Phát huy truyền thống khoan dung nhằm tăng cường đồng thuận xã hội ở Việt Nam hiện nay (tóm tắt) - Pdf 19

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong sự phát triển của mọi quốc gia, dân tộc đều phải kế thừa các truyền
thống tốt đẹp mà thế hệ trước để lại nhằm vươn tới trình độ mới cao hơn. Từ
lịch sử dựng nước và giữ nước hàng nghìn năm, ông cha ta đã rút ra nhiều bài
học quý báu, cả trong đối nội và đối ngoại. Một trong những bài học đó là thực
hiện khoan dung để tăng cường đồng thuận xã hội.
Trong giai đoạn đổi mới và hội nhập quốc tế, do chú ý phát huy truyền
thống khoan dung, tăng cường đồng thuận xã hội nên sự nghiệp cách mạng nước
ta đã đạt những thành tựu to lớn: chính trị ổn định, an ninh - quốc phòng được
giữ vững, các vấn đề văn hóa – xã hội bức xúc từng bước được giải quyết, khối
đại đoàn kết toàn dân tộc không ngừng được mở rộng, củng cố vững chắc, đi
vào chiều sâu…
Tuy nhiên, bên cạnh đó, ở nước ta hiện nay cũng đang đặt ra một số vấn đề
ảnh hưởng trái chiều đến xây dựng đồng thuận xã hội như: sự phát triển đời sống
kinh tế - xã hội, dân trí tương đối cao làm nảy sinh hoặc sâu sắc thêm những mâu
thuẫn, khác biệt trong quan hệ dân tộc, tôn giáo; những hạn chế trong quản lý xã
hội dẫn tới trường hợp một bộ phận quan chức tham nhũng, các cá nhân làm ăn
phi pháp giàu lên nhanh chóng trong khi đời sống của bộ phận lớn những người
lao động còn vô cùng khó khăn; sự phân hóa thu nhập, trình độ phát triển giữa các
giai cấp, dân tộc, vùng miền ngày càng doãng ra làm cho những mâu thuẫn, bất
đồng trong xã hội ngày càng gia tăng….
Những yếu tố trên đang tác động bất lợi đến quy tụ sức mạnh toàn dân tộc để
thúc đẩy quá trình đổi mới tiến lên. Trong bối cảnh đó, phát huy truyền thống
khoan dung nhằm tăng cường đồng thuận xã hội càng trở thành vấn đề có tính chất
quyết định đối với sự thành công của công cuộc đổi mới cả hiện tại và tương lai.
Với những lý do đó, chúng tôi chọn vấn đề: “Phát huy truyền thống khoan dung
1
nhằm tăng cường đồng thuận xã hội ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài cho luận
án Tiến sĩ chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học của mình.
2. Mục tiêu, nhiệm vụ

về khoan dung, đồng thuận xã hội; vai trò của khoan dung đối với xây dựng
đồng thuận xã hội; từ đó, tổng kết thực tiễn lịch sử dân tộc trong việc phát huy
truyền thống khoan dung nhằm tăng cường đồng thuận xã hội trong giai đoạn
cách mạng hiện nay.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn: luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc
nghiên cứu, giảng dạy các nội dung có liên quan mà luận án đã trình bày; góp
phần cung cấp cơ sở lý luận cho các nhà quản lý, hoạch định chủ trương, chính
sách phát huy truyền thống khoan dung nhằm tăng cường đồng thuận xã hội ở
nước ta hiện nay.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các công trình khoa học của tác giả
đã công bố có liên quan đến luận án, danh mục tài liệu tham khảo, luận án gồm
4 chương, 11 tiết.
