(Luận án tiến sĩ) phát huy truyền thống khoan dung nhằm tăng cường đồng thuận xã hội ở việt nam hiện nay - Pdf 35

1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong sự phát triển của mình, bất kỳ quốc gia, dân tộc nào cũng đều kế
thừa những truyền thống tốt đẹp mà thế hệ trước để lại để vươn tới trình độ
mới cao hơn, đó chính là biện chứng của sự phát triển. Từ lịch sử dựng nước
và giữ nước hàng nghìn năm, ông cha ta đã rút ra nhiều bài học quý báu, cả
trong đối nội và đối ngoại. Ví như, trong quan hệ cộng đồng, mặc dù đất nước
có nhiều dân tộc, tôn giáo khác nhau, nhưng tinh thần chung là: “Bầu ơi
thương nấy bí cùng / Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”; thái độ đối
với những người mắc lỗi lầm nhưng biết ăn năn hối cải thì: “đánh kẻ chạy đi
không ai đánh người chạy lại”; còn đối với kẻ thù xâm lược khi đã đầu hàng:
“Họ đã tham sống sợ chết mà hòa hiếu thực lòng / Ta lấy toàn quân là hơn để
nhân dân nghỉ sức”… Nhờ thực hiện những tinh thần ấy, toàn dân tộc đã đoàn
kết, thống nhất, đồng sức, đồng lòng chống thiên tai, giặc ngoại xâm, xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Trong giai đoạn đổi mới và hội nhập quốc tế, do chú ý phát huy truyền
thống khoan dung, tăng cường đồng thuận xã hội nên sự nghiệp cách mạng
nước ta đã đạt những thành tựu to lớn: chính trị ổn định, an ninh - quốc phòng
được giữ vững, các vấn đề văn hóa – xã hội bức xúc từng bước được giải
quyết, khối đại đoàn kết toàn dân tộc không ngừng được mở rộng, củng cố
vững chắc, đi vào chiều sâu. Đúng như nhận định của Văn kiện Đại hội XI:
“Khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân
với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng tiếp tục
được mở rộng và tăng cường trên cơ sở thống nhất về mục tiêu dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” [27, tr.158].


2



vùng miền ngày càng doãng ra làm cho những mâu thuẫn, bất đồng trong xã
hội ngày càng gia tăng.
Bốn là, khi nguồn “năng lượng” đã từng phát huy vai trò tích cực của nó
trong công cuộc đổi mới những năm qua dần cạn kiệt, thì dân chủ hóa đời
sống xã hội phải được xem như một động lực cần được khai thác nhiều hơn
cho sự phát triển đất nước. Muốn vậy, phải tôn trọng, chấp nhận những quan
điểm, ý kiến khác nhau - hay nói cách khác, phải thực hành khoan dung; song,
làm thế nào để các ý kiến khác nhau được tôn trọng nhưng vẫn giữ vững được
vai trò lãnh đạo của Đảng, đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa ?
Năm là, những diễn biến phức tạp trên biển Đông gần đây đòi hỏi cả dân
tộc phải đoàn kết, thống nhất để bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ
của Tổ quốc. Nhưng, một bộ phận nhỏ quần chúng nhân nhân, vì bất bình
trước các hành vi ngang ngược của Trung Quốc đã có những hành động tự
phát, thiếu kiềm chế với một số doanh nghiệp, doanh nhân, công nhân người
nước ngoài. Điều này đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến truyền thống yêu
chuộng hòa bình, hòa hiếu, sức mạnh chính nghĩa của dân tộc trong con mắt
bạn bè quốc tế.
Những yếu tố trên đang tác động bất lợi đến quy tụ sức mạnh toàn dân tộc
để thúc đẩy quá trình đổi mới tiến lên. Trong bối cảnh đó, phát huy truyền
thống khoan dung nhằm tăng cường đồng thuận xã hội càng trở thành vấn đề
có tính chất quyết định. Có thể nói rằng: chưa bao giờ sự nghiệp xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc đòi hỏi phải phát huy tối đa sức mạnh toàn dân tộc gắt gao như
hiện nay. Cũng chưa bao giờ sức mạnh dân tộc đòi hỏi nhất thiết phải được
xác lập trên cơ sở phát huy sự giác ngộ và khả năng cống hiến của từng thành
viên trong cộng đồng dân tộc như hiện nay. Điều này có nghĩa: dưới sự lãnh
đạo của Đảng, phát huy cho được truyền thống khoan dung nhằm tăng cường


