LUẬN văn THẠC sĩ ĐẢNG LÃNH đạo GIỮ VỮNG ĐỊNH HƯỚNG xã hội CHỦ NGHĨA TRONG PHÁT TRIỂN nền KINH tế NHIỀU THÀNH PHẦN từ năm 1996 đến năm 2006 - Pdf 40

BẢNG KÝ HIỆU CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết đầy đủ
Ban Chấp hành Trung ương

Chữ viết tắt
BCHTW

Chính trị quốc gia

CTQG

Chủ nghĩa tư bản

CNTB

Chủ nghĩa xã hội

CNXH

Công nghiệp hoá, hiện đại hoá

CNH,HĐH

Đảng Cộng sản Việt Nam

ĐCSVN

Lực lượng sản xuất

LLSX


THÀNH PHẦN TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2006
1.1. Yêu cầu khách quan giữ vững định hướng xã hội chủ
nghĩa trong phát triển nền kinh tế nhiều thành phần thời

11

kỳ 1996- 2006
1.2. Chủ trương của Đảng về giữ vững định hướng xã hội chủ
nghĩa trong phát triển nền kinh tế nhiều thành phần từ năm

11

1996 đến năm 2006
Chương 2: ĐẢNG CHỈ ĐẠO GIỮ VỮNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ
HỘI CHỦ NGHĨA TRONG PHÁT TRIỂN NỀN KINH

29

TẾ NHIỀU THÀNH PHẦN TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM
2006, KẾT QUẢ VÀ KINH NGHIỆM
2.1. Đảng chỉ đạo giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát
triển nền kinh tế nhiều thành phần từ năm 1996 đến năm 2006
2.2. Kết quả và kinh nghiệm rút ra từ quá trình Đảng lãnh đạo

51

giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển nền
kinh tế nhiều thành phần từ năm 1996 đến năm 2006

51

hướng TBCN, tự bằng lòng với những thành tựu đã đạt được, không chăm lo
củng cố, đổi mới, phát triển các nhân tố XHCN thì nền kinh tế nước ta sẽ chệch
sang hướng TBCN. Đó là một trong những nguy cơ đối với chế độ XHCN ở
nước ta mà Đảng đã xác định từ Hội nghị giữa nhiệm kỳ khoá VII (1994). Đại
hội lần thứ VIII của Đảng chỉ rõ: “Trong quá trình thực hiện chúng ta đã phạm


4
một số khuyết điểm lệch lạc lớn và kéo dài dẫn đến chệch hướng ở lĩnh vực này
hay lĩnh vực khác, ở mức độ này hay mức độ khác” [24, tr.13].
Quá trình thực hiện nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta hiện nay có
thể phát triển theo hai khả năng: đó là phát triển đúng định hướng XHCN và
chệch hướng XHCN. Điều đó hoàn toàn phụ thuộc vào nhân tố chủ quan của
Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Bên cạnh đó còn không ít người băn khoăn,
nghi ngờ về khả năng đi lên CNXH ở nước ta khi chúng ta thực hiện chính sách
kinh tế nhiều thành phần. Mặt khác, các thế lực thù địch và bọn phản động luôn
tìm mọi cách chống phá chúng ta trên mặt trận tư tưởng với mục tiêu là xoá bỏ sự
lãnh đạo của Đảng, xoá bỏ CNXH ở nước ta bằng các luận điệu như: kinh tế thị
trường thì không thể đi cùng CNXH; kinh tế thị trường là sản phẩm riêng có của
CNTB; chế độ chúng ta là chế độ XHCN thì không cần phải định hướng
XHCN…tất cả những quan điểm trên đều là những luận điệu sai trái, phản khoa
học mà chúng ta cần phải đấu tranh, bác bỏ.
Thực tiễn quá trình phát triển nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta
với việc giữ vững định hướng XHCN và những nhận thức khác nhau cũng
như để đấu tranh chống lại các luận điểm sai trái, tôi chọn đề tài: “Đảng lãnh
đạo giữ vững định hướng XHCN trong phát triển nền kinh tế nhiều thành
phần từ năm 1996 đến năm 2006” làm luận văn thạc sỹ lịch sử, chuyên
ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Giữ vững định hướng XHCN trong quá trình đổi mới là một vấn đề lớn,

hướng XHCN; về xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam. Trong
đó tác giả đã trình bày một cách có hệ thống cơ sở lý luận cũng như thực tiễn
của định hướng XHCN trong nền kinh tế nhiều thành phần, những nội dung
cơ bản của định hướng XHCN trên lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá- xã
hội.