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Luận án đã tổng quan kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học tiêu
biểu gần đây có liên quan trực tiếp đến đề tài như:
1.1. Những công trình nghiên cứu về khoan dung
Hajine Nakamura, Tinh thần khoan dung và sự giải thoát trong tư duy
người Ấn Độ, ; Nguyễn Dy Niên, 1995 – Năm
quốc tế về khoan dung, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 379-384; Nguyễn Thị
Phương Mai, Tư tưởng khoan dung và ý nghĩa hiện thời của nó, Luận án Tiến sĩ
triết học, Hà Nội, 2012; Huỳnh Khái Vinh và Nguyễn Thanh Tuấn, Bàn về khoan
3
dung trong văn hóa, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004; Đỗ Lan Hiền,
Khoan dung tôn giáo với dân chủ, đoàn kết và đồng thuận xã hội – Trường hợp
Việt Nam, Nxb. Chính trị - Hành chính, 2011; Giang Văn Toàn, Khoan dung một
cách giáo dục, Nxb. Lao động; Lương Mỹ Vân, Tư tưởng khoan dung trong triết
học Khai sáng Pháp, Tạp chí Triết học, số 4, tr.57-62; Trần Nguyên Việt, Tư
tưởng khoan dung của Khổng Tử và sự thể hiện nó ở Nguyễn Trãi, Tạp chí Triết

dung, đồng thuận xã hội ở nước ta hiện nay; những thành tựu, hạn chế, nguyên
nhân của thực trạng trên.
Ba là, các công trình nghiên cứu cũng đã đề xuất một số giải pháp có tính
khả thi nhằm nâng cao chất lượng thực hành khoan dung, đồng thuận xã hội ở
nước ta hiện nay.
Những kết quả nghiên cứu này có giá trị tham khảo tốt cho tác giả trong
quá trình thực hiện luận án. Chúng tôi trân trọng kế thừa, tiếp thu có chọn lọc
những kết quả trên để phục vụ cho việc thực hiện luận án của mình. Tuy nhiên,
trong các công trình kể trên, chưa công trình nào nghiên cứu khoan dung, đồng
thuận xã hội; tác động của khoan dung đến xây dựng đồng thuận xã hội dưới
phương diện chính trị - xã hội (thuộc chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học).
Đây là hướng mới mà luận án sẽ triển khai làm sáng tỏ.
Chương 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA
PHÁT HUY TRUYỀN THỐNG KHOAN DUNG NHẰM TĂNG CƯỜNG
ĐỒNG THUẬN XÃ HỘI
2.1. Cơ sở lý luận phát huy truyền thống khoan dung nhằm tăng
cường đồng thuận xã hội
2.1.1. Khoan dung - quan niệm và sự biểu hiện của nó trong lịch sử tư
tưởng
5
2.1.1.1. Quan niệm về khoan dung
Khoan dung, trong tiếng Anh là: tolerance, tiếng Pháp: tolérance, tiếng Đức:
toleranz. Các từ này có nguồn gốc từ tiếng Latinh tolerantia, có nghĩa ban đầu là
sự cam chịu, chịu đựng, dung thứ, bền bỉ. Đến giai đoạn cận đại, khoan dung
mang những nội hàm mới như cho phép, chấp nhận những niềm tin khác nhau,
nhất là niềm tin tôn giáo.
Ở Việt Nam, khái niệm khoan dung có nguồn gốc từ tiếng Hán. Trong một số
từ điển, khái niệm này chủ yếu được giải thích đó là rộng lòng bao dung, tha
thứ.

Trong triết học Trung Quốc cổ đại, khoan dung được coi như một hình thức
cai trị: “khoan tắc đắc chúng” (khoan – tất được lòng dân chúng), “khoan mãnh
tương tế” (cai trị xã hội kết hợp giữa khoan dung và bạo lực).
Ở Ấn Độ, khoan dung được biểu hiện ở sự tiếp nhận hòa bình các văn hóa, tôn
giáo, tín ngưỡng bên ngoài (người Ấn Độ bản địa Dravidien đã có sự kết hợp với
văn hóa của bộ tộc xâm lược là Aryen tạo thành văn hóa Indo-Aryen, tiếp nhận
Hồi giáo thời trung cổ, tiếp thu văn minh phương Tây giai đoạn cận đại ).