4

Luận án sử dụng các phương pháp chung trong nghiên cứu khoa học xã hội
và nhân văn theo quan điểm mácxít như: kết hợp chặt chẽ logic và lịch sử; lý
luận và thực tiễn; phân tích và tổng hợp; nghiên cứu văn bản…
5. Cái mới của luận án
Một là, luận án nghiên cứu khoan dung, đồng thuận xã hội; phát huy
truyền thống khoan dung nhằm tăng cường đồng thuận xã hội từ phương diện
chính trị - xã hội;
Hai là, luận án xác lập được cơ sở lý luận và thực tiễn về sự cần thiết phát
huy truyền thống khoan dung nhằm tăng cường đồng thuận xã hội ở Việt Nam
hiện nay;
Ba là, luận án làm sáng tỏ những thành tựu, hạn chế phát huy truyền thống
khoan dung nhằm tăng cường đồng thuận xã hội ở Việt Nam trong thời kỳ đổi
mới trên một số lĩnh vực chủ yếu; chỉ rõ những vấn đề đang đặt ra cần được
nghiên cứu giải quyết;
Bốn là, luận án đã đề xuất sáu quan điểm, bốn nhóm giải pháp phát huy truyền
thống khoan dung nhằm tăng cường đồng thuận xã hội ở Việt Nam hiện nay.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
6.1. Ý nghĩa lý luậ n : luận án góp phần phát triển thêm một bước nhận
thức về khoan dung, đồng thuận xã hội; vai trò của khoan dung đối với xây
dựng đồng thuận xã hội; từ đó, tổng kết thực tiễn lịch sử dân tộc trong việc
phát huy tinh thần khoan dung nhằm tăng cường đồng thuận xã hội, đoàn kết
dân tộc trong giai đoạn cách mạng hiện nay.
6.2. Ý nghĩa thự c tiễ n : luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho
việc nghiên cứu, giảng dạy các nội dung có liên quan mà luận án đã trình bày;


6

cung cấp cơ sở lý luận cho các nhà quản lý, hoạch định chính sách về khoan
dung, đồng thuận xã hội; phát huy truyền thống khoan dung nhằm tăng cường

văn hóa Ấn Độ. Theo tác giả, nói chung, người Ấn Độ có xu hướng chấp nhận
mọi sự tồn tại của những thế giới quan triết học và tôn giáo trên thế giới. Họ
cho rằng, những tư tưởng khác nhau này dường như mâu thuẫn với nhau
nhưng đều dựa trên cái Tuyệt đối. Quan điểm này, về mặt khách quan, dựa
trên tư tưởng mọi thứ trên thế giới đều là một; về mặt chủ quan, dựa trên sự
phản ánh tất cả những hành động của con người đều bắt nguồn từ quan điểm
siêu hình và nguyên lí nhất nguyên luận.
Nguyễn Dy Niên, 1995 – Năm quốc tế về khoan dung [13, tr. 379-384];
trong bài viết, tác giả đã làm rõ quá trình ra đời, phát triển quan điểm của


8

UNESCO về khoan dung, những tác động của nó đối với việc giữ vững hòa bình
cho nhân loại. Đồng thời, tác giả đã lý giải nguồn gốc ra đời khoan dung Việt
Nam: “Khoan dung là một trong những giá trị tinh thần của văn hóa Việt Nam.
Đó là kết quả của quá trình thích nghi với thiên nhiên và đấu tranh xã hội để sinh
tồn và phát triển của dân tộc” [13, tr.382]; đề xuất một số cách thức nhằm phát
huy truyền thống khoan dung Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa.
Nguyễn Thị Phương Mai, Tư tưởng khoan dung và ý nghĩa hiện thời
của nó [83]; đây là công trình nghiên cứu khoan dung dưới phương diện triết
học. Trong luận án, tác giả đã đi sâu nghiên cứu ba vấn đề cơ bản: một là,
khái niệm và lịch sử tư tưởng khoan dung; hai là, sự tích hợp các giá trị Đông
– Tây của tư tưởng khoan dung trong nhận thức và hoạt động của Mahatma
Ghandi và Hồ Chí Minh; ba là, ý nghĩa tư tưởng khoan dung trong bối cảnh
toàn cầu hóa. Qua đó, tác giả đi đến nhận định tính tất yếu của thực hiện
khoan dung trong giai đoạn hiện nay: “toàn cầu hóa dẫn tới sự giao lưu, tiếp
xúc giữa các dân tộc, tôn giáo, các nền văn hóa khác nhau. Trong khi đó, cả
nhân loại đều có mục tiêu chung là duy trì hòa bình để tồn tại và phát triển.
Do vậy, chấp nhận sự khác nhau để cùng tồn tại, phát triển là yêu cầu tất yếu