6
Trần Xuân Trường (2008), “Về định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
lý luận và thực tiễn”, Tuyển tập, Nxb QĐND, Hà Nội. Trong phần thứ nhất của
cuốn sách, tác giả đã trình bày một cách có hệ thống một số vấn đề lý luận cấp
bách về định hướng XHCN ở nước ta hiện nay, tác giả đã khẳng định: Định
hướng XHCN- mục tiêu và con đường quá độ lên CNXH ở Việt Nam; làm rõ
một số nội dung cần định hướng trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá và
con người; vấn đề định hướng XHCN và tư duy mới về bảo vệ Tổ quốc.
Lê Xuân Lựu(chủ biên) (2003), “Một số vấn đề về định hướng xã hội
chủ nghĩa trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”, Nxb QĐND, Hà
Nội. Đây là cuốn sách có nhiều bài viết của tác giả, trong đó đề cập đến vấn
đề định hướng XHCN trong lĩnh vực kinh tế. Trong bài viết “Vấn đề định
hướng xã hội chủ nghĩa trong kinh tế”, tác giả đã khẳng định vấn đề định
hướng XHCN trong phát triển kinh tế đặt ra như một nguyên tắc, một vấn đề
chiến lược. Từ đó tác giả đã đề cập đến một số chủ trương và giải pháp nhằm
bảo đảm định hướng XHCN trong phát triển kinh tế.
Lê Minh Quân (2003), “Xây dựng Nhà nước pháp quyền đáp ứng yêu
cầu phát triển đất nước theo định hướng XHCN”, Nxb CTQG, Hà Nội. Nội
dung cuốn sách đã đề cập đến vai trò của Nhà nước trong giữ vững định hướng
XHCN, đồng thời đưa ra một số giải pháp để xây dựng Nhà nước vững mạnh,
đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước theo định hướng XHCN.
Nguyễn Phú Trọng (chủ biên) (2001), “Về định hướng xã hội chủ nghĩa
và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”, Nxb CTQG, Hà Nội. Đây

XHCN của Đảng ta là hoàn toàn đúng đắn, khẳng định vai trò chủ đạo của
kinh tế nhà nước trong sự phát triển của nền kinh tế quốc dân, quá trình phát
triển trong nhận thức của Đảng về nền kinh tế thị trường định hướng XHCN
từ Đại hội Đảng lần thứ VII đến Đại hội X.


8
Trần Ngọc Hiên, “Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước, thực trạng và giải
pháp”, Tạp chí Cộng sản, (số 6), 2007. Bài viết đề cập thực trạng và những vấn
đề đặt ra sau 15 năm cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước, đồng thời nêu lên 3
giải pháp để tiến hành cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước có hiệu quả.
Hoàng Thị Bích Loan, “Giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong
phát triển kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Cộng sản, (số 7),
2007. Bài viết đã đề cập đến nhận thức của Đảng ta về nền kinh tế thị trường
định hướng XHCN, về mục tiêu, phương hướng của phát triển nền kinh tế thị
trường định hướng XHCN, những nội dung cần thực hiện để giữ vững định
hướng XHCN trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam.
Nhóm các luận văn, luận án, tiêu biểu như: Bùi Thanh Xuyên
(2001), “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo phát triển kinh tế nhiều thành
phần trong công cuộc đổi mới thời kỳ 1986-1996”, Luận văn Thạc sỹ Lịch
sử Đảng, Học viện Chính trị Quân sự, Hà Nội. Luận văn đã trình bày một
cách có hệ thống về tính tất yếu khách quan phát triển kinh tế nhiều thành
phần trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam. Qua đó, tác giả đã làm
rõ chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng đối với nền kinh tế nhiều thành phần
giai đoạn 1986-1996, đồng thời nêu lên 3 kinh nghiệm chủ yếu trong phát
triển kinh tế nhiều thành phần ở nước ta.
Nguyễn Mạnh Hùng (2003), “Công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường
trong điều kiện cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định
hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay”, Luận văn Thạc sỹ Kinh tế,
Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội. Luận văn đã trình bày vai