Khoan dung trong lịch sử tư tưởng Việt Nam: Ở cấp độ tâm lý, đó là giá trị
đạo đức, phản ánh tình cảm yêu thương, gắn bó giữa các cá nhân trong cộng đồng;
sự tôn trọng các đặc điểm, khác biệt của nhau; sự tha thứ cho những người mắc lỗi
lầm nhưng biết ăn năn hối cải. Ở cấp độ lý luận, khoan dung được coi là một hình
thức cai trị nhân từ của nhà cầm quyền với dân chúng; một biện pháp để xây
dựng đoàn kết dân tộc; một phương thức để xác lập hòa bình; một cơ chế phát
triển nền văn hóa dân tộc…
Từ thế kỷ X, tư tưởng khoan dung ở Việt Nam đã mang nội hàm chính trị, đó
là hình thức cai trị nhân từ và hiệu quả: “chính sự cốt chuộng khoan dung, giản
dị”. Sang giai đoạn nhà Trần, tư tưởng cai trị này được thể hiện ở quan điểm:
7
“Khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó mới là thượng sách giữ nước”.
Trong tư tưởng của Nguyễn Trãi là thái độ đối xử nhân đạo với quân giặc khi
chúng đã quy hàng. Trong quan điểm chính trị của Nguyễn Đức Đạt: “Trị dân
nên khoan, đốc quan nên nghiêm”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kế thừa và phát huy truyền thống khoan dung của
dân tộc lên một tầm cao mới; gắn khoan dung với giải phóng dân tộc, giải phóng
con người. N
Từ sự khảo cứu trên đây cho thấy, khoan dung trong lịch sử tư tưởng Việt
Nam thể hiện trên những nội dung chính sau: (i) Khoan dung là một hình thức cai
trị mang tính nhân từ của nhà cầm quyền đối với dân chúng; (ii) Sự tha thứ cho
những người mắc lỗi lầm nhưng biết ăn năn, hối cải;. (iii) Sự chấp nhận, tôn trọng
những khác biệt về dân tộc, tôn giáo, văn hóa giữa các cộng đồng trong phạm vi

Đến thời kỳ Khai sáng, J.J. Rousseau, triết gia Pháp là một trong những người
đầu tiên đưa ra lý thuyết duy vật về đồng thuận xã hội thông qua tác phẩm Khế
ước xã hội. Theo ông, xã hội đồng thuận là được xây dựng trên cơ sở một khế
ước, trong đó, tất cả các thành viên đều tự nguyện thực hiện điều mình đã ký kết.
C.Mác và Ph.Ăngghen mặc dù chưa đề cập đến khái niệm đồng thuận xã hội
nhưng trong tư tưởng của mình, các ông cũng đã trình bày một số nội dung của
thuật ngữ này, nhất là: sự tương đồng của giai cấp công nhân với nhân dân các
dân tộc bị áp bức trong mục tiêu xây dựng chủ nghĩa cộng sản. Đây chính là cơ
sở để xây dựng tình đoàn kết của giai cấp công nhân và nhân dân các dân tộc
trong cuộc đấu tranh chống giai cấp tư sản, xây dựng một xã hội mới tốt đẹp
hơn.
Trong lịch sử tư tưởng phương Đông, mặc dù không có khái niệm “đồng
thuận xã hội” nhưng có các khái niệm gần với khái niệm này là quan điểm
“Thuận thiên ứng nhân” của Nho giáo, “Thượng đồng” của Mặc giáo.
9
Trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, thời kỳ phong kiến chưa có khái niệm đồng
thuận xã hội nhưng đã có những khái niệm gần với nó là: đồng lòng, đồng tâm,
đoàn kết
1
.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, mặc dù Người chưa sử dụng khái niệm đồng
thuận xã hội nhưng chữ “đồng” được sử dụng khá phổ biến như: “đồng tâm”,
“đồng sức”, “đồng lòng”… Người coi đó là động lực để giành độc lập dân tộc.
