LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Trong quá trình lãnh đạo tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân,
Đảng ta đã vận dụng thành công quy luật phat huy sức mạnh tổng hợp đánh bại
những đội quân viễn chinh của CNĐQ, thu được nhiều thắng lợi to lớn góp phần
làm phong phú kho tàng lý luận Mác- Lênin và lý luận quân sự Việt Nam.
Nhưng bước vào giai đoạn cả nước tiến hành hai nhiệm vụ chiến lược: xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc, dưới ánh sáng của đường lối đổi mới của Đảng được bắt
đầu từ đại hội VI, đang đòi hỏi phải co sự tư duy lý luận mới về sức mạnh tổng
hợp sao cho phù hợp với yêu cầu baỏ vệ Tổ quốc trong hoàn cảnh phát triển nền
kinh tế thị trường, mở cửa với nước ngoài, để vừa hợp tác quốc tế vừc kiên quyết
đấu tranh bảo vệ chế độ, bảo vệ vững chắn thành quả cách mạng.
Trên bình diện quốc tế hiện nay đang nẩy sinh nhiều trào lưu lý luận phản
Mác xít, cơ hội xét lại chủ nghĩa Mác-Lê nin trên nhiều lĩnh vực, trong đó có lý
luận bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa (XHCN). Đặc biệt chúng đang lợi dụng sự
khủng khoảng của chủ nghĩa xã hội (CNXH) hiện nay để tuyên truyền “ngôi nhà
chung của thế giới”, ngụy biện cho lý luận “phi chính trị hoá quân đội”... Do đó,
luận án đưa ra góp phần nhỏ bé bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác- Lê nin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chính trị, đường lối quân sự của Đảng.
Mặt khác sau hơn 10 năm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ củng cố
quốc phòng theo quan điểm sức mạnh tổng hợp, Đảng ta đã cùng toàn dân thu
được nhiều thắng lợi to lớn, đánh thắng hai cuộc chiến tranh xâm lược biên giới ở
hai đầu đất nước, bảo vệ vững chắc tổ quốc. Sau đó đã thực hiện bước chuyển
hướng chiến lược.
Nhiệm vụ Quốc phòng, đưa Quốc phòng thời chiến về Quốc phòng hoạt
động trong thời bình; mở ra điều kiện mới, khả năng mới để không ngừng tăng
cường sức mạnh giữ nước, tăng cường tiềm lực Quốc phòng.
Tuy nhiên biên cạnh những thành tích đã đạt được, vẫn còn nhiều thiếu sót
và vướng mắc trong việc nhận thức Quốc phòng toàn dân, phân biệt Quốc phòng
Đảng, và Đảng uỷ quân sự Trung ương, các tài liệu nước ngoài liên quan đến Quốc
phòng…
3. Mục đích , nhiệm vụ của luận án.
Chọn đề tài này chúng tôi nhằm nghiên cứu một số vấn đề xung quanh việc
Đảng ta giải quyết mối quan hệ giữa các yếu tố, các lực lượng, các hình thức đấu
tranh nhằm tạo nên sức mạnh tổng hợp của Quốc phòng toàn dân và sử dụng sức
mạnh đó vào công cuộc bảo vệ Tổ quốc hơn 10 năm qua; từ đó rút ra những kinh
nghiệm bước đầu và liên hệ với tình hình Quốc phòng- an ninh hiện nay.
Để làm rõ mục đích trên, nhiệm vụ của luận án là:
1)Trình bày tóm tắt nội dung sức mạnh tổng hợp trong cách mạng Việt Nam,
vấn đề có tính quy luật đã được kiểm chứng trong lịch sử tiến hành cách mạng dân
tộc dân chủ nhân dân; trong đó nêu lên một số tư tưởng quân sự của Chủ Tịch Hồ
Chí Minh về sức mạnh quốc phòng.
2) Phân tích nội dung khái niệm sức mạnh tổng hợp của quốc phòng toàn
dân và quá trình Đảng ta chỉ đạo tổ chức thực hiện thắng lợi trong sự nghiệp bảo
vệ Tổ quốc (1975- 1991). Khẳng định những thắng lợi, phát hiện những thiếu sót,
khuyết, nhược điểm, rút ra kinh nghiệm bước đầu qua hơn mười năm cả nước làm
nhiệm vụ và bảo vệ Tổ quốc.
4.
Phạm vi giới hạn của luận án.