10
Làm sáng tỏ chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng trong lãnh đạo giữ
vững định hướng XHCN đối với quá trình phát triển nền kinh tế nhiều thành
phần trong những năm 1996- 2006, trên cơ sở đó rút ra một số kinh nghiệm
góp phần bổ sung, phát triển hoàn thiện lý luận về phát triển kinh tế thị trường
định hướng XHCN ở Việt Nam.
Nhiệm vụ nghiên cứu
Phân tích, làm rõ tính tất yếu khách quan giữ vững định hướng
XHCN trong phát triển nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta giai đoạn
1996- 2006.
Làm rõ chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng nhằm giữ vững định hướng
XHCN trong phát triển nền kinh tế nhiều thành phần từ 1996 đến 2006
Đánh giá những thành tựu, hạn chế và rút ra một số kinh nghiệm lịch sử.
Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động của Đảng trong lãnh đạo giữ vững định hướng XHCN đối
với nền kinh tế nhiều thành phần.
Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Nghiên cứu chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng trong lãnh
đạo giữ vững định hướng XHCN đối với nền kinh tế nhiều thành phần.
Về không gian và thời gian: Nghiên cứu vấn đề giữ vững định
hướng XHCN trong phát triển nền kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam
từ năm1996 đến năm 2006.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận
Luận văn dựa trên cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,
đường lối quan điểm của Đảng về phát triển kinh tế trong thời kỳ quá độ lên CNXH.
Phương pháp nghiên cứu



12
XHCN ngày một mạnh lên, thực sự là thành phần kinh tế chủ đạo xét cả về
quy mô, tính hiệu quả và tính dẫn dắt.
1.1.1. Quan điểm chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về tính
tất yếu và chủ trương phát triển các thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ
lên chủ nghĩa xã hội
Khi nghiên cứu sự vận động, phát triển của các hình thái kinh tế- xã hội,
chủ nghĩa Mác- Lênin luôn khẳng định ở mỗi hình thái kinh tế- xã hội, ngoài
QHSX thống trị, điển hình cũng còn tồn tại những QHSX lỗi thời, lạc hậu. Sự
tồn tại của cơ cấu kinh tế nhiều thành phần suy đến cùng là do quy luật QHSX
phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Khi xem
xét tiến trình vận động của lịch sử xã hội loài người, đứng trên lập trường của
chủ nghĩa duy vật biện chứng, C.Mác và Ph.Ăngghen đã kết luận: Sự chuyển
biến từ hình thức sở hữu này tới một hình thức sở hữu khác cao hơn bao giờ
cũng phải dựa trên sự phát triển của lực lượng sản xuất.
Không một xã hội nào lại diệt vong khi tất cả những lực lượng
sản xuất mà chế độ xã hội đó tạo địa bàn đầy đủ cho phát triển vẫn còn
chưa phát triển và những quan hệ sản xuất mới cao hơn không bao giờ
xuất hiện khi những điều kiện tồn tại vật chất của những quan hệ đó
còn chưa chín muồi trong lòng bản thân xã hội cũ [44, tr.15- 16].
Một hình thức kinh tế không bao giờ mất đi trước khi QHSX của nó vẫn
còn tác dụng. Nền kinh tế nhiều thành phần không phải tồn tại tự nó, mà nó
thường xuyên biến đổi, tác động qua lại với nhau. Trong thời kỳ quá độ lên
CNXH còn tồn tại nhiều kết cấu kinh tế khác nhau, không phải chỉ có kết cấu
kinh tế XHCN mà còn có kết cấu kinh tế phi XHCN.
Một trong những đặc trưng nổi bật của thời kỳ quá độ lên CNXH được
V.I.Lênin đề cập trong các tác phẩm: Về bệnh ấu trĩ “tả khuynh” và tính tiểu tư