Từ sự phân tích trên cho thấy, trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, mặc dù chưa
có khái niệm “đồng thuận xã hội” nhưng đã có những khái niệm tương đương,
phản ánh những nội dung như đồng thuận xã hội hiện nay.
2.1.3. Mối quan hệ giữa khoan dung và đồng thuận xã hội
2.1.3.1. Khoan dung, đồng thuận xã hội đều là nhu cầu khách quan của sự
tồn tại và phát triển xã hội
- Xã hội loài người là sự thống nhất của nhiều bộ phận, mỗi bộ phận có đặc

- Khoan dung là sự tha thứ với những người đã từng mắc lỗi lầm nhưng biết ăn
năn, hối cải nhằm cảm hóa, lôi kéo họ vào sự nghiệp chung của đất nước.
- Trong quan hệ quốc tế, các dân tộc dù khác nhau về trình độ phát triển, thể
chế chính trị, bản sắc văn hóa…nhưng mục tiêu cuối cùng đều là: hòa bình, độc
lập, phát triển. Dân tộc này tôn trọng, chấp nhận những lợi ích chính đáng, đặc
thù văn hóa của dân tộc khác đó chính là khoan dung. Các dân tộc chấp nhận sự
đa dạng cùng tồn tại, xây dựng nền hòa bình thế giới là đồng thuận – đồng thuận
cả về mục tiêu và phương thức thực hiện.
2.1.3.3. Xã hội đồng thuận là môi trường thuận lợi để thực hiện khoan dung,
nâng chất lượng khoan dung lên tầm cao mới
- Đồng thuận xã hội là sự phản ánh những lợi ích cơ bản của các bộ phận khác
nhau đã được giải quyết một cách hài hòa. Do vậy, làm cho các bộ phận cùng
hướng tới mục tiêu chung, tôn trọng, chấp nhận khác biệt. Xã hội đồng thuận
không chỉ làm các bộ phận khác nhau chấp nhận, tôn trọng khác biệt mà cao hơn
còn là sự học hỏi, tiếp thu các giá trị lẫn nhau.
11
- Con đường đi tới đồng thuận thường thông qua sự bàn bạc, thảo luận dân
chủ rồi sau đó đi đến thống nhất, đồng ý, nhất trí. Quá trình bàn bạc, thảo luận
thực chất là quá trình đối thoại, qua đối thoại, các bên khác nhau đã thấu hiểu,
chấp nhận những khác biệt của nhau để cùng hướng tới một cái chung nào đó.
- Quan hệ giữa các bộ phận cấu thành xã hội với xã hội là quan hệ bộ phận –
hệ thống (cái hệ thống tôn trọng cái bộ phận; mặt khác, mỗi cái bộ phận cũng phải
tôn trọng bộ phận khác và tôn trọng những nhu cầu, lợi ích chung của cả hệ
thống). Trong xã hội, đó chính là sự thống nhất và hòa hợp xã hội. Xã hội đồng
thuận chứa đựng trong đó tinh thần khoan dung; thực hiện khoan dung tạo điều
kiện thuận lợi để xây dựng đồng thuận xã hội.
2.2. Cơ sở thực tiễn phát huy truyền thống khoan dung nhằm tăng
cường đồng thuận xã hội trong lịch sử Việt Nam
2.2.1. Những nhân tố khách quan tác động đến sự hình thành truyền
thống khoan dung, đồng thuận xã hội trong lịch sử Việt Nam

các dân tộc, tôn giáo trong nước
Trong quan hệ dân tộc, tinh thần khoan dung được thể hiện trên hai phương
diện chính: thứ nhất, Nhà nước tôn trọng lợi ích, bản sắc văn hóa của các dân
tộc; thứ hai, cộng đồng các dân tộc không phân biệt quy mô (lớn - nhỏ), trình độ
phát triển kinh tế - xã hội (cao – thấp) tôn trọng lẫn nhau.