*- Về thời gian: Chúng tôi lựa chọn thời điểm từ 1975- 1991, tức là thời kỳ
chuyển giai đoạn từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân sang cách mạng XHCN
để khảo sát quá trình phát huy sức mạnh tổng hợp của Quốc phòng toàn dân trong
thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược của Đảng đề ra là xây dựng thành công và bảo
vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.
*- Về nội dung: Quốc phòng vốn là một chủ đề lớn, nội hàm rộng bao gồm
toàn bộ hoạt động của Nhà nước và toàn dân nhằm bảo vệ Tổ quốc. Vì vậy luận ná
chỉ tập trung làm sáng tỏ quá trình Đảng ta giai quyết mối liên hệ giữa các yếu toó,
Luận án được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận quân sự.
-
Phương pháp chủ đạo được sử dụng từ đầu đến cuối luận án là
phương pháp lịch sử kết hợp với lôgíc.
-
Ngoài ra còn sử dụng phương pháp tổng hợp, so sánh, phương pháp
thống kê quân sự.
7.
ý nghĩa khoa học của luận án.
- Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo phục vụ cho nghiên cứu ,
giảng dạy ở các Học viện, Trường sỹ quan, Đại học trong và ngoài quân
đội.
8.
Kết cấu luận án.
Ngoài phần mở đầu, kết luận của danh mục tài liệu tham khảo, luận án gồm
3 chương với 9 tiết.
CHƯƠNG I
NHỮNG QUAN ĐIỂM CƠ BẢN CỦA ĐẢNG VÀ HỒ CHỦ TỊCH VỀ
XÂY DỰNG VÀ PHÁT HUY SỨC MẠNH TỔNG HỢP TRONG CÁCH
quy luật khác không có mục đích tự thân, không hoạt động một cách tự phát mù
quáng mà phải thông qua hoạt động thực tiễn của con người. Vì vậy, sự vận động
cách mạng với tính cách là một quá trình phát triển cao của tiến bộ xã hội, tức cách
mạng xã hội chủ nghĩa thì nó là một quá trình vận động tự giác của con người giác
ngộ nắm được quy luật, làm chủ được vân mệnh và tiến trình lịch sử của mình, đòi
hỏi không những phải phát phát hiện được đầy đủ các nhân tố, các điều kiện, các
lực lượng, các xu hướng tạo thành sức mạnh tổng hợp quy định sự phát triển của
nó, mà còn có thể tạo ra những nhân tố, điều kiện và lực lượng đang còn tồn tại
dưói dạng tiềm năng để biến thành khả năng hiện thực thúc đẩy sự phát triển nhanh
hơn. Từ đó đIều khiển, hướng tất cả mọi hoạt động theo một hướng xác định, nhằm
phát huy sức mạnh cùng chiều, gạt bỏ những lực cản, tạo thành một tổng hợp lực
của quá trình cách mạng là điều hết sức cần thiết và hoàn toàn có thể làm được.
Lênin đã coi những công việc đó là trách nhiệm của giai cấp công nhân mà trực
tiếp là Đảng Cộng sản: “ Trong điều kiện nhất định, có thể và và cần phải kết hợp
những cái đối lập sao cho thu được một bản giao hưởng chứ không phải một khúc
hỗn tạp” (2, tr.23).
Cách mạng XHCN tháng mười Nga – 1917 thành công là kết quả tổng hợp
của hàng loạt các yếu tố, các lực lượng và các xu hướng, tư tưởng, vừa thống nhất
vừa mâu thuẫn nhau trong hoàn cảnh lịch sử nước Nga dưới sự kiểm soát của giai
câps tư sản nắm chính quyền.
Để giải quyết những mâu thuẫn xã hội, Đảng Bônsêvích Nga đứng đầu là
Lênin đã chủ trương tiến hành cuộc cách mạng XHCN, trước hết là đánh đổ giai
cấp tư sản và địa chủ phong kiến giành chính quyền về tay nhân đân, thiết lập
chuyên chính vô sản, sau đó dùng chuyên chính vô sản để tiến hành giai đoạn tiếp
theo là xây dựng CNXH. Để đi đến mục đích của mình, Đảng bônsêvích Nga và
Lênin đã lựa chọn phướng pháp cách mạng bạo lực tổng hợp của quần chúng: dựa
vào lực lượng chính là công nhân, nông dân và binh lính giác ngộ cách mạng làm
nòng cốt cho khởi nghĩa vũ trang, kết hợp chặt chẽ lực lượng chính trị với lực
mạnh bạo lực của quần chúng bị áp bức bóc lột chống lại bạo lực phản cách mạng
của kẻ thù.