13

đều dài hơn như đã giả định hồi đó. Điều đó không có gì là lạ” [37, tr.189]. Chính
thực tiễn đã điều chỉnh nhận thức về thời hạn về các chặng đường của thời kỳ quá
độ.
V.I.Lênin đã chứng minh tính hiện thực của bước quá độ từ CNTB lên CNXH.
Trong trường hợp tốt nhất thì bước quá độ ấy cũng chiếm mất
nhiều năm. Suốt cả thời kỳ đó, trong chính sách của chúng ta lại chia ra
nhiều bước quá độ nhỏ hơn nữa. Và tất cả cái khó khăn của nhiệm vụ
chúng ta phải làm, tất cả cái khó khăn của chính sách và tất cả sự khéo
léo của chính sách là ở chỗ biết tính đến những nhiệm vụ đặc thù của
từng bước quá độ [36, tr.119- 120].
Sự khéo léo trong chính sách, theo V.I.Lênin đó chính là cần thiết phải sử
dụng một cách có hiệu quả các thành phần kinh tế phi CNXH để xây dựng
CNXH.
Trong tác phẩm Bàn về thuế lương thực, V.I.Lênin viết: “Danh từ quá độ có
nghĩa là gì? vận dụng nó vào kinh tế có phải nó có nghĩa là trong chế độ hiện nay có
những thành phần, những bộ phận, những mảnh của chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa
xã hội không? bất cứ ai cũng đều thừa nhận là có” [37, tr.248]. Luận điểm trên cho
thấy trong thời kỳ quá độ lên CNXH tất yếu phải tồn tại nền kinh tế đa thành phần.
Khi Cách mạng tháng Mười Nga thành công, nghiên cứu thực tiễn nền kinh tế của
nước Nga lúc bấy giờ, V.I.Lênin đã xác định đó là nền kinh tế không thuần nhất, ở
đó tồn tại nhiều thành phần kinh tế đan xen và tác động lẫn nhau, đó là những yếu
tố của 5 thành phần kinh tế xã hội khác nhau là kinh tế gia trưởng, tiểu sản xuất
hàng hoá, chủ nghĩa tư bản tư nhân, chủ nghĩa tư bản nhà nước và CNXH.
Trong suốt cuộc đời hoạt động của mình, Hồ Chí Minh luôn hướng tới mục
đích là đất nước được độc lập, nhân dân được ấm no, tự do, hạnh phúc. Để đạt
được mục đích đó chỉ có thể dưới CNXH. Như vậy, Hồ Chí Minh luôn gắn tiền đề
kinh tế với tiền đề chính trị, trong đó tiền đề kinh tế có ý nghĩa quyết định, tiền đề
chính trị sẽ định hướng phát triển kinh tế đúng mục tiêu và con đường mà chính trị