Trong quan hệ tôn giáo, khoan dung tôn giáo được thể hiện trên hai phương
diện chính: một là, nhà nước (chủ thể cầm quyền) tôn trọng các tôn giáo, quyền
tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân; hai là, các tôn giáo, đồng bào theo các
tôn giáo khác nhau tôn trọng niềm tin của nhau, cùng nhau đoàn kết xây dựng
đất nước.
2.2.1.4. Truyền thống khoan dung trong việc xử lý mối quan hệ với kẻ thù xâm
lược sau kết thúc chiến tranh
13
Do phải thường xuyên chống giặc ngoại xâm, giặc ngoại xâm thường mạnh
hơn chúng ta, do vậy sau khi kết thức chiến tranh, các nhà cầm quyền thường sử
dụng linh hoạt các hình thức để vừa giữ được hòa bình, vừa bảo đảm độc lập, chủ
quyền dân tộc. Biểu hiện cụ thể là: sự đối xử nhân đạo với tù binh, hàng binh; thiết
lập quan hệ ngoại giao hòa bình sau khi kết thúc chiến tranh
2.2.1.5. Truyền thống khoan dung nhằm tăng cường đồng thuận xã hội trong
tiếp thu các tư tưởng, văn hóa tiến bộ bên ngoài
Tính khoan dung trên lĩnh vực tư tưởng thể hiện: người Việt tiếp nhận hòa
bình các tư tưởng tiến bộ bên ngoài. Sau khi được tiếp nhận, các tư tưởng cùng
đóng góp, đồng hành, cố kết dân tộc thành một khối, làm cho các thành viên
trong cộng đồng cùng đồng thuận, hướng về một mục tiêu đó là xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc. Trong lịch sử, Việt Nam đã tiếp nhận hòa bình các tư tưởng từ: Ấn
Độ, Trung Quốc, Phương Tây tất cả các tư tưởng được tiếp nhận đều trở thành
một bộ phận trong nền văn hóa, đồng hành cùng dân tộc. Những người tin theo
các niềm tin khác nhau tôn trọng, không bài bác cực đoạn hay xung đột lẫn
nhau; lấy lợi ích dân tộc là điểm tương đồng tối cao để cùng nhau đoàn kết xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Nhà nước phải thực hiện chính sách “khoan thư sức dân” (miễn giảm thuế khóa,
hỗ trợ tư liệu sản xuất cho những gia đình bị nạn); hai, cộng đồng bằng các hình
thức khác nhau chia sẻ, giúp đỡ đồng bào bị nạn vượt qua những khó khăn do
thiên tai – thực hiện khoan dung (cả nhà nước và cộng đồng). (ii) Điều kiện lịch
sử: cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc đã kết thúc gần 40 năm, nhưng những
hậu quả của nó để lại còn rất nặng nề. Nhu cầu hòa giải, hòa hợp dân tộc để
cùng nhau xây dựng đất nước vẫn là một thực tế khách quan của đất nước hiện
15
nay. (iii) Hiện nay, đất nước ta có nhiều dân tộc, tôn giáo, tầng lớp, giai cấp với
đặc điểm, lợi ích, nhu cầu khác nhau. Tính đa dạng về dân tộc, tôn giáo, giai cấp
đòi hỏi tất yếu phải thực hành khoan dung (khoan dung cả ở đường lối, chính sách
của Đảng, Nhà nước, cả ở ứng xử của mỗi cộng đồng người). (iv) Tính đặc thù về
sở hữu và thành phần kinh tế. Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, do sự
phát triển đa dạng của lực lượng sản xuất, ở nước ta tồn tại nhiều loại hình sở
hữu, thành phần kinh tế khác nhau. Mặc dù đặc điểm, tính chất, lợi ích mỗi loại
hình sở hữu, thành phần kinh tế là không hoàn toàn đồng nhất, cá biệt có những
hình thức đối lập nhau; nhưng, chúng đều là các bộ phận cấu thành nền kinh tế
Việt Nam, bình đẳng trước pháp luật.