dung tôn giáo, tác giả cho là: “phạm trù dùng để chỉ một thái độ, ứng xử tôn
trọng, hòa hợp đới với cái khác biệt, khác lạ, thậm chí là đối lập lại với mình.
Là sự chế ngự, xóa bỏ được thói loại trừ, khai trừ, kỳ thị, lo sợ cái khác lạ, cái
khác mình, cái đối lập với mình. Khoan dung không phải là sự nhượng bộ, sự
hạ mình hay nhận đặc ân, mà khoan dung còn là trách nhiệm, là sự duy trì
mọi quyền con người (trong đó có quyền tự do tư tưởng và tôn giáo” [45, tr.
24]. Về lịch sử hình thành tư tưởng khoan dung, tác giả cho rằng nó đã được
hình thành từ thời cổ đại cả ở phương Đông và phương Tây. Ở phương Đông,
theo tác giả, mặc dù không có khái niệm khoan dung nhưng những tư tưởng
của nó được thể hiện trong các khái niệm tương đương như: “hòa” của Nho
giáo, “hòa nhi bất đồng” của Lão Trang…Ở phương Tây, tư tưởng khoan


10

dung đã xuất hiện rất sớm trong các tôn giáo, tiêu biểu là lý tưởng: “bỏ gươm
vào vỏ, vì ai dùng gươm sẽ chết vì gươm” [45, tr. 12]. Về khoan dung Việt
Nam, tác giả nhận định: “Việt Nam chịu ảnh hưởng từ rất sớm ba lý thuyết
Nho, Phật, Đạo của Trung Hoa và Ấn Độ, nên người Việt thấm nhuần tinh
thần khoan dung. Người Việt dùng thuật ngữ “An - Yên” để diễn đạt trạng
thái khoan dung, hòa hợp [45, tr. 21].
Giang Văn Toàn, Khoan dung một cách giáo dục [133]; trên phương
diện giáo dục học, tác giả nhấn mạnh đặc trưng: “sự cao thượng trong tâm
hồn, sự bao dung trong suy nghĩ, sự độ lượng trong hành động” [133, Lời tựa]
của khoan dung. Trong cuốn sách, ông đã đưa ra nhiều ví dụ điển hình của
tinh thần khoan dung nhằm giáo dục nhân cách con người trên các phương
diện chính trị, đạo đức; trong các môi trường gia đình, nhà trường, xã hội;
trong các quan hệ: bạn - bè, vợ - chồng, cha - con, cấp trên – cấp dưới…
Lương Mỹ Vân, Tư tưởng khoan dung trong triết học Khai sáng Pháp
[142]; trong bài viết này, trên cơ sở triết học, tác giả đã phân tích cơ sở chính

con người và cả cộng đồng nhân loại.
Phạm Xuân Nam, Đối thoại văn hóa trong bối cảnh toàn cầu hóa [89];
trong bài viết này, thông qua việc phân tích bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay,
tác giả cho rằng, toàn cầu hóa ngày càng tăng, chúng ta đang chứng kiến một
thế giới trở nên cởi mở, gắn kết với nhau hơn. Tuy nhiên, chủ nghĩa khủng bố
quốc tế, việc phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt, sự lan rộng của chủ nghĩa
phân biệt chủng tộc, sự không khoan dung về sắc tộc và tôn giáo... đang trở
thành những mối đe dọa cấp thiết đối với cộng đồng quốc tế trong công cuộc
xây dựng một thế giới hòa hợp và hòa bình. Trước những thách thức đó, cộng
đồng quốc tế hơn bao giờ hết cần xác định những biện pháp đối phó. Điều này
đòi hỏi phải tăng cường đối thoại giữa các nền văn hóa, văn minh trên cơ sở
bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau.


