượng tiến bộ của loài người chứng minh bằng thực tiễn cỏch
mạng.
Thứ tư, phép biện chứng duy vật luôn gắn bó với sự phát triển của khoa học. Khoa học tự
nhiên là một trong những tiền đề xuất hiện học thuyết cách mạng của chủ nghĩa Mác nói chung và

toàn đối lập với quan điểm bảo thủ, trỡ trệ, định kiến. Hơn nữa, quan điểm phát triển cũng đũi hỏi
khụng chỉ thấy sự vật như là cái đang có, mà cũ phải nắm được khuynh hướng phát triển trong
tương lai của nó. Sự phát triển của các sự vật và hiện tượng trong thực tiễn là một quỏ trỡnh biện
chứng đầy mâu thuẫn. Do vậy, quan điểm phát triển được vận dụng vào quá trỡnh nhận thức cũng


đũi hỏi chỳng ta phải thấy được tính quanh co, phức tạp của quá trỡnh phỏt triển như là một hiện
tượng phổ biến.
Vận dụng quan điểm phát triển với tư cách là nguyên tắc phương pháp luận của hoạt động
thực tiễn nhằm thúc đẩy sự vật phát triển theo quy định vốn có của nó, đũi hỏi chỳng ta phải tỡm ra
mõu thuẫn của chớnh sự vật và bằng hoạt động thực tiễn mà giải quyết mâu thuẫn. Đồng thời, sự
phỏt triển biện chứng của cỏc quỏ trỡnh hiện thực và của tư duy được thực hiện thông qua những
tích luỹ về lượng mà tạo ra sự thay đổi về chất, theo khuynh hướng phủ định của phủ định.
Khỏi quỏt ý nghĩa phương pháp luận của phép biện chứng duy vật, V.I.Lênin cho rằng, để
có tri thức đúng về sự thật, bản thân sự vật phải được xem xét trong những mối quan hệ của nó và
trong sự phát triển của nó.
Tóm lại, là một học thuyết khoa học, tiến bộ và cách mạng, phép biện chứng duy vật đó vạch ra
những quy luật phổ biến về sự vận động, phát triển của thế giới-tự nhiên, xó hội và tư duy. Mỗi
nguyên lý, phạm trự, quy luật của phộp biện chứng duy vật đều có ý nghĩa phương pháp luận quan
trọng. Vỡ vậy, chỳng phải được vận dụng tổng hợp, linh hoạt, mềm dẻo trong nhận thức cũng như
trong hoạt động thực tiễn.
Phép biện chứng duy vật, với tư cách là phương pháp luận của hoạt động cải tạo hiện thực, đũi
hũi phải được vận dụng một cách sáng tạo trong những hoàn cảnh lịch sử cụ thể. Ph. Ăngghen coi
phương pháp của tư duy biện chứng như nghệ thuật vận dụng các khái niệm và thực chất của nghệ
thuật đó là “ phõn tớch cụ thể mỗi tỡnh hỡnh cụ thể ”.
Nắm vững những nguyên tắc phương pháp luận của phép biện chứng duy vật không chỉ là một
nhân tố cơ bản để hỡnh thành thế giới khoa học, mà cũn là một điều kiện tiên quyết cho sự sáng tạo
của chính đảng cách mạng.



phổ biến. Chỉ khi nào các nguyên lý lý luận và phương pháp luận của phép biện chứng duy vật
được vận dụng một cách triệt để, sáng tạo vào thực tiễn cụ thể thỡ khi đó con người mới có thể
thành công trong hoạt động của mỡnh.
Như trên đó đề cập, phép biện chứng duy vật chỉ phát huy vai trũ của nú khi được con người
nhận thức và vận dụng trong thực tiễn. Vận dụng quan điểm lý luận chung đó vào luận ỏn này, việc
làm sỏng tỏ vai trũ của phộp biện chứng duy vật trong việc xõy dựng và thực hiện đường lối, nghị
quyết của Đảng là hoàn toàn cần thiết.
1.2.vai trũ của phộp biện chứng trong quỏ trỡnh xõy dựng đường lối, nghị quyết của đảng
1.2.1. Khái niệm về đường lối, nghị quyết của Đảng
Các nghị quyết là sự cụ thể hoá của đường lối. Do vậy, để có quan niệm đúng đắn về “nghị
quyết”, chúng ta không thể không chú ý làm sỏng tỏ bản thõn khỏi niệm “ đường lối”.
Đường lối chiến lược cách mạng vô sản- như Lênin đó xỏc định- là khoa học và nghệ thuật lónh
đạo chính trị của giai cấp công nhân trong cuộc đâu tranh nhằm cải biến bằng cách mạng đối với
xó hội cũ, từng bước hỡnh thành xó hội mới-xó hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa. Nó xác định
những mục tiêu chủ yếu, những phương hướng chủ yếu trong cuộc đấu tranh giai cấp của giai
cấp công nhân, của chính đảng thuộc giai cấp đó và của các lực lượng cách mạng nói chung ở một
giai đoạn lịch sử tương đối dài.