*- Cách mạng Việt Nam diễn ra trong thời đại mới.
Thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH mở đầu bằng cách mạng XHCN
tháng Mười Nga (1917), Nó có ảnh hưởng to lớn đến cách mạng toàn thế giới,
trong đó có cách mạngViệt Nam. Vì thế cách mạng Việt Nam, từ khi có Đảng
Cộng sản Việt Nam lãnh đạo đã là một bộ phận khăng khít của cách mạng thế giới
và luôn được sự ủng hộ về nhiều mặt của phong trào cách mạng thế giới. Đó là một
nhân tố khách quan thuận lợi cho quá trình xây dựng sức mạnh tổng hợp của cách
mạng Việt Nam.
- Sau cách mạng XHCN tháng Mười Nga (1917) thành công, chủ nghĩa đế
quốc lún sâu vào khủng hoảng, hệ thống thuộc địa bị phá vỡ từng mảng lớn, để
củng cố địa vị thống trị của mình trên thế giới, chủ nghĩa đế quốc ngày càng tỏ ra
phản động, hiếu chiến, đặc biệt là đế quốc Mỹ. Chúng tìm mọi cách liên minh với
các thế lực phản động chống lại phong trào cách mạng thế giới, chống lại CNXH,
trong đó Việt Nam cũng là điểm chống phá của chúng. Vì thế, cách mạng Việt
Nam luôn là têu đIểm của cuộc đấu tranh giữa một bên là lực lượng cách mạng đấu
tranh cho độc lập tự do và CNXH, một bên là các thế lực đế quốc và phản động.
Do vậy tính chất của cách mạng Việt Nam rất gay go quyết liệt, lâu dài, phải chống
lại nhiều kẻ thù cùng một lúc và bao giờ các thế lực xâm lược lớn cũng lớn gấp
nhiều lần về kinh tế, quân sự, trang bị kỹ thuật, phương tiện chiến tranh, từ đó cần
thiết phải sử dụng sức mạnh tổng hợp của toàn đang tiến hành cách mạng. Những
đặc đIểm trên quy định nội dung, hình thức, phương pháp cách mạng. Thấu suốt
đặc đIểm tình hình, Đảng ta và Hồ Chủ Tịch ngay từ đầu đã dứt khoát lựa chọn
phương pháp cách mạng bạo lực dùng sức mạnh tổng hợp của quần chúng được tổ
chức, giáo dục tiến hành cuộc đấu tranh giành chính quyền, giành độc lập dân tộc
và ruộng đất cho dân cày, tiến thẳng lên CNXH, không qua giai đoạn phát triển
TBCN.
dân mất nước, có khả năng đem lại hạnh phúc cho họ và đời đời các thế hệ con
cháu sau này. Bởi vậy đường lối của Đảng đã in thành cương lĩnh thứ 2, ( Cương
lĩnh hành động) của quần chúng, khơi dậy sức mạnh tiền tàng vô tận của toàn thể
dân tộc lên trận tuyến đấu tranh bất chấp gian nguy. Lịch sử Việt Nam đã chứng
minh hành động cách mạng phi thường của cao trào cách mạng 1930-1931, ngay
sau khi Đảng ra đời đưa ra đường lối cứu nước đúng đắn, càng về sau khí thế cách
mạng và sức mạnh của quần chúng dưới sự lãnh đạo của đảng ngày càng tăng lên
gấp bội, quyết định sự phát triển của cách mạng Việt Nam.
Rõ ràng trong mỗi bước đi lên của cách mạng Việt Nam, trong mỗi thắng lợi
đạt được dù ở bất kỳ lĩnh vực nào của cách mạng đều bắt nguồn từ đường lôí
chính trị đúng đắn của Đảng.
Về đường lối quân sự, là một bộ phận hữu cơ của đường lối cách mạng, là
sự kế tục đường lối chính trị bằng phương thức khác, yếu tố góp phần quyết định
thắng lợi trong chiến tranh và trong xây dựng sức mạnh quân sự, đường lối quân sự
của Đảng là đường lối chiến tranh nhân dân, quốc phòng toàn dân, xây dựng lực
lượng vũ trang nhân dân.