12

Trần Lê Bảo, Đối thoại giữa các nền văn hóa trong bối cảnh toàn cầu hóa
[12]; trong công trình này tác giả đã trình bày tính tất yếu của khoan dung, đối
thoại văn hóa trong giai đoạn hiện nay. Tác giả cho rằng, thế giới tồn tại nhiều nền
văn hóa khác nhau; hiện nay, do sự phát triển của khoa học - công nghệ làm cho
các nền văn hóa giao lưu, tiếp xúc với nhau. Từ đó, tất yếu các nền văn hóa cũng
phải đối thoại với nhau, tôn trọng sự tồn tại của nhau; đặc biệt, giao lưu, đối thoại
còn để học hỏi lẫn nhau: “Đối thoại giữa các nền văn hóa nhằm đưa lại sự đa dạng
văn hóa. Đa dạng văn hóa là di sản chung của nhân loại, là nguồn gốc của sự sáng
tạo, là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế và tiến bộ xã hội. Đa dạng văn hóa đem
lại sự khoan dung và hòa hợp, đưa tới sự đối thoại và hợp tác” [9].
Ngô Đức Thịnh (chủ biên), Những giá trị văn hóa truyền thống Việt
Nam [117], trong phần 4, chương VII, từ trang 668 đến 694, các tác giả đã
viết về Truyền thống khoan dung trong lịch sử văn hóa Việt Nam. Trong đó,
tác giả đã chỉ rõ khoan dung trong lịch sử văn hóa Việt Nam biểu hiện trên ba

tính khoan dung của văn hóa truyền thống lên tầm cao mới: “Trong văn hóa
truyền thống Việt Nam, khoan dung vừa là một phẩm chất, một đặc điểm, vừa
là hệ quả của quá trình hình thành và phát triển văn hóa truyền thống dân tộc...
Hồ Chí Minh là người đã kế thừa và phát triển những nội hàm mới của tính
khoan dung trong văn hóa truyền thống dân tộc lên tầm cao mới, đưa nó trở
thành một nhân tố của đòi sống thực tiễn cách mạng Việt Nam” [48, tr. 555].
Gần đây, một số công trình đã tiếp cận truyền thống khoan dung Việt Nam
trên phương diện chính trị; biểu hiện rõ nhất là tư tưởng “khoan thư sức dân”.
Nguyễn Văn Huyên, Nguyễn Hoài Văn, Nguyễn Văn Vĩnh, Bước đầu
tìm hiểu những giá trị văn hóa chính trị truyền thống Việt Nam [61], trong
chương IX của công trình này, các tác giả đã làm rõ luận điểm về: tinh thần
khoan dung, độ lượng, vị tha, thân dân của tư tưởng chính trị truyền thống
Việt Nam. Trong đó, nhiều vấn đề lý luận, ví dụ lịch sử sinh động được các
tác giả trích dẫn nhằm làm rõ tính chất khoan dung trong văn hóa chính trị


14

Việt Nam. Trên lĩnh vực đối nội, đó là đường lối cai trị khoan thư sức dân;
trên lĩnh vực đối ngoại, là tư tưởng hòa bình, hòa hiếu, tha thứ cho giặc ngoại
xâm khi chúng đã xin hàng.
Phùng Văn Khai, Khoan thư sức dân - Quốc sách dụng nước và giữ
nước [62], trong bài viết này, tác giả đã làm rõ đường lối cai trị khoan thư sức
dân trong lịch sử Việt Nam từ thời Hùng Vương dựng nước đến thời nhà Trần.
Thông qua các sự kiện lịch sử, tác giả đã làm rõ khoan thư sức dân là một quy
luật, một chính sách quan trọng hàng đầu trong dựng nước và giữ nước của dân
tộc ta. Khoan thư sức dân được biểu hiện rõ nhất ở chính sách thuế của nhà
nước với người dân, đặc biệt là những lúc nhân dân gặp khó khăn: “muốn ổn
định được đất nước, đánh thắng giặc ngoại xâm, bảo vệ độc lập dân tộc thì
khoan thư sức dân luôn là quốc sách và thượng sách giữ nước” [62].