Trong các thành phần kinh tế, Hồ Chí Minh rất coi trọng thành phần kinh tế
quốc doanh tồn tại ở các cơ sở sản xuất kinh doanh của Nhà nước. Đây là thành
phần kinh tế mới ra đời trong chế độ dân chủ mới. Theo Hồ Chí Minh: “Nó là nền
tảng và sức lãnh đạo của nền kinh tế dân chủ mới, cho nên chúng ta phải ra sức
phát triển nó và nhân dân ta phải ủng hộ nó” [46, tr.221].
Thành phần kinh tế tư bản tư nhân, theo Hồ Chí Minh là thành phần
kinh tế của giai cấp tư sản dân tộc, mặc dù giai cấp tư sản có bóc lột giai cấp
công nhân, nhưng họ cũng góp phần vào phát triển kinh tế, góp công, góp của
cho cuộc kháng chiến. Người khẳng định:
Là giai cấp tư sản không dính líu với đế quốc, hoặc dính líu
rất ít. Một mặt thì họ bị đế quốc và phong kiến ngăn trở, cho nên họ
cũng muốn chống đế quốc và phong kiến. Nhưng mặt khác, họ là
giai cấp bóc lột, cho nên họ cũng sợ giai cấp bị bóc lột nổi lên đấu
tranh. Vả lại về mặt kinh tế, họ còn dính líu ít nhiều với địa chủ
phong kiến, cho nên đối với việc cải cách ruộng đất, họ còn do dự.
Do đó mà tư sản dân tộc vừa muốn cách mạng vừa muốn thoả hiệp.
Bởi vậy, giai cấp công nhân cần phải vừa đoàn kết với họ, vừa đấu
tranh với họ để bảo vệ quyền lợi của công nhân. Có như vậy, giai
cấp tư sản dân tộc mới phát triển được tác dụng cách mạng của họ,
và phát triển kinh tế của họ [46, tr.214- 215].
Đối với thành phần kinh tế tư bản tư nhân và tư bản nhà nước, quan điểm nhất
quán của Hồ Chí Minh là: Chính phủ cần phải giúp họ phát triển. Nhưng họ phải phục
tùng sự lãnh đạo của kinh tế quốc gia, phải hợp với lợi ích của đại đa số nhân dân. Trong
tác phẩm Thường thức chính trị (xuất bản năm 1953), Người cho rằng: “Nhà tư bản thì
không khỏi bóc lột. Nhưng Chính phủ ngăn cấm họ bóc lột công nhân quá tay. Chính
phủ phải bảo vệ quyền lợi của giai cấp công nhân” [45, tr.222]. Đây chính là sự khác biệt
cơ bản giữa nhà tư bản trong xã hội tư bản với nhà tư bản trong chế độ dân chủ mới và


17

18
động theo đúng quỹ đạo của CNXH, phủ nhận kinh tế nhiều thành phần là
phủ nhận thời kỳ quá độ lên CNXH.
1.1.2. Kinh nghiệm rút ra từ cải tổ, cải cách của các nước xã hội
chủ nghĩa trên thế giới.
Bước vào thập kỷ 70 của thế kỷ XX, tình hình thế giới có nhiều biến
động báo hiệu một cuộc khủng hoảng mang tính toàn cầu. Mở đầu là cuộc
khủng hoảng năng lượng năm 1973 đặt ra cho nhân loại những vấn đề bức
thiết cần phải giải quyết (bùng nổ dân số, hiểm hoạ môi trường, tài nguyên
cạn kiệt…). Những biến động này đã tác động mạnh mẽ đến các quốc gia, dân
tộc. Để thích nghi với điều kiện đó, hàng loạt các quốc gia đã từng bước điều
chỉnh các chính sách về đối nội, đối ngoại cho phù hợp với tình hình mới.
Trong bối cảnh đó, Liên Xô đã tiến hành công cuộc cải tổ nhằm đưa đất
nước thoát khỏi khủng hoảng. Tại Đại hội lần thứ 27 Đảng Cộng sản Liên Xô,
Tổng bí thư M.Goocbachop đưa ra chủ trương cải tổ với đường lối “đẩy mạnh
sự phát triển kinh tế- xã hội của đất nước” (chiến lược tăng tốc). Chiến lược này
rất được người dân kỳ vọng, nó có thể đưa đất nước thoát khỏi tình trạng khủng
hoảng và xây dựng một CNXH dân chủ, nhân văn đúng như bản chất của nó.
Tuy nhiên, trong quá trình cải tổ, do không lường hết khó khăn, thiếu
sự chuẩn bị chu đáo, máy móc, giáo điều trong việc vận dụng các quy luật
khách quan…do đó, công cuộc cải tổ đi vào bế tắc, hậu quả là nền kinh tế tụt
hậu. Năm 1989, tổng sản phẩm quốc dân giảm 4- 5%, năng suất lao động xã
hội giảm 2,5%, sản xuất trong nước trì trệ…Trước tình hình đó, Ban lãnh đạo
Liên Xô vội chuyển sang cải tổ chính trị theo hướng cực đoan, chấp nhận chế
độ đa đảng, thiết lập chế độ tổng thống (1990) dẫn đến nội bộ Đảng Cộng sản
chia rẽ, các thế lực chống phá CNXH ngóc đầu dậy, một số nước cộng hoà
đòi li khai. Đất nước rơi vào khủng hoảng toàn diện, công cuộc cải tổ bị trượt
ra khỏi mục tiêu CNXH, từ đó dẫn đến sự tan rã của chế độ XHCN ở Liên
Xô.