Thực tiễn chiến đấu và chiến thắng của quân và dân ta trong hơn nửa thế kỷ
tiến hành khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh cách mạng lần lượt đánh bại các tên
đế quốc đầu sỏ như Nhật, Pháp, Mỹ cùng bè lũ tay sai. Đã chứng minh rằng đường
lối quân sự Việt Nam là sự phát triển của học thuyết quân sự Mác- Lê nin trong
điều kiện mới, là sự kế thừa truyền thống đánh giặc của ông cha và trở thành vốn
quý trong kho tàng nghệ thuật quân sự Việt Nam, góp phần bổ sung vào lý luận
quân sự mác xít.
Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta hầu hết là phải đương đầu với
các cuộc chiến tranh xâm lược với quy mô lớn, lâu dài gian khổ, chống chọi với
các thế lực hung hãn nhất của thời đại, to lớn, giàu có hơn ta nhiều lần. Vì vậy
thành tựu nổi bật trong đường lối quân sự Việt Nam đã kế thừa thành công nghệ
thuật “ lấy ít địch nhiều”, “ Lấy nhỏ thắng lớn”, của ông cha ta, chiến thắng mọi
đôí tượng tác chiến trong các điều kiện hoàn cảnh khác nhau. Nó có giá trị thiết
Năm là: Tiến hành chiến tranh theo phương thức nào? ( phương pháp), với
những vũ khí, phương tiện gì, lực lượng ?
Trong chiến tranh giải phóng về cơ bản Đảng ta áp dụng phương pháp kết
hợp đấu tranh chính trị vơí đấu tranh quân sự, theo phương châm làm chủ và tiến
công; tiến công và làm chủ, với lực lượng cơ bản gồm lực lượng chính trị phối hợp
với lực lượng vũ trang ba thứ quân.
-
Sáu là: Người tổ chức lãnh đạo chiến tranh là Đảng Cộng sản Việt Nam,
nhân tố quyết định thắng lợi.
Những vấn đề trên của đường lối quân sự là một thể thống nhất biện chứng,
từ cơ cấu mục tiêu, nhiệm vụ đến cơ cấu lực lượng, cách thức biện pháp tổ chức
thực hiện, nhân tố lãnh đậo… Tất cả những nội dung của đường lối sự phản ánh lý
luận sức mạnh tổng hợp hoàn chỉnh, vì thế trong quá trình tổ chức thực hiện Đảng
luôn luôn tạo ra được sức mạnh tổng hợp vô địch cuả chiến tranh nhân dân, đánh
bạI mọi kẻ thù xâm lược, cho dù chúng hung hãn đến đâu chăng nữa.
- Về đường lối ngoại giao: Ngay từ đầu trong đường lối chiến lược của
mình, Đảng ta luôn luôn xác định cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách
mạng thế giới, khéo kết hợp mục tiêu cách mạng Việt Nam với mục tiêu thời đại,
đấu tranh cho hoà bình độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội. Cho nên vị trí của cách
mạng Việt Nam luôn đi đúng dòng thời đại, tạo được sự ủng hộ to lớn của bạn bè
quốc tế.
Trước sau như một đường lối đối ngoại của Đảng luôn tuân theo phương
châm thêm bạn, bớt thù và nguyên tắc quốc tế vô sản, tôn trọng độc lập chủ quyền
và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau,
trong đó coi đoàn kết chiến đấu với phong trào cộng sản và công nhân quốc tế là
vừa phải giữ vững nguyên tắc vừa linh hoạt mềm dẻo trong sách lược đối ngoạI,
tránh những xung đột, mâu thuẫn không đáng xảy ra, tranh thủ thời cơ, vận hội đưa
đất nước đI lên, mọi sự thái quá lúc này đều dẫn đến hậu quả không lường; thực
hiện theo lời dạy của Bác: “Không lẽ vì muốn đập chết con nhặng mà đánh rơi cả
viên ngọc quý”.
*- Nói đến sức mạnh tổng hợp trong cách mạng Việt Nam không chỉ nói đến
đường lối chính trị, quân sự, ngoại giao mà còn phải kể đến phương pháp cách
mạng, là một bộ phận không thể thiếu được trong đường lối chiến lược, là yếu tố
góp phần tạo nên sức mạnh tổng hợp nhằm thực hiện mục tiêu cách mạng mà
đường lối đã đề ra.
Căn cứ vào điều kiện hoàn cảnh và đối tượng của cách mạng Việt Nam,
ngay từ đầu Đảng ta và Hồ Chủ Tịch đã lựa chọn phương pháp cách mạng bạo lực,
coi đó là con đường duy nhất giành chính quyền, không bao giờ có ảo tưởng theo
con đường cải lương thoả hiệp.
Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã quán triệt quan điểm cách mạng bạo lực của chủ
nghiã Mác- Lênin áp dụng vào hoàn cảnh cụ thể của cách mạng Việt Nam.Trong
tác phẩm “ đường cách mệnh” viết năm 1927 dùng cho các lớp huấn luyện cán bộ
cốt cán của cách mạng sau này (tại Quảng Châu- Trung Quốc), Người đã nêu lên
quan điểm sức mạnh tổng hợp của phương pháp cách mạng bạo lực là: “Cách
mạng phải biết làm thì mới chóng”; “Biết cách làm, biết đồng tâm hiệp lực mà làm
thì chắc chắn làm được”(42, tr.75).
Sau này những tư tưởng trên của người được ghi thành những quan điểm lớn
trong “chính cương, sách lược vắn tắt”, Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng và
có gía trị chỉ đạo to lớn. Đó là phương pháp cách mạng bạo lực dựa vào lực lượng
chính trị của quần chúng và lực lượng vũ trang nhằm đập tan bộ máy bạo lực phản
cách mạng của đế quốc và phong kiến giành chính quyền về tay nhân dân.
Sau khi giành được chính quyền tháng 8- 1945, cả nước bước vào cuộc
kháng chiến chống thực dân Pháp, trong thư gửi đồng bào chiến sĩ miền Mam
Thực hiện làm chủ để tiêu diệt địch, tiêu diệt địch để làm chủ; nắm vững phương
châm chiến lược đánh lâu dài; đồng thời biết tạo thời cơ và năm vững thời cơ, mở
những trận tiến công chiến lược… tiến tới thực hiện tổng tiến công và nổi dậy đè
bẹp quân thù giành thắng lợi cuối cùng “(9.,Tr. 25,26).
Những điển hình về nghệ thuật sử dụng phương pháp cách mạng bạo lực của
Đảng được ghi nhớ mãi trong sử sách là thắng lợi của khởi nghĩa giành chính
quyền trong cách mạng tháng tám – 1945, là kết quả của sự kết hợp giữa đấu tranh
chính trị và đấu tranh quân sự, bằng hai lực lượng cơ bản là lực lượng chính trị và
lực lượng quân sự. Trong đó lực lượng chính trị và đấu tranh chính trị là chủ yếu
quyết định, lực lượng vũ trang là hỗ trợ quan trong. Vì vậy cách mạng tháng Tám
là điển hình về một cuộc cách mạng giành chính quyền nhanh nhất, ít đổ máu nhất
tronh lịch sử cách mạng thế giới.
Đến kháng chiến chống Mỹ cứu nước phương pháp cách mạng bạo lực thể
hiện đầy đủ sinh động nhất, đặc biệt là sự kết hợp hai hình thức đấu tranh chính trị
và quân sự tiến hành song song, nó áp dụng linh hoạt vào từng vùng khác nhau
trong cách mạng miền Mam.
*- Sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng là nhân tố cơ bản quyết định phát huy sức
mạnh tổng hợp của cách mạng Việt Nam.
Quy luật hợp lực đã chỉ rõ mỗi nhân tố, mối lực lượng và các thành phần
tham gia vào quá trình vận động cách mạng xã hội, chỉ phát huy tác dụng của từng
mặt nhất định, theo đặc điểm môi trường hoạt động của mình, thế nhưng quá trình
vận động của cách mạng lại là quá trình thống nhất các yếu tố, các lực lượng đòi
hỏi một sự phát huy tác dụng đồng bộ các nhân tố, lực lượng tham gia mới tạo
thành được sức mạnh tổng hợp lực. Đương nhiên tự bản thân chúng không bao giờ
trở thành sức mạnh được mà phải thông qua hoạt động lãnh đạo của Đảng với tư
cách là một nhân tố tham gia vào quá trình cách mạng. Vừa là người nắm bắt quy
luật và vận dụng quy luật thực hiện nhiệm vụ tập hợp các yếu tố, lực lượng và phát
huy sức mạnh từng nhân tố theo cùng một hướng; kết hợp một cách đồng bộ để tạo
mạng là yếu tố quan trọng hàng đầu. Gắn công tác xây dựng Đảng với phong trào
cách mạng quần chúng; thực hiện lới dạy của Bác Hồ: mỗi cán bộ từ trung ương
đến cơ sở đều là “công bộc” của nhân dân. Bởi thế trong chiến tranh giải phóng
dân tộc Đảng ta luôn được quần chúng tin tưởng, ủng hộ, che chở đùm bọc vượt
qua mọi hiểm nghèo suốt thời kỳ hoạt động trong bóng tối, mọi chỉ thị mệnh lệnh
của Đảng đưa ra đều được quần chúng tham gia một cách tự giác và biến thành
những phong trào đấu tranh rộng lớn mạnh mẽ.