Đường lối cũng chỉ ra những kẻ thù chủ yếu, những người bạn đồng minh của giai cấo vô sản
trong cuộc đấu tranh để đạt được mục tiêu. Nó cũng chỉ ra những động lực, những hỡnh thức,
những phương tiện chủ yếu để đạt được những mục tiêu chiến lược của giai đoạn chiến lược cách
mạng.
Độ dài lịch sử của đường lối cũng có thể rất khác nhau. Chẳng hạn, đường lối cách mạng dân
tộc dân chủ do Đảng ta đề xướng bao quát một thời kỳ lịch sử từ năm 1930 đến năm 1954 đối với
miền Bắc, từ 1930 đến 30-04-1975 đối với miền Nam. Nhưng cũng có thể có đường lối cho một giai
đoạn cách mạng cụ thể. Chẳng hạn, trong quá trỡnh xõy dựng chủ nghĩa xó hội cú thể cú đường lối
chung cho toàn bộ quá trỡnh cỏch mạng xó hội chủ nghĩa, cũng cú thể cú đường lối cho từng giai
đoạn ứng với nhiệm kỳ của từng Đại hội Đảng.
Các đường lối có tính giai đoạn như vậy là sự vận dụng, sự cụ thể hoá đường lối chung của toàn

Do vậy, một nghị quyết được xem là đúng không chỉ khi nó phù hợp với trạng thái hiện có của vấn
đề, mà cũn phải bao quỏt được triển vọng biến đổi và phát triển của nó. Không tính đến điều đó,
rất có thể có nghị quyết chỉ đúng cho trước mắt, nhưng lại có hại cho tương lai. Điều đó giải thích
vỡ sao Đảng ta đó nhiều lần lưu ý rằng, quỏ trỡnh thực hiện đường lối đổi mới phải quan tâm dự
bỏo tỡnh hỡnh, kịp thời phát hiện và giải quyết đúng đắn những vấn đề mới nảy sinh. Một chủ
trương, một chính sách, một biện pháp dù là đúng đắn, trong quá trỡnh thực hiện cũng nhất định


nảy sinh những vấn đề mới, những thuận lợi và khó khăn mới. Cho nên, đường lối, nghị quyết của
Đảng cần dự kiến trước để chủ động ngăn ngừa, giải quyết.
Phạm vi tác động trực tiếp của nghị quyết là có hạn. Nhưng ảnh hưởng của nó thường vượt ra
ngoài giới hạn đó. Do vậy, một nghị quyết có thể đúng cho bộ phận, nhưng có thể mang lại hậu quả
tiêu cực cho toàn thể. Trong trường hợp đó, các nghị quyết ấy đó sai ngay từ đầu. Do vậy, để có
nghị quyết đúng, phải chống tư tưởng cục bộ, phải đặt vấn đề cục bộ trong mối tương quan với
toàn cục. Nói cách khác, một nghị quyết đúng phải là kết quả phản ánh chính xác trạng thái hiện tồn
của sự vật lẫn triển vọng của nó; trong khi thúc đẩy sự phát triển của bộ phận, nghị quyết đó phải có
tác động tích cực đến toàn bộ. ở đây, nguyên tắc tính toàn diện là yêu cầu không thể thiếu được khi
thông qua một nghị quyết của cấp uỷ đảng các cấp.
Một đường lối, nghị quyết có khả năng thực hiện được hay không, điều đó tuỳ thuộc có tính quyết
định vào sự đồng tỡnh của nhân dân khi tiếp nhận nghị quyết.
Với tư cách là một phạm trù tư tưởng, “ đồng tỡnh ” lại do mối quan hệ lợi ích quy định. “ Lý
tưởng mà xa rời lợi ích, thỡ lý tưởng tự bôi nhọ mặt mỡnh ”( Mỏc ). Đường lối, nghị quyết dù có
hay đến mấy, có vẽ ra một triển vọng huy hoàng bao nhiêu, mà không thể thực hiện được lợi ích
chính đáng của nhân dân, đều không thể giành được sự hưởng ứng của họ. Khi đó mọi nghị quyết
sẽ “tắt ngấm” do gặp phải sự thờ ơ, lónh đạm của nhân dân. Bởi vậy, việc thực hiện nghị quyết đó
sẽ chỉ là ảo tưởng của người lónh đạo mà thôi. Điều đó giải thích vỡ sao trong Cương lĩnh mới
nhất của Đảng ta khẳng định: “ Mọi chủ trương, chính sách của Đảng phải xuất phát từ lợi ích
của nhân dân, kết hợp hài hoà các lợi ích”.
Nghị quyết phải thể hiện được ý chớ, nguyện vọng của nhõn dõn. Nhưng với tư cách là lực lượng
lónh đạo, Đảng không thể hạ mỡnh xuống mức giỏ ngộ trung bỡnh của quần chỳng. Mọi nghị quyết