diện khác nhau. Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu gần đây:
Phạm Ngọc Quang, Quan điểm, định hướng và giải pháp thực hành dân
chủ, đại đoàn kết toàn dân tộc, đồng thuận xã hội [102]; trong công trình này,
các tác giả đã bước đầu đưa ra khái niệm đồng thuận xã hội, mối quan hệ giữa
phát huy dân chủ, đại đoàn kết toàn dân tộc, đồng thuận xã hội. Trình bày
thực trạng đồng thuận xã hội nước ta hiện nay trên các lĩnh vực kinh tế, chính
trị, xã hội, tư tưởng. Công trình cũng đã đề xuất một số quan điểm, định
hướng, giải pháp thực hiện dân chủ, đại đoàn kết toàn dân tộc, đồng thuận xã
hội nước ta hiện nay.
Đỗ Lan Hiền, Khoan dung tôn giáo với dân chủ, đoàn kết và đồng thuận
xã hội – Trường hợp Việt Nam [45]. Về đồng thuận xã hội, tác giả cho rằng:
“là phương thức tập hợp lực lượng dựa trên những tiêu chí mà các giai cấp,
tầng lớp, các lực lượng xã hội dù có lợi ích khác nhau những vẫn có thể gắn


16

kết ở mức độ nhất định mà vẫn bảo tồn được những đặc thù riêng của mình,
không bị hòa tan, biến thành kẻ khác” [45, tr. 97].
Nguyễn Thị Lan, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với việc xây dựng đồng
thuận xã hội ở nước ta hiện nay [69]. Trong luận án, tác giả đã trình bày khái
niệm và sự vận động khái niệm đồng thuận xã hội từ cổ đại cho đến hiện đại,
các nhân tố ảnh hưởng đến xây dựng đồng thuận xã hội tại mỗi quốc gia dân
tộc. Vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong xây dựng đồng thuận xã hội
ở Việt Nam hiện nay.
Nguyễn Trần Bạt, Đồng thuận và đồng thuận xã hội [11], trong bài viết
này trên cơ sở làm rõ khái niệm, cơ sở hình thành, bản chất của đồng thuận,
đồng thuận xã hội, tác giả đã chỉ ra những nội dung cơ bản của đồng thuận xã
hội trong thế giới đương đại trên các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa. Bài
viết cũng làm sáng tỏ một số điều kiện để tăng cường đồng thuận xã hội ở các

đồng và cùng chung mục đích” [141, tr.26].
Hoàng Chí Bảo, Dân chủ, đoàn kết và đồng thuận xã hội trong phát triển
bền vững [10, tr. 426-444]. Trong bài viết, trên cơ sở làm rõ mối quan hệ giữa
văn hóa và phát triển bền vững, tác giả đã luận chứng cho quan điểm: dân chủ,
đoàn kết, đồng thuận – là những giá trị văn hóa của phát triển bền vững trong
giai đoạn hiện nay. Theo tác giả: “dân chủ, đoàn kết và đồng thuận là những
giá trị cơ bản của xã hội, là những động lực chủ yếu của phát triển, đồng thời
cũng là những tiêu chí không bao giờ được xem nhẹ, càng không thể lãng quên
trong đánh giá về tiến bộ xã hội” [10, tr.430]. Về mối quan hệ giữa dân chủ,
đoàn kết và đồng thuận xã hội, tác giả cho rằng: “Dân chủ là cơ sở, là điều kiện
và tiền đề của đoàn kết và đồng thuận xã hội. Chỉ khi nào dân chủ là thực chất
(chứ không phải hình thức, giả hiệu, mị dân – mà những biểu hiện này vẫn
thường thấy xuất hiện trong đời sống, nó đi liền với sự vi phạm dân chủ, đối
lập với dân chủ) thì khi đó, mới có đoàn kết thực sự, thực chất, mới tăng cường