Tóm lại: Các nhân tố tạo nên sức mạnh tổng hợp của cách mạng Việt Nam là
sự kết hợp hài hoà giữa đường lối chính trị, đường lối quân sự, đường lối ngoại
giao và phương pháp cách mạng; nghệ thuật tổ chức chỉ đạo chiến lược, sách lược;
quá trình xây dựng lực lượng cách mạng nòng cốt là 2 giai cấp công nhân và nông
dân; cùng với vai trò lãnh đạo tổ chức chỉ huy của Đảng là nhân tố quyết định việc
hình thành và phát huy sức mạnh tổng hợp trong cách mạng Việt Nam.
Đó là một thể thống nhất biện chứng tác động qua lại với nhau theo phương
hướng hoạt động chung là đấu tranh cho độc lập dân tộc và CNXH, tạo thành sức
mạnh tổng hợp to lớn thúc đẩy lịch sử tiến lên không ngừng; kết thúc vẻ vang một
giai đoạn cách mạng quan trọng- cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, tạo tiền đề
thuận lợi cho giai đoạn cách mạng tiếp theo- cách mạng XHCN. Ngày nay về cơ
bản những nhân tố trên đang phát huy tác dụng trong sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc Việt Nam.
3. Xây dựng nền quốc phòng toàn dân theo quan điểm sức mạnh tổng
hợp.
a)
Chủ nghĩa Mác- Lênin bàn về quốc phòng bảo vệ Tổ quốc.
Trong điều kiện CNTB chưa phát triển thành chủ nghĩa đế quốc, MácĂngghen cho rằng: trong qua trình cách mạng XHCN, nếu bị những nước tư bản
xâm lược thì giai cấp vô sản phải tiến hành chiến tranh tự vệ chống lại chúng.
Đồng thời hai ông kêu gọi giai cấp vô sản hãy đứng về phía các dân tộc bị áp,
go gian khổ, trong trường hợp đó sự nghiệp củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc
là chính nghĩa.
Ít lâu sau cuộc cách mạng XHCN tháng Mười Nga (1917) thành công và dự
đoán của Lênin đã thành sự thật. Lênin đã kêu gọi toàn dân đứng lên bảo vệ thành
quả cách mạng của mình trước sự tiến công bao vây của CNTB thế giới.
“ Từ ngày 25-10-1917 chúng ta là những bảo vệ Tổ quốc, chúng ta tán thành
bảo vệ Tổ quốc. Chiến tranh giữ nước mà chúng ta tiến hành là một cuộc chiến
tranh để bảo vệ Tổ quốc XHCN; bảo vệ CNXH với tính cách là Tổ quốc” (12, tr.
216).
Như vậy tình thần cơ bản trong lời kêu gọi của Lênin hàm chứa nội dung
tính tất yếu khách quan của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Tổ quốc phải bằng
sức mạnh của cả nước, của cả chế độ XHCN chứ không phải của riêng lĩnh vực
nào. Suy rộng ra có nghĩa là bảo vệ Tổ quốc XHCN với tính cách là cả một hình
thái kinh tế- xã hội, với những bản chất ưu việt của nó, có khả năng đầy đủ tạo
thành sức mạnh tổng hợp để giữ nước.
Để chuẩn bị kế hoạch giữ nước một cách căn bản, ngay tại Đại hội lần thứ II
(1917) của Đảng bônsêvích Nga, Lênin đã đưa ra khái niệm về sức mạnh quân sự
của Nhà nước XHCN: “Đối với chúng ta, một nước mạnh là nhờ sự giác ngộ của
quần chúng, một nước mạnh là khi nào quần chúng biết rõ mọi cái, quần chúng có
thể phán đoán về mọi cái và đi vào hành động một cách có ý thức. Vì vậy sức
mạnh của một nhà nứoc bao gồm những khả năng của cơ cấu xã hội, giai cấp, các
tiềm lực kinh tế, khoa học, tinh thần, chính trị và tiềm lực quân sự “ (12, tr. 413).