20
những điều kiện trong tình hình mới. Để vượt qua CNTB, cần tiếp thu những
thành quả công nghệ tiên tiến của nó. Trong khi xây dựng CNXH cần lấy phát
triển sức sản xuất làm nhiệm vụ trọng tâm thì Liên Xô chỉ chú trọng đến sự
thay đổi về QHSX nên sức sản xuất xã hội phát triển chậm chạp. Trong khi
các nước tư bản phát triển chuyển mạnh sang nền kinh tế theo chiều sâu, đã
có một vị trí khá xa về trình độ phát triển thì Liên Xô chủ yếu đầu tư phát
triển chiều rộng, dựa vào xuất khẩu tài nguyên, khai thác nguồn lực đất nước
một cách vô độ. Do vậy, chính ngay tại đất nước có nguồn tài nguyên khoáng
sản và nhiên liệu- năng lượng có quy mô lớn, tiềm năng vô tận, lại thiếu thốn
trầm trọng các nguồn lực đó do sử dụng lãng phí, không hiệu quả. Quá trình
chuyển đổi nền kinh tế đã mắc phải bệnh chủ quan, duy ý chí, xem thường các
quy luật khách quan, sử dụng các chính sách kinh tế không phù hợp với điều
kiện thực tế của đất nước, đặc biệt trong việc mở rộng thị trường tự do một cách
ồ ạt, thiếu sự quản lý của nhà nước, vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước không
còn. Điều đó đã đóng góp một phần không nhỏ cho sự tan rã chế độ XHCN ở
Liên Xô.
Sự sụp đổ của Liên Xô cũng như các nước XHCN ở Đông Âu là sự sụp
đổ của một thể chế chính trị- xã hội, một mô hình CNXH cứng nhắc, chứ không
phải là sự xụp đổ của hình thái kinh tế CNCS, không phải là dấu chấm hết của
CNCS, là “sự kết thúc của lịch sử” như ai đó đã lầm tưởng và mong muốn.
Trong bối cảnh chung của các nước XHCN, tại Hội nghị Trung ương 3
khoá XI của Đảng Cộng sản Trung Quốc (12-1978) đã quyết định cải cách và
mở cửa nền kinh tế. Đây là cuộc cải cách lớn, toàn diện về kinh tế, từ tư duy
lý luận đến hoạt động thực tiễn, từ quan hệ sở hữu tài sản tới cơ chế quản lý
kinh tế, từ điều hành nền sản xuất tới thu nhập…Trong Hội nghị này, Đặng
Tiểu Bình được coi là người khởi xướng công cuộc cải cách đã chỉ rõ: Muốn
sản xuất phát triển phải cải cách thể chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung, xây