18

được đồng thuận” [10, tr.442]. Ở Việt Nam hiện nay, theo tác giả, Đảng Cộng
sản Việt Nam cần thực hiện, phát huy dân chủ trên mọi lĩnh vực, phải làm cho
mọi chủ trường đường lối, chính sách hợp lòng dân, thuận ý dân, được dân ủng
hộ, tin tưởng như thế tất xây dựng được đồng thuận xã hội.
Đặng Hữu Toàn, Đoàn kết dân tộc trên cơ sở đồng thuận xã hội [134, tr.
445-456]. Trong bài viết, qua nhiều chứng cứ lịch sử tác giả đã cho rằng, lịch
sử Việt Nam cũng như lịch sử thế giới đều chứng minh rằng: “bất cứ một dân
tộc nào xây dựng được khối đại đoàn kết dân tộc trên cơ sở đồng thuận xã hội
đều chiến thắng không chỉ trong các cuộc chiến tranh chống xâm lược, bảo vệ
chủ quyền và độc lập dân tộc, mà cả trong hòa bình xây dựng đất nước” [134,
tr. 445]. Trong giai đoạn hiện nay, để xây dựng được đồng thuận xã hội cần
phải: xây dựng được một xã hội dân chủ (cao hơn phải là xã hội dân sự, xã

đều có mục đích chung là giải phóng con người, cho nên các tôn giáo đều đoàn
kết với nhau: “dù có hệ thống giáo lý, giáo luật và phương thức hành đạo khác
nhau nhưng mục tiêu, khát vọng chung của các tôn giáo là giải phóng con người
khỏi sự khổ ải, cầu mong một cuộc sống tốt đẹp ở thiên đàng. Với truyền thống
yêu nước, thương nòi và ý thức giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, các chức sắc và
tín đồ tôn giáo ở Việt Nam đã có sự chọn lọc, thích nghi hóa và hòa nhập những
giá trị đạo đức, văn hóa tốt đẹp của các tôn giáo cuộc sống” [136, tr.522].
Trần Tuấn Phong, Đoàn kết xã hội – nhìn từ góc độ truyền thống văn hóa [99,
tr. 483-494]. Trong bài viết, tác giả đã luận chứng cho quan điểm: truyền thống
văn hóa là một trong những cơ sở để gắn kết các cá nhân trong xã hội. Theo tác
giả: “Truyền thống văn hóa chính là nền tảng chung mà mọi người trong một cộng
đồng, một xã hội cùng chia sẻ... Trên cơ sở hòa nhập với truyền thống văn hóa,
con người hình thành những giá trị mới cũng như những nỗi ưu tư chung đối với
các vấn đề môi trường, xã hội và cuộc sống cộng đồng. Tất cả những cái chung đó
là cơ sở quan trọng nhất để liên kết con người với nhau” [99, tr.494].


20

Cù Xuân Trường, Chữ “đồng” trong tinh thần Việt [138], trong bài viết
này, tác giả đã làm rõ truyền thống đoàn kết, đồng thuận của dân tộc ta từ
truyền thuyết “Âu cơ - Lạc Long Quân”. Đặc biệt, sự thể hiện và phát triển tư
tưởng đoàn kết, đồng thuận của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Theo tác giả: “chữ
đồng trong tư tưởng Hồ Chí Minh là một triết lý tư duy, vừa hội tụ các giá trị
truyền thống vừa mang giá trị hiện đại”. Trong giai đoạn hiện nay, theo tác
giả cần phải tiếp tục phát huy những điểm tương đồng để xây dựng khối đại
đoàn kết toàn dân tộc, nhất là với một bộ phận bà con xa xứ.
Tương Lai, Vấn đề ý thức hệ và đồng thuận xã hội [68], trong bài viết này
tác giả đã chỉ ra những sai lầm, hạn chế nhất định trong quan điểm tuyệt đối
hóa sự khác nhau về ý thức hệ dẫn tới những mâu thuẫn, bất đồng diễn ra ở

lĩnh vực kinh tế, muốn có đồng thuận xã hội phải thực hiện chính sách phân
phối một cách hài hòa; trên lĩnh vực chính trị, phải thực hiện dân chủ, mọi
đường lối, chính sách phải phù hợp với ý chí, nguyện vọng của đông đảo nhân
dân; trên lĩnh vực tư tưởng – văn hóa, phải nâng cao dân trí, phát huy truyền
thống đoàn kết, nhân ái, khoan dung…
1.3.