Từ những quan đIểm cơ bản trên, kết hợp với sự lãnh đạo chỉ đạo của Đảng
bônsêvich Nga đứng đầu là Lênin đã tiến hành phát động toàn dân đứng lên bảo vệ
Tổ quốc bằng sức mạnh của toàn bộ đất nước XHCN, diễn ra toàn diện trên tất cả
các lĩnh vực chính trị, kinh tế, quân sự, khoa học kỹ thuật…, bằng sức mạnh tổng
hợp của chế độ mới XHCN, do đó đã đánh bại mọi cuộc tấn công của CNTB.
Trên thực tế, quá trình tồn tại nước XHCN đầu tiên trên thế giới là quá trình
mạng trong nước vừa mới giành được, bảo vệ độc lập dân tộc là nhiệm vụ hàng
đầu, là vấn đề sống còn của dân tộc. Đáp ứng yêu cầu cấp bách đó của cách mạng,
Hồ Chủ tịch đã nhanh chóng xúc tiến công việc bảo vệ quan điểm sức mạnh tổng
hợp, triển khai toàn diện sức mạnh đấu tranh trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị,
quân sự, văn hoá, ngoại giao. Chủ trương của Người là phảI tiến hành tiêu diệt cả “
ba thứ giặc”; giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm, kết hợp với kiện toàn nhà nước và
các thiết chế của nhà nước dân chủ nhân dân, trong đó có sắc lệnh thành lập Bộ
Quốc phòng, nhằm củng cố thực lực cách mạng coi đó là cơ sở nguồn gốc của sức
mạnh giữ nước và bảo vệ chính quyền. Đồng thời kết hợp với đẩy mạnh hoạt động
ngoại giao khôn khéo, mềm dẻo đúng nguyên tắc để giải giáp quân Nhật; gạt quân
Anh- Tưởng về nước; hoà hoãn với Pháp; loại trừ bọn phản động tay sai của Quốc
dân đảng là hai tổ chức Việt quốc, Việt cách mà không phải dùng đến quân sự,
hoạt động quân sự lúc này chỉ làm nhiệm vụ hỗ trợ, là hậu thuẫn cho các hoạt động
chủ yếu khác.
Làm như vậy chính là thể hiện quan điểm giữ nước bằng sức mạnh tổng hợp,
không thiên về một mặt nào, của Đảng ta và Hồ Chủ tịch.
Khi giặc Pháp gây chiến ở Nam bộ, khiêu khích ở Hải phòng chỉ sau khi ta
giành chính quyền chưa đầy một tháng nhưng Bác vẫn kiên trì, thậm chí có những
nhân nhượng mang tính sách lược để tranh thủ thời gian củng cố thực lực cách
mạng , mãi tới tháng 12-1946 mới phải thực hiện toàn quốc kháng chiến. Và cuộc
kháng chiến mà người lựa chọn thấm nhuần sâu sắc quan đIểm sức mạnh tổng hợp;
thể hiện trong lời hiệu triệu giữ vững và đẩy mạnh cuộc kháng chiến ở Nam bộ
( 22-12-1946): “ Cách thực hành trường kỳ kháng chiến và toàn dân kháng chiến:
bằng quân sự ( dũng cảm kỷ luật); bằng chính trị ( đoàn kết, trật tự ); bằng kinh tế (
tăng gia sản xuất); bằng ngoại giao ( thêm bạn bớt thù). Trước hết là bằng tinh
thần, bại không nản, thắng không kiêu… chung sức, đồng tâm nhất trí, giữ gìn trật
tự, tuân theo mệnh lệnh của chính phủ” ( 32,tr.13).
Dự đoán cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp lần này sẽ quyết liệt
lâu dàI, trong khi đó chúng ta còn hạn chế về nhận thức quân sự, vì vậy Hồ Chủ
không đánh được, cho nên đánh là cố nhiên, nhưng không phải là chỉ đánh thôi mà
phải lo cả các mặt khác nữa” ( 6,tr.262,263).
Mặt khác Người còn nêu lên mối quan hệ giữa các ngành, các cấp trong thực
hiện nhiệm vụ chung là kháng chiến và kiến quốc coi đó là khác nhau cơ bản trong
tổ chức xây dựng sức mạnh tổng hợp.
4. Về cán bộ thì cán bộ quân sự chỉ biết quân sự, cán bộ chính quyền chỉ biết
chính quyền, cán bộ Đảng chỉ biết Đảng, như thế chẳng khác gì người đứng một
chân. Cán bộ chỉ biết một mặt là có hại, không vững; vì các mặt quân, dân, chính,
Đảng kết hợp lại thành một khối, thiếu một mặt thì không mạnh, không hoàn
toàn… Lúc đánh nhau, tất cả mọi mặt phải gắn liền với nhau thì mới thắng
được”(32, tr. 13).