việc tổ chức các tập đoàn lớn, đổi mới kỹ thuật và áp dụng các phương pháp


22
quản lý khoa học. Trong tương lai chỉ có những cơ sở hạ tầng quan trọng nhất
(đường sắt, liên lạc điện thoại và viễn thông, điện tử và cung cấp nước…) và
những doanh nghiệp được xây dựng bằng vốn đầu tư mới của nhà nước (bằng số
tiền lãi của các tổ chức tín dụng-tiền tệ nhà nước) mới thuộc sở hữu nhà nước.
Hàng nghìn doanh nghiệp nhà nước lớn và quan trọng sẽ được biến thành các
tập đoàn với quyền hạn và hoạt động kinh tế rộng rãi nhất. Các doanh nghiệp
nhà nước vừa và nhỏ có quyền lựa chọn hình thức tổ chức và hoạt động như: cổ
phần hoá, cho thuê, chuyển thành sở hữu tập thể hoặc bán cho tư nhân.
Cải cách các chính sách giá và tỷ giá theo cơ chế thị trường. Từ năm 1993,
Trung Quốc áp dụng hầu như trong cả nước cơ chế giá cả tự do đối với ngũ cốc và
các mặt hàng nông nghiệp khác, hệ thống tem phiếu bị bãi bỏ. Từ đầu năm 1994,
áp dụng tỷ giá ngoại tệ thống nhất dựa theo tỷ giá giao dịch trên thị trường liên
ngân hàng; cấm sử dụng ngoại tệ ở trong nước, áp dụng chế độ bán bắt buộc ngoại
tệ thu được từ các hoạt động ngoại thương cho các ngân hàng được uỷ quyền.
Thực hiện nhanh chóng cơ chế kinh tế mở cửa ra thế giới. Theo Luật
Ngoại thương được thông qua năm 1994, Trung Quốc đã bãi bỏ việc lập kế
hoạch theo chỉ thị hoạt động xuất, nhập khẩu; trao cho các doanh nghiệp
quyền hoạt động kinh tế đối ngoại, bãi bỏ việc cấp quota đối với một loạt
hàng hoá. Các nhà đầu tư nước ngoài được hưởng một loạt ưu tiên và ưu đãi
về thuế. Các khu vực kinh tế tự do (khu phố Đông ở thành phố Thượng Hải,
Thẩm Quyến ở tỉnh Quảng Tây,…) đã và đang là các trung tâm thu hút tư bản
nước ngoài và là “các trung tâm phát triển”. Bên cạnh đó, nhà nước vẫn duy
trì chế độ bảo hộ cứng rắn đối với những mặt hàng nhập khẩu quan trọng (dầu
lửa, sản phẩm dầu khí, sắt thép…) và vẫn giữ độc quyền về ngoại thương đối
với 16 loại hàng hoá.
Qua hơn 30 năm cải cách nền kinh tế, Trung Quốc đã đạt được những

nghiệp là 4,5%; kim ngạch xuất khẩu là 20%. Đầu tư cơ bản toàn xã hội bằng


24
nguồn vốn trong nước và ngoài nước năm 1990 chiếm 15,8% GDP, năm 1995
là 27,4% GDP. Bắt đầu có tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế. Lương thực không
những đủ ăn mà mỗi năm bình quân còn xuất khẩu được 2 triệu tấn gạo. Lạm
phát giảm từ 67,1% năm 1991 xuống còn 12,7% năm 1995.
Nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường
có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN tiếp tục được xây dựng
và củng cố. QHSX từng bước được điều chỉnh phù hợp hơn với tính chất,
trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Cơ cấu kinh tế đã có sự chuyển
dịch cho phù hợp với yêu cầu của thực tiễn. Đã hình thành nhiều khu công
nghiệp, khu chế xuất với quy mô lớn như khu công nghiệp Biên hoà- Đồng
Nai; khu chế xuất Linh Trung- Thành phố Hồ Chí Minh…đã thu hút được
vốn đầu tư của các doanh nghiệp nước ngoài, giải quyết việc làm cho hàng
triệu người lao động.
Các thành phần kinh tế, sau một thời gian dài khó khăn, đã dần thích nghi
được với cơ chế quản lý mới, từng bước ổn định, phát triển và đã khẳng định
được chỗ đứng của mình trên thị trường. Theo số liệu của Tổng cục thống kê:
Mặc dù những năm vừa qua các doanh nghiệp nhà nước có giảm về số
lượng doanh nghiệp do tổ chức, sắp xếp lại và thực hiện chủ trương cổ
phần hoá doanh nghiệp, nhưng tỉ trọng của các thành phần kinh tế này
chiếm tổng sản phẩm trong nước đã tăng từ 31,1% năm 1991 lên 34%
năm 1992. Những năm gần đây là thành phần kinh tế có tỉ trọng lớn
nhất trong tổng sản phẩm trong nước. Tỉ trọng của các thành phần
kinh tế khác chiếm trong tổng sản phẩm trong nước trong những năm
vừa qua: kinh tế tập thể: 10%, kinh tế cá thể, bao gồm cả hộ nông dân
chiếm 30%, khu vực kinh tế có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chiếm
12%, còn lại là kinh tế tư nhân và hỗn hợp sở hữu [60, tr.12].

chiếm dụng vốn lẫn nhau thường xuyên xảy ra, chậm trễ trong việc đóng ngân



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status