Những công trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa khoan dung
và đồng thuận xã hội

Trong các công trình nghiên cứu về khoan dung, đồng thuận xã hội, một số
công trình bước đầu cũng đã chỉ ra mối quan hệ nhân - quả giữa khoan dung
và đồng thuận xã hội; coi thực hiện khoan dung là một biện pháp để xây dựng
đồng thuận xã hội.
Nguyễn Thị Phương Mai, Tư tưởng khoan dung và ý nghĩa hiện thời của
nó [83], trong công trình này tác giả đã giành một phần để trình bày mối quan
hệ giữa thực hiện khoan dung nhằm tăng cường đồng thuận xã hội (từ trang
127-129). Trong đó, tác giả đã luận chứng cho quan điểm thực hiện khoan


22

dung là một nhân tố xây dựng đồng thuận xã hội. Bởi, khoan dung là sự tôn
trọng các khác biệt, trong thế giới đa dạng như hiện nay, nếu các khác biệt
được tôn trọng thì các lực lượng xã hội sẽ dễ dàng đi đến tôn trọng nhau và
thực hiện mục tiêu chung hay thiết lập sự đồng thuận xã hội.
Nguyễn Thị Lan, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với việc xây dựng đồng
thuận xã hội ở nước ta hiện nay [69], trong công trình này, tác giả trình bày
truyền thống khoan dung nhằm xây dựng đồng thuận xã hội của dân tộc Việt
Nam. Tác giả cho rằng, khoan dung trong lịch sử Việt Nam thể hiện trên các

giới và Việt Nam, tác giả đã đưa ra những nhận định quan trọng về mối quan
hệ giữa khoan dung và đoàn kết xã hội: “khoan dung là sản phẩm của nhân
loại trong quá trình nhận thức cuộc sống và phục vụ cuộc sống. Lòng vị tha
vốn có của con người, của tôn giáo là nguồn mạch dồi dào nuôi dưỡng hành
vi khoan dung và đến lượt mình, chính hành vi khoan dung này đã trở thành
nhân tố quan trọng góp phần đoàn kết xã hội. Và, đoàn kết xã hội là cơ sở để
kiến tạo một nền hòa bình và giữ vững ổn định xã hội ở mọi quốc gia và vùng
lãnh thổ trên thế giới [35, tr. 474].
Song Thành, Đồng thuận xã hội và tinh thần khoan dung Hồ Chí Minh, một
nhân tố để xây dựng đại đoàn kết toàn dân tộc [114], trong bài viết, tác giả đã
làm rõ đồng thuận xã hội chính là một nội dung mới của đoàn kết dân tộc. Tác
giả cũng phân tích quá trình thực hiện đồng thuận xã hội của Đảng ta, trong đấu
tranh giải phóng dân tộc thì lấy mục tiêu giải phóng dân tộc làm điểm tương
đồng, trong thời kỳ đổi mới thì lấy “sự tôn trọng lợi ích chính đáng” mỗi thành
viên làm điểm tương đồng. Khoan dung trong tư tưởng Hồ Chí Minh trước hết là
tôn trọng các khác biệt. Chính nhờ thực hiện chủ trương tôn trọng các khác biệt
(cả về đạo đức, tôn giáo, văn hóa, chính kiến…) mà Người đã đoàn kết được dân
tộc. Trong giai đoạn hiện nay, theo tác giả, bồi dưỡng tinh thần khoan dung Hồ
Chí Minh là một nhân tố góp phần xây dựng đồng thuận xã hội ở nước ta.


24

Nguyễn Tấn Hưng, Kế thừa và phát huy tinh thần khoan dung Hồ Chí
Minh trong xây dựng đồng thuận xã hội và đại đoàn kết toàn dân tộc [59],
trong bài viết này tác giả cũng đã chỉ ra mối quan hệ giữa phát huy tinh thần
khoan dung Hồ Chí Minh với xây dựng đoàn kết, đồng thuận xã hội ở nước
ta. Theo tác giả, biểu hiện khoan dung trong tư tưởng Hồ Chí Minh trên nhiều
phương diện như: lòng yêu thương con người, tôn trọng sự khác biệt, sự tha
thứ cho những người mắc lỗi lầm biết ăn năn hối cải…Chính nhờ tinh thần

nghiên cứu của luận án.
Tuy nhiên, trong các công trình kể trên, chưa công trình nào nghiên cứu
khoan dung, đồng thuận xã hội; tác động của khoan dung đến xây dựng đồng
thuận xã hội dưới phương diện chính trị - xã hội (thuộc chuyên ngành Chủ
nghĩa xã hội khoa học). Đây là hướng mới mà luận án sẽ triển khai làm sáng tỏ.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status