3.2. Thực trạng phát huy truyền thống khoan dung nhằm tăng cường
đồng thuận xã hội trên một số lĩnh vực chủ yếu trong thời kỳ đổi mới
3.2.1. Chính sách “khoan thư sức dân” nhằm tăng cường đồng thuận giữa
nhà nước và nhân dân
Chính sách thuế và phí: trong thời kỳ đổi mới, chính sách thuế và phí của
nước ta được thực hiện theo hướng ít huy động sức dân: miễn giảm thuế nông
nghiệp, thủy lợi phí cho nông dân; giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế giá trị
gia tăng, thuế thu nhập cá nhân
Hệ thống chính sách an sinh xã hội: Đảng, Nhà nước quan tâm thực hiện
chính sách xóa đói, giảm nghèo; đa dạng hóa các loại hình bảo hiểm và đối
tượng tham gia; trợ giúp cho các đối tượng có hoàn cảnh khó khăn như người
già không nơi nương tựa, người khuyết tật, trẻ mồ côi

(i) Chủ trương nhất quán của Đảng và Nhà nước ta là tôn trọng quyền tự do tín
ngưỡng, tôn giáo và không tôn giáo của nhân dân; các tôn giáo đều bình đẳng
trước pháp luật. (ii) Công tác tôn giáo có vai trò quan trọng trong xây dựng khối
đại đoàn kết toàn dân tộc. (iii) Lấy mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công
bằng, văn minh làm điểm tương đồng để để xây dựng đại đoàn kết dân tộc.
17
Biểu hiện sự đồng thuận của các tổ chức tôn giáo, giáo dân với đường lối,
chính sách của Đảng, Nhà nước: (i) Các tổ chức tôn giáo gắn phương hướng hành
đạo của mình với thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước. (ii)
Các tổ chức tôn giáo vận động bà con giáo dân, bà con giáo dân tự giác tham gia
thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước. (iii) Ngoài đường lối,
chính sách của Đảng, Nhà nước, tinh thần khoan dung còn được thể hiện trong
cộng đồng những người có tôn giáo và không tôn giáo, giữa những tôn giáo khác
nhau - đó là sự hợp tác, giúp đỡ, tôn trọng lẫn nhau.
Như vậy, thực hiện khoan dung nhằm tăng cường đồng thuận xã hội trên lĩnh
vực tín ngưỡng, tôn giáo vừa có sự kế thừa những truyền thống tốt đẹp của dân
tộc; vừa có sự phát triển cho phù hợp với đặc điểm, yêu cầu của tình hình mới.
Điểm nổi bật đó là, sự tôn trọng, quyền bình đẳng tôn giáo đã được luật hóa, cao
nhất là được quy định trong Hiến pháp, được thể chế hóa trong Pháp lệnh Tín
ngưỡng, tôn giáo.
3.2.4. Phát huy truyền thống khoan dung nhằm tăng cường đồng thuận xã
hội trong quan hệ quốc tế (với các nước, các tổ chức quốc tế)
Chính sách khoan dung thể hiện trên cả hai phương diện: một là, thực hiện
chủ trương “gác lại quá khứ, hướng tới tương lai” với những quốc gia, lực lượng
“có vấn đề về lịch sử”; hai là, trong hội nhập quốc tế, tôn trọng các đặc điểm,
bản sắc, lợi ích chính đáng của các quốc gia, dân tộc khác. Chính sách khoan
dung đó với mục tiêu cùng nhau hướng đến hòa bình, độc lập và phát triển cho
mỗi quốc gia và cho nhân loại – đó chính là biểu hiện của sự đồng thuận trong
quan hệ quốc tế.