Cùng với việc tăng cường xây dựng thực lực cách mạng, phục vụ cho kháng
chiến diễn ra trên tất cả các mặt của đời sống xã hội và tất cả các ngành, các cấp,
Bác còn đặc biệt chú ý đến vai trò lãnh đạo của Đảng, coi đó là nhân tố quyết định
thúc đẩy quá trình hình thành sức mạnh tổng hợp. “Nếu tổ chức Đảng mạnh thì
mọi công việc đều chạy” (32, tr.14).
Bằng những dẫn chứng trên cho thấy Hồ Chủ Tịch đã ý thức rất rõ các nhân
tố, các lực lượng tahm gia vào quá trình tạo nên sức mạnh tổng hợp. Đồng thời
Người còn trực tiếp tổ chức điều hành giải quyết mối liên hệ giữa các yếu tố, lực
lượng, các ngành, các cấp, biết gạt bỏ những trở lực (như việc chỉ ra khuyết điểm
của cán bộ ta lúc đó…), quy tụ các hoạt động hướng vào một mục đích chung theo
quy luật hợp lực trong cách mạng nhằm giải quyết thắng lợi các mục tiêu trong
từng thời kỳ.
Những lời chỉ bảo trên của Người thực chất là bài học về quan điểm sức
mạnh tổng hợp.
Sau này. một trong những nhân chứng của lịch sử đã phải lên tiếng thừa
nhận nguyên nhân chiến thắng của một dân tộc nhỏ bé nhưng đã biết sử dụng một
phương tiện cực kỳ hữu hiệu, đó là phương pháp sử dụng sức mạnh tổng hợp;
Mỹ cứu nước, giải phóng miền Nam, Đảng ta và Hồ Chủ tịch luôn có ý thức chăm
lo xây dựng quốc phòng, hình thành đường lối chiến tranh nhân dân và quốc phòng
toàn dân. Nghị quyết Quân uỷ trung ương 11- 1964 đã nêu: “Đường lối xây dựng
căn cứ địa, hậu phương đã phát triển thành đường lối quốc phòng toàn dân với
những nội dung mới về các mặt xây dựng chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội cũng
như quân sự theo yêu cầu của chiến tranh bảo vệ Tổ quốc sau này và yêu cầu của
nhiệm vụ làm căn cứ địa cho cách mạng cả nước và cách mạng của các nước láng
giềng trên bán đảo Đông dương” (23, tr. 66).
Trên thực tế từ 1954 đến 1975 nó đã phát huy tác dụng hiệu quả, đối phó
thắng lợi với chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của đế quốc Mỹ
vào miền Bắc, bảo vệ vững chắc thành quả cách mạng XHCN, bảo vệ Đảng, bảo
vệ chính quyền và cuộc sống của nhân dân. Đồng thời đã cung cấp sức người, sức
của cho cách mạng miền Nam… góp phần quyết định thắng lợi sự nghiệp thống
nhất đất nước, tạo cơ sở cho quá trình xây dựng nền quốc phòng toàn dân ở giai
đoạn sau.
Những nỗ lực trên đây của Đảng và Hồ Chủ tịch đã chứng minh rằng: trong
khi tập trung sức lực cho sự nghiệp giải phóng miền Nam Đảng vẫn không ngừng
chăm lo sự nghiệp củng cố quốc phòng theo quan điểm sức mạnh tổng hợp, đồng
thời luôn uốn nắn khuynh hướng đồng nhất quốc phòng với chiến tranh và quốc
phòng với quân sự thuần tuý. Nội hàm của uqóc phòng bao giờ cũng rộng hơn
quân sự, ngoài yếu tố quân sự làm nòng cốt, trong quốc phòng còn có các lĩnh vực
khác cùng tham gia cấu thành sức mạnh tổng hợp cũng phải được chú ý xây dựng
như chính trị giữ vững vị trí chỉ đạo, kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật, giữ vị trí
làm nền tảng cho quân sự.
Tuy nhiên do đặc điểm của một đất nước luôn ở trạng thái đương đầu với
chiến tranh cho nên yếu tố quân sự nổi trội hơn tất cả, còn quốc phòng với đầy đủ
nguyên nghĩa của nó thì chúng ta vẫn còn phải hoàn thiện thêm, chẳng hạn như xây
dựng tiềm lực các mặt cho quốc phòng, chiến lược quốc phòng…