chức đảng cấp trên đó được xác định đúng đắn, nghị quyết của tổ chức đảng cấp dưới dứt khoát
không được đối lập lại, vỡ điều đó sẽ làm tiêu tan hiệu lực của nghị quyết cấp trên. Đó cũng là một
nội dung của nguyên tắc tập trung dân chủ-một quy luật tồn tại và phát triển quan trọng nhất của
chính đảng Mác-Lênin.
1.2.2.Quán triệt những yêu cầu của phép biện chứng trong việc xây dựng đường lối, nghị
quyết
Xây dựng đường lối, nghị quyết là công việc gắn bó hữu cơ cới chức năng lónh đạo của Đảng.
Bởi vỡ, trong quỏ trỡnh lónh đạo nhằm cải biến xó hội luụn xuất hiện những vấn đề mới mà cơ
quan lónh đạo cần giải quyết để thúc đẩy xó hội tiến lờn. Xõy dựng đường lối, nghị quyết là hành
động tất yếu của cơ quan lónh đạo, việc thực hiện có hiệu quả nghị quyết đúng đắn sẽ cho phép
chuyển “ trạng thái hiện có ” sang “ trạng thái cần phải có ” theo quy luật phỏt triển nội tại của
xó hội.
Khi đó trở thành lực lượng lónh đạo đối với toàn xó hội, đường lối, các nghị quyết của Đảng trở
thành cơ sở cho mọi nghị định, chủ trương của chính quyền các cấp, mọi đường lối, nghị quyết của
Đảng đều tác động trực tiếp tới đời sống của nhân dân, tới tương lai, hạnh phúc của họ. Do tầm
quan trọng như vậy, Lênin nhấn mạnh rằng vỡ chớnh trị là vấn đề có liên quan tới “ vận mệnh của
hàng triệu con người ” [85, tr.150], cho nên Đảng “ không được phạm sai lầm về chính trị
”[90,tr.136].
Để điều đó được thực hiện trong thực tế, đường lối, các nghị quyết của Đảng phải được luận
chứng một cách khoa học và đáp ứng những lợi ích sống cũn của nhõn dõn. Việc quán triệt những


yêu cầu cơ bản của phép biện chứng duy vật vào xây dựng đường lối, các nghị quyết của Đảng là
một trong những cơ sở để có những đường lối, nghị quyết đúng đắn.
Phép biện chứng duy vật đóng vai trũ hết sức quan trọng trong việc xõy dựng đường lối, các nghị
quyết của Đảng được thể hiện ở chỗ:
Một là, giúp phát hiện ra những mâu thuẫn, những động lực của sự phát triển xó hội. Nhờ đó, có
thể xác định được chiều hướng chung của sự phát triển lịch sử cũng như vai trũ và thỏi độ của các
lực lượng xó hội chủ yếu. Tất cả những điều đó tạo thành cơ sở xuất phát để xây dựng và tổ chức
thực hiện các nghị quyết của Đảng.

như ở từng ngành, từng địa ph ương, từng cơ sở ý nghĩa quyết định. Khẳng định sự cần thiết của
việc làm đó khi xây dựng các quyết định chính trị của đảng cộng sản, Lênin viết:
Trong mỗi thời kỳ đặc biệt, cần phải biết tỡm cho ra cỏi mắt xớch đặc biệt mà người ta
phải đem toàn lực ra nắm lấy để giữ vững được toàn bộ cái xích và chuẩn bị để chuyển vững chắc
sang mắt xích kế bên; hơn nữa trỡnh tự nối tiếp,hỡnh thức, mối liờn hệ của cỏc mắt xớch và những
đặc điểm khác nhau của mắt xích này với mắt xích khác trong cái xích những sự biến lịch sử đều
không giản đơn, và cũng không phải sơ sài như trong cái xích thường do bàn tay người thợ rèn làm
ra [83,tr.252],[97,tr.279] (xem thêm tập 44, tr. 279).



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status