So với lịch sử, việc phát huy truyền thống khoan dung nhằm tăng cường

PHÁT HUY TRUYỀN THỐNG KHOAN DUNG NHẰM TĂNG CƯỜNG
ĐỒNG THUẬN XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
19
4.1. Một số quan điểm cơ bản phát huy truyền thống khoan dung
nhằm tăng cường đồng thuận xã hội ở Việt Nam hiện nay
Một là, kiên quyết bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, lợi ích quốc gia
khi thực hiện chính sách khoan dung nhằm tăng cường đồng thuận trong quan hệ
quốc tế.
Hai là, giữ vững ổn định chính trị, định hướng xã hội chủ nghĩa trong
thực hiện khoan dung nhằm tăng cường đồng thuận xã hội.
Ba là, phát huy truyền thống khoan dung nhằm tăng cường đồng thuận xã
hội với mục tiêu phát huy tối đa sức mạnh của cả dân tộc, sớm đưa nước ta trở
thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.
Bốn là, phát huy truyền thống khoan dung nhằm tăng cường đồng thuận
xã hội phải được xem là một nhân tố trong “sức mạnh mềm” tạo nên sức mạnh
tổng hợp Việt Nam.
Năm là, quán triệt những vấn đề có tính nguyên tắc trong vận dụng và phát
huy truyền thống khoan dung nhằm tăng cường đồng thuận xã hội ở nước ta hiện
nay: (i) Cần thấy rằng, nguyên nhân sâu xa của cả khoan dung, đồng thuận xã hội
từ các quan hệ lợi ích. (ii) Khoan dung, đồng thuận không phải là những giá trị
nhất thành bất biến, mà nó cần được nhận thức, vận dụng, phát triển theo sự phát
triển của điều kiện kinh tế - xã hội. (iii) Trong xã hội còn tồn tại các giai cấp, dân
tộc, tôn giáo, nhóm lợi ích khác nhau thì sẽ không bao giờ có đồng thuận trên mọi
lĩnh vực, và càng không có đồng thuận tuyệt đối. (iv) Phát huy truyền thống
khoan dung nhằm tăng cường đồng thuận xã hội là một quá trình, do đó, không
thể nôn nóng, vội vàng mà cần bình tĩnh thực hiện nguyên nguyên tắc “cầu đồng,
tồn dị”, lấy lợi ích tối cao của dân tộc làm điểm tương đồng lớn nhất để đoàn kết,
thống nhất dân tộc. (v) Phát huy truyền thống khoan dung, tăng cường đồng thuận
xã hội xuất phát từ mỗi người dân, mỗi giai cấp, dân tộc, tôn giáo, cộng đồng dân
cư. Nhưng, quan trọng nhất, quyết định nhất là từ đường lối, chính sách của

21
lòng khoan dung Hồ Chí Minh cũng có giá trị tích cực trong việc hình thành đạo
đức khoan dung trong cán bộ, đảng viên và nhân dân.
4.2.3. Nhóm giải pháp hoàn thiện cơ chế, chính sách phát huy truyền
thống khoan dung nhằm tăng cường đồng thuận xã hội ở nước ta hiện nay
Một là, tiếp tục thực hiện, từng bước hoàn thiện hệ thống chính sách thuế,
phí và an sinh xã hội. Các giải pháp cụ thể: (i) Tiếp tục thực hiện miễn giảm
thuế, phí trong lĩnh vực nông nghiệp, nông dân, nông thôn; cần nghiên cứu mở
rộng giảm thuế và phí cho các doanh nghiệp đầu tư sản xuất ở nông thôn. (ii)
Điều chỉnh chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp cho phù hợp. (iii) Tạo sự công
bằng trong thực hiện chính sách thuế và phí, ngăn chặn có hiệu quả việc trốn
thuế của các cá nhân, doanh nghiệp. (iv) Trong thực hiện chính sách an sinh xã
hội, cần quan tâm chú ý đến những nhóm yếu thế: công nhân, nông dân, người
dân tộc thiểu số, những người mất tư liệu sản xuất do bị hồi đất đai, giải phóng
mặt bằng phục vụ cho công nghiệp hóa, đô thị thị hóa…
Hai là, đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa. Một số giải pháp cụ thể: (i) Xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật,
nhất là những luật quy định về các quyền tự do, dân chủ, bình đẳng của công
dân; các quyền về dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo. (ii) Cần nghiên cứu bổ sung
Nghị quyết 36 của Bộ Chính trị về người Việt Nam ở nước ngoài và các văn bản
hướng dẫn thực hiện. Trong đó, thừa nhận những quyền bình đẳng rộng rãi hơn
của người Việt Nam ở nước ngoài với đồng bào trong nước. (iii) Nâng cao ý
thức pháp luật để các cơ quan nhà nước và mọi công dân tự giác thực hiện pháp
luật, qua đó, tự giác thực hiện khoan dung, xây dựng đồng thuận xã hội. (iv) Cần
mở rộng, đa dạng hóa các “kênh”, diễn đàn để người dân có thêm nhiều môi
trường, cơ hội để tranh luận, thảo luận, nhất là những vấn đề hệ trọng của đất
nước. (v) Cần thiết phải thể chế hóa nội dung các công ước quốc tế có liên quan
đến khoan dung mà nước ta đã phê chuẩn thành các chuẩn mực pháp lý để mọi
người dân, các cơ quan nhà nước biết và nghiêm túc thực hiện. (vi) Nghiên cứu
22

nhân loại.
Hai là, thực hiện khoan dung nhằm tăng cường đồng thuận xã hội là một
truyền thống của dân tộc Việt Nam. Trong lịch sử, các nhà cầm quyền đã không
ngừng thực hiện, phát huy truyền thống này, nhờ đó dân tộc đã đánh thắng giặc
ngoại xâm, chống thiên tai, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tính khách quan, phổ
biến, lặp lại của nó khiến ta có thể nhận thức: thực hiện khoan dung nhằm tăng
cường đồng thuận xã hội là vấn đề có tính quy luật của nước ta.
Ba là, ở nước ta hiện nay, sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa, hội nhập quốc tế đang đặt ra nhu cầu tất yếu phát huy sức mạnh tổng thể
của toàn dân tộc. Muốn vậy, phải tạo lập được sự đồng thuận xã hội, để làm
được việc đó, phát huy truyền thống khoan dung là một nhân tố quan trọng.
Bốn là, trong thời kỳ đổi mới, Đảng, Nhà nước và Nhân dân Việt Nam đã
không ngừng phát huy truyền thống khoan dung nhằm tăng cường đồng thuận
xã hội. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu cơ bản đã đạt được, còn một số
vấn đề đặt ra đòi hỏi tiếp tục được nghiên cứu, giải quyết.
Năm là, để phát huy truyền thống khoan dung nhằm tăng cường đồng
thuận xã hội ở Việt Nam hiện nay đòi hỏi phải thực hiện kiên trì, đồng bộ nhiều
giải pháp: từ nâng cao nhận thức đến đẩy mạnh tổ chức thực hiện; từ tuyên
truyền giáo dục, đến hoàn thiện các cơ chế, chính sách Trong quá trình đó,
phải kiên định những vấn đề có tính nguyên tắc như: bảo đảm độc lập, chủ
quyền, lợi ích quốc gia khi thực hiện khoan dung nhằm tăng cường đồng thuận
thuận xã hội trong quan hệ quốc tế; giữ vững ổn định chính trị - xã hội, mục tiêu
xã hội chủ nghĩa trong thực hiện khoan dung nhằm tăng cường đồng thuận xã
hội; phát huy truyền thống khoan dung nhằm tăng cường đồng thuận xã hội với
mục tiêu đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo
hướng hiện đại…
